Quản trị công ty niêm yết theo pháp luật việt nam - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN ĐĂNG HẢI

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN ĐĂNG HẢI

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 938.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Hồ Ngọc Hiển

2.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản trị công ty niêm yết ...................................... 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................................... 64
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM ................................................................................................................................... 66
3.1. Thực trạng nội dung pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam ......................... 66
3.2. Thực tiễn thi hành pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam ............................ 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................................. 113
CHƯƠNG 4. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY .............................................................................................................. 115
4.1. Các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay .............................................................................................................. 115
4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay........ 120
4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam
hiện nay .............................................................................................................................. 134
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 .................................................................................................. 148
KẾT LUẬN........................................................................................................................ 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BKS

: Ban kiểm soát

BGĐ

: Ban giám đốc

CTCP

: Kiểm soát viên

LDN 2014

: Luật Doanh nghiệp 2014

LCK 2006

: Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010)

Nghị định 71/2017/NĐ-CP

: Nghị định 71/2017/NĐ-CP về quản trị công ty đối
với công ty đại chúng

QTCT

: Quản trị công ty

QTCTNY

: Quản trị công ty niêm yết

SGDCK

: Sở Giao dịch Chứng khoán

Thông tư 95/2017/TT-BTC

: Thông tư 95/2017/TT-BTC hướng dẫn Nghị định

Hình 3.2. Quyền của cổ đông CTNY theo LDN 2014 ...............................................69
Hình 3.3. Mô hình QTCTNY .....................................................................................72
Hình 3.4. So sánh tỷ lệ doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch giữa khối CTNY và doanh
nghiệp không niêm yết ..............................................................................................98
Hình 3.5. Điểm trung bình của các quốc gia tham gia Thẻ điểm QTCT khu vực ASEAN
.................................................................................................................................100
Hình 3.6. CTNY đạt chuẩn công bố thông tin 2012 - 2017 ....................................107
Hình 3.7. Các trường hợp không đạt chuẩn công bố thông tin ..............................108


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ thế kỷ XIX, khi Hội đồng quản trị của công ty có thể đưa ra những quyết
định mà không cần có sự đồng ý của tất cả các cổ đông trong công ty và hậu quả là
sự phá sản của nhiều công ty, hoạt động quản trị công ty đã lần đầu tiên được quan
tâm. Câu chuyện sụp đổ Phố Wall vào năm 1929 là một minh chứng rõ nét nhất, khởi
đầu cho các cuộc tranh luận bất tận về vai trò của cổ đông và của người quản lý, về
quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Xu hướng phát triển cũng như toàn cầu hóa làm
xuất hiện những công ty quy mô lớn mà trong đó những người chủ sở hữu công ty
thường không phải là các nhà quản lý, điều này khiến cho việc kiểm soát càng trở nên
khó khăn hơn. Những cuộc xung đột lợi ích xảy ra khi các cổ đông – chủ sở hữu nhận
ra rằng những người quản lý – người đại diện không thực hiện tối đa hóa lợi ích của
cổ đông mà chỉ tập trung gia tăng lợi nhuận cho chính bản thân họ. Tiếp đó, cuộc
khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 hay hàng loạt các vụ sụp đổ công ty đầu thế
kỷ XXI đã gây tổn thất lớn về giá trị tài sản cho cổ đông có nguyên nhân xuất phát từ
các hành vi gian lận, sự không tuân thủ và những bất cẩn về mặt quản lý càng làm
nổi bật rõ hơn tầm quan trọng của quản trị công ty. Quản trị công ty sau đó đã trở
thành một chủ đề giành được nhiều sự quan tâm trên khắp thế giới, của các định chế
tài chính hay các tổ chức quốc tế.
Đối với các công ty niêm yết, vấn đề quản trị công ty đóng vai trò đặc biệt

vai trò thực sự của Ban Kiểm soát, tính minh bạch, công khai… vẫn chưa được hiểu
biết đầy đủ và áp dụng trên thực tế. Một trong những hệ quả nổi bật của vấn đề này
chính là xuất hiện hàng loạt các vụ bê bối trong các công ty niêm yết như: Bông Bạch
Tuyết, Nhựa Tân Hóa, Dược Viễn Đông, Chứng Khoán Hà Thành [100], vụ án Bầu
Kiên liên quan tới Ngân hàng Á Châu [72] … (xem thêm tại Phụ lục 01)
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng này nhưng một vấn đề không nhỏ
đó là sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật. Bất chấp việc Việt Nam đã cho
ra đời hàng loạt những bộ luật mới để chuẩn bị cho giai đoạn chính thức hội nhập
kinh tế quốc tế, nhưng các văn bản pháp luật về quản trị công ty vẫn ít thay đổi, thậm
chí có một số điểm không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trong hoạt động của
công ty. Một khi luật và các văn bản dưới luật còn nhiều kẽ hở, chưa thể ngăn chặn
triệt để các hoạt động mờ ám, thao túng, xâm phạm lợi ích cổ đông, tình hình quản
trị công ty niêm yết ở Việt Nam sẽ không thể cải thiện được. Những quy định pháp
luật cụ thể, chặt chẽ và chi tiết hơn về quyền lợi cổ đông, về Đại hội đồng cổ đông,

2


Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, về vấn đề ngăn ngừa xung đột lợi ích, công bố
thông tin... sẽ tạo dựng một hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động quản trị công
ty, giúp công ty tránh được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình. Đây
chính là điều kiện tiên quyết để tạo ra một sự thay đổi có tính chiến lược về quản trị
công ty niêm yết ở Việt Nam trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Quản trị
công ty niêm yết theo pháp luật Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến
sĩ luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
đối với pháp luật QTCTNY ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm

và tình hình thực thi pháp luật QTCTNY ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu,
pháp luật của các quốc gia, đặc biệt là các Bộ quy tắc QTCT trên thế giới cũng được
tác giả quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở đó, rút ra những kết luận, kinh nghiệm cho
quá trình hoàn thiện pháp luật QTCTNY ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những khía cạnh sau:
Về lý luận, luận án nghiên cứu các quan điểm về QTCT, QTCTNY, pháp luật
QTCTNY hiện có trên thế giới, tập trung vào các quốc gia mà lý luận về QTCT, pháp
luật QTCT phát triển.
Về thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật QTCTNY ở
Việt Nam thông qua các quy định của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chứng
khoán. Bên cạnh đó, luận án có phân tích, bình luận một số quy định pháp luật của
Đức, Anh, Mỹ, Australia, Nhật Bản và Bộ nguyên tắc QTCT của OECD để rút ra các
bài học kinh nghiệm cần thiết cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở Việt
Nam.
Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu về pháp luật QTCTNY từ năm 2005
– thời điểm những quan niệm về QTCT dần được hình thành ở Việt Nam và xuất hiện
các văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh trực tiếp đến vấn đề QTCTNY.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được hình thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể

4


chế kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế. Cơ sở phương pháp luận của
luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả luận án đã áp dụng


các nội dung pháp luật cơ bản liên quan đến QTCTNY bao gồm các nhóm vấn đề
như: bảo vệ quyền cổ đông, mô hình QTCTNY, ngăn ngừa xung đột lợi ích, chế độ
báo cáo và công bố thông tin, giám sát và xử lý vi phạm. Cách phân tách này vừa
đảm bảo tính logic trong việc nhóm các vấn đề có nội dung liên quan, vừa đảm bảo
bao quát tất cả các nội dung của pháp luật QTCTNY.
Thứ ba, với việc nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật
QTCTNY và các xu hướng phát triển của pháp luật và thông lệ QTCTNY trên thế
giới, luận án đã làm sáng tỏ những cơ sở thực tiễn trong việc thiết lập chính sách đối
với hoạt động QTCTNY, làm phong phú tư duy lập pháp Việt Nam trong việc ban
hành quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động này. Đây là tiền đề quan trọng làm cơ
sở xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về QTCTNY trong tương lai ở Việt
Nam.
Thứ tư, luận án đã phân tích và đánh giá một cách hệ thống thực trạng pháp
luật QTCTNY ở Việt Nam, chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm trong các quy
định và cơ chế thực hiện các quy định đó. Trong quá trình phân tích, đánh giá, luận
án có so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các thông lệ quốc tế
để có được nhận định khách quan và khoa học.
Thứ năm, luận án đã đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học để hoàn thiện
pháp luật QTCTNY ở Việt Nam thông qua việc xác định rõ các yêu cầu đặt ra trong
việc hoàn thiện pháp luật QTCTNY cũng như đề xuất các giải pháp cụ thể trên cơ sở
giải quyết được những bất cập được phát hiện tại phần nghiên cứu thực trạng pháp
luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Cho đến thời điểm hiện tại, luận án “Quản trị công ty niêm yết theo pháp luật
Việt Nam” là công trình nghiên cứu đầu tiên với cấp độ là một luận án tiến sĩ đã
nghiên cứu chuyên sâu cả vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật QTCTNY. Dựa
vào nội dung và kết quả nghiên cứu, luận án đã có những kết luận và kiến nghị những
giải pháp mang tính khoa học và có giá trị thực tiễn. Kết quả này có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc hoạch định các chính sách phát triển xây dựng pháp luật

of Corporate Governace” của OECD [196] [218] [220]. Bộ Nguyên tắc QTCT của
OECD được Hội đồng Bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu vào năm 1999 và từ đó
trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty
và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới. Bộ Nguyên tắc đã đẩy mạnh
tầm quan trọng của QTCT và cung cấp hướng dẫn cụ thể cho các sáng kiến pháp lý
và quản lý ở các quốc gia thuộc lẫn không thuộc OECD. Bộ nguyên tắc QTCT đã
được chỉnh lý vào năm 2004 và 2015, tính đến thời điểm hiện tại, các Nguyên tắc
được trình bày trong tài liệu bao quát các lĩnh vực sau: i) Bảo đảm cơ sở cho một
khuôn khổ QTCT hiệu quả; ii) Quyền của cổ đông, đối xử công bằng với cổ đông và
các chức năng sở hữu cơ bản; iii) Các nhà đầu tư tổ chức, thị trường chứng khoán và
các trung gian khác; iv) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT; v)
Công bố thông tin và tính minh bạch; và vi) Trách nhiệm của HĐQT. Bộ Nguyên tắc
chỉ ra rõ ràng các khối nền tảng của một khuôn khổ QTCT lành mạnh và cung cấp
những hướng nghiên cứu về QTCT trên thế giới.
Về các vấn đề lý luận liên quan đến QTCT, không thể không nhắc tới tác phẩm
“Corporate Governance: Principles, policities and practices” của tác giả Bob
Tricker [12]. Tác phẩm là công trình nghiên cứu chi tiết về QTCT, thông qua đó tác
giả đã đưa đến các nội dung như: i) Những khía cạnh chính yếu của QTCT; ii) Các
lý thuyết QTCT khác nhau; iii) Những quy trình QTCT khác nhau trên thế giới; iv)
Bản chất, các chức năng và thực tiễn của HĐQT cùng những bộ phận giám sát khác
trong công ty; v) Cấu trúc, hệ thống, quy trình của HĐQT; vi) Nhận diện những vấn
đề ảnh hưởng lên QTCT và tư duy của HĐQT.

8


Cũng nghiên cứu với quy mô tổng quát như trên, H. Kent Baker & Ronald
Anderson với tác phẩm “Corporate Governance – A synthesis of theory, research,
and practice” [45] đã miêu tả những vấn đề cơ bản nhất của QTCT thông qua: i) Lịch
sử, hệ thống, các thông lệ tốt nhất của QTCT; ii) Vấn đề quản trị nội bộ; iii) Vấn đề

thường khi phải dung hòa được lợi ích của rất nhiều bên liên quan như cổ đông, người
quản lý, người lao động, khách hàng, tính ổn định của thị trường, môi trường, xã hội...
Ở Việt Nam, nghiên cứu có hệ thống về QTCT thì có tác phẩm “Cẩm nang
QTCT” – một sản phẩm của Dự án QTCT tại Việt Nam của IFC trong khuôn khổ hợp
tác với UBCKNN Việt Nam. Giá trị của nghiên cứu thể hiện trên một số điểm sau
đây: i) Nghiên cứu chi tiết về khái niệm QTCT và vai trò của QTCT; ii) Tập hợp và
phân tích một cách có hệ thống, đầy đủ và toàn diện các quy định pháp luật về QTCT
ở Việt Nam tính đến năm 2010; iii) Giới thiệu có chọn lọc các thực tiễn, thông lệ tốt
trên thế giới về QTCT, phân tích so sánh thực tiễn ở Việt Nam với thực tiễn một số
quốc gia có hoàn cảnh tương tự; iv) Giới thiệu những giải pháp, thông lệ tốt nhất có
thể áp dụng để hoàn thiện công tác QTCT trong điều kiện và khuôn khổ pháp luật
hiện nay ở Việt Nam [69, Tr.VIII].
Tác phẩm “QTCT ở Đông Á sau khủng hoảng 1997” của tác giả Trương Thị
Nam Thắng [129], mặc dù nội dung phần lớn tập trung vào phân tích hoạt động QTCT
ở Đông Á sau khủng hoảng 1997, tuy nhiên, các vấn đề lý luận về QTCT được tác
giả phân tích là hết sức có giá trị. Đặc biệt, thông qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra
được các nhân tố chủ yếu của hệ thống QTCT, bao gồm các nhân tố nội bộ công ty
(cấu trúc sở hữu công ty, thành phần HĐQT, các bộ phận hỗ trợ kiểm tra và đối trọng,
điều lệ công ty) và các nhân tố bên ngoài công ty (tính đúng đắn và hiệu lực của các
chế định pháp luật, chuẩn mực kế toán và kiểm toán, tính cạnh tranh của thị trường
sản phẩm, tính hiệu quả và cạnh tranh của thị trường tài chính, tính cạnh tranh của thị
trường lao động, truyền thống văn hóa và lịch sử). Qua đó, tác giả chứng minh hệ
thống QTCT hiệu quả đóng góp nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty và nền
kinh tế trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Các tác phẩm “QTCT đại chúng, niêm yết dành cho doanh nghiệp và nhà đầu
tư” của tác giả Lê Minh Toàn [137]; “Pháp luật về QTCTNY trong thị trường chứng
khoán” của tác giả Lê Vũ Nam [82] là những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào quy
định pháp luật QTCTNY, tuy nhiên cũng có những nghiên cứu về vấn đề lý luận
QTCTNY. Cả hai tác phẩm mặc dù chưa nêu ra được định nghĩa và đặc trưng của
QTCTNY, tuy nhiên hai tác phẩm đã đưa ra được các vấn đề liên quan như niêm yết

được thông tin về thực tiễn tại các khu vực pháp lý cụ thể.
Đề cập đến pháp luật QTCT trong hệ thống pháp luật Common Law, công
trình “Corporate Governance in The Common Law World. The Political Foudations of
Shareholder Power” của tác giả Cristopher M.Bruner [193] và “Shareholder Primacy and

Corporate Governance. Legal Aspects, Practices and Future Directions” của tác giả
Shuangge Wen [232] đã phân tích các khía cạnh pháp lý và lý thuyết nhằm cung cấp

11


một cái nhìn toàn diện và quan trọng của các thông lệ phản ánh quyền ưu tiên của cổ
đông ở Anh hướng tới hiệu quả hoạt động của công ty lâu dài và có trách nhiệm với
xã hội, và bảo đảm sự phù hợp giữa quy định pháp luật và thực tiễn thương mại.
Ngoài ra, cuốn sách “Corporate governance in the Shadow of the State” của tác giả
Marc T. Moore năm 2013 [213] cũng đã phân tích kỹ lưỡng các khía cạnh cốt lõi của
luật QTCT ở hai nước này, nhằm xác định bản chất cơ bản của QTCT như một đối
tượng điều tra pháp lý. Moore xem xét liệu QTCT Anh - Mỹ có được hiểu là một khía
cạnh của luật "tư nhân" (tạo điều kiện thuận lợi) hay là một phần của luật "công cộng".
Theo đó, tác giả chỉ ra QTCT nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của các chuẩn
mực về trách nhiệm giải trình trong việc quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp
và chứng tỏ sự cần thiết về các quy định bắt buộc trong lĩnh vực này.
Một số các tác phẩm khác như: Tác phẩm “The Anatomy of Corporate Law –
A Comparative and Functional Approach” [245]; “Corporate Governance in The
Common Law World. The Political Foudations of Shareholder Power” [222]… cũng
đề cập đến hệ thống pháp luật Common Law. Đa số các công trình này rất mới, có
giá trị tham khảo cao với đặc điểm chung của pháp luật QTCT theo đánh giá thường
ưu tiên lợi ích của cổ đông so với các bên liên quan khác của công ty. Còn ở các nước
theo hệ thống Civil Law, không có nhiều các công trình có tính cập nhật nghiên cứu
về tổng thể pháp luật QTCT nói chung và QTCTNY nói riêng. Tuy nhiên, một điều

Các nghiên cứu này chia thành hai dạng nghiên cứu phổ biến là nghiên cứu về thực
trạng nội dung pháp luật và nghiên cứu về thực trạng thực thi pháp luật QTCTNY.
Trên phạm vi tổng quát, tác giả Lê Minh Toàn với hai nghiên cứu tiêu biểu là:
“Corporate Governance of Listed Companies in Vietnam” trên tạp chí Bond Law
(viết chung với 2 tác giả Walker và Gordon) [210] và cuốn sách “QTCT đại chúng,
niêm yết dành cho doanh nghiệp và nhà đầu tư” [137] đã đề cập một cách tổng quan
nhất về QTCT đại chúng, niêm yết ở Việt Nam trên cơ sở quy định pháp luật trước
từ năm 2010 trở về trước. Nghiên cứu mặc dù không còn tính mới tuy nhiên cũng chỉ
ra được rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tuân thủ nguyên tắc QTCT đại
chúng, niêm yết ở Việt Nam.
Tác giả Lê Vũ Nam với bài viết “Đánh giá khung pháp lý về QTCT và các
kiến nghị hoàn thiện” [81] và cuốn sách “Pháp luật về QTCTNY trong thị trường
chứng khoán” [82]. Đây là hai công trình nghiên cứu rất có giá trị khi phân tích, đánh
giá các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến nội dung cơ bản của pháp luật về
QTCTNY trên TTCK như: Quy định về ĐHĐCĐ, thành viên HĐQT và BKS; Quy
định về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số; Quy định về minh bạch và công bố
thông tin; Quy định về kiểm soát các giao dịch xung đột lợi ích. Trên cơ sở đó, tác

13


giả đã hình thành nên những kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về
QTCTNY trên TTCK.
Đối với các nghiên cứu về thực trạng thực thi pháp luật QTCTNY, trong thời
gian gần đây, sự quan tâm đến vấn đề QTCTNY cũng dần tăng lên. Nghiên cứu đáng
chú ý nhất là “Báo cáo Thẻ điểm QTCT” của IFC và GCGF - Diễn đàn QTCT Toàn
cầu phối hợp cùng UBCKNN năm 2011 [80], tiếp sau đó là “Báo cáo Thẻ điểm QTCT
khu vực ASEAN” của ACMF – Diễn đàn các thị trường vốn ASEAN từ năm 2011
đến 2016 [3], đã chỉ ra rằng: “Khuôn khổ về QTCT ở Việt Nam đang ở trong giai
đoạn phát triển, các luật và quy định liên quan đã và đang được xây dựng. Khu vực

1.1.4. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu các công trình liên quan tới pháp luật QTCTNY ở cả hai cấp
độ là trong và ngoài nước, có thể rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, về những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục
phát triển
Một là, các công trình ở trong và ngoài nước đã hệ thống được các vấn đề lý
luận liên quan đến QTCT, cụ thể:
- Về định nghĩa QTCT: Có nhiều định nghĩa khác nhau về QTCT, tuy nhiên
không có một định nghĩa duy nhất về QTCT có thể áp dụng cho mọi trường hợp.
Những định nghĩa khác nhau về QTCT hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào quan điểm
của các tác giả, thể chế hay truyền thống pháp lý của một quốc gia [151, Tr.2].
Theo quan điểm về phát triển kinh tế quốc gia, Cadbury (1992) cho rằng QTCT
là "cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và xã hội cũng như giữa mục tiêu cá nhân và cộng
đồng” [177]. Bởi vậy, khuôn khổ QTCT khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên
đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội khi sử dụng tài nguyên.
Theo quan điểm tài chính của Shleifer & Vishny (1997), QTCT được xem xét
như "cách các nhà cung cấp tài chính đảm bảo có thể thu lợi từ đầu tư của mình"
[179, Tr.742]. Quan điểm này liên quan đến vấn đề người đại diện giữa những người
bên trong và những nhà tài trợ bên ngoài. Mối quan hệ này chịu ảnh hưởng của các
yếu tố luật pháp và kinh tế, đặc biệt là tác động của cổ đông lớn (các tổ chức hoặc
Nhà nước) đến hiệu quả công ty.
Theo quan điểm đạo đức, Baker & Anderson (2012) xem xét QTCT “là những
quy tắc tự nguyện trong hành xử của người quản lý công ty cần phải tuân thủ”. Những
quy tắc này bao gồm kỳ vọng và quy định cụ thể hơn những yêu cầu của pháp luật,
của nghề nghiệp và thị trường vốn đã có [45, Tr.54].
Một cách tiếp cận khác là xem xét ở đặc tính và cấu trúc của QTCT, QTCT
được xem là cơ chế thúc đẩy công bằng, minh bạch và tín nhiệm. OECD trong Bộ

15


kiểm tra và đối trọng; iv) Tính phù hợp của ĐLCT; v) Tính đúng đắn và hiệu lực của
các chế định pháp luật; vi) Chuẩn mực kế toán và kiểm toán; vii) Tính cạnh tranh của

16


thị trường sản phẩm, thị trường tài chính, thị trường lao động cao cấp; viii) Truyền
thống văn hóa và lịch sử [129, Tr.30]. Đây là những nội dung rất quan trọng để trên
cơ sở đó, luận án có thể giải quyết các vấn đề tiếp theo liên quan QTCTNY.
Hai là, các công trình ở trong và ngoài nước dưới giác độ Luật học đã xây dựng
được những nội dung cơ bản của pháp luật QTCT nói chung và QTCTNY nói riêng.
Các nghiên cứu về pháp luật QTCT đề cập nhiều đến việc bảo đảm quyền cho các cổ
đông; trách nhiệm của người quản lý, điều hành công ty và phân định trách nhiệm
của HĐQT với TGĐ hoặc GĐ (phân định chức năng quản lý và chức năng điều hành
và sự thể chế hóa những tiêu chuẩn, điều kiện, mô hình quản trị vào trong pháp luật
doanh nghiệp); ngăn ngừa xung đột lợi ích và chế độ công bố thông tin. Những quy
định pháp luật về QTCT có thể chia thành các nhóm sau: i) Các quy định pháp luật
về mô hình QTCT; ii) Các quy định pháp luật về cổ đông và quyền cổ đông; iii) Các
quy định pháp luật về HĐQT; iv) Các quy định pháp luật về ngăn ngừa xung đột lợi
ích; v) Các quy định pháp luật về chế độ công bố thông tin.
Ba là, các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã chỉ ra được nhiều thách thức
trong việc xây dựng pháp luật QTCT nói chung và pháp luật QTCTNY nói riêng ở
Việt Nam phải đối mặt trong thời gian tới.
- Về chủ thuyết mục đích QTCT: Lê Thái Phong & Vũ Văn Ngọc (2016) cho
rằng: Việc xác định các mục đích của công ty là rất quan trọng vì trên cơ sở xác định
mục đích của công ty, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động QTCT mới có thể được xây
dựng một cách thống nhất và nhất quán. Theo đó, có hai chủ thuyết về mục đích
QTCT tồn tại trên thế giới là học thuyết giá trị cổ đông và học thuyết các bên liên
quan. Về cơ bản, các quy định pháp luật QTCTNY ở Việt Nam hiện nay chưa làm rõ
được mục đích của công ty cũng như quy định tương ứng về nghĩa vụ của người quản

Thứ hai, những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên
cứu
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, qua đánh giá các công trình nghiên
cứu cả trong và ngoài nước về QTCTNY đã được thực hiện, một số vấn đề chưa được
giải quyết thấu đáo cụ thể là:
Một là, về cách thức tiếp cận: Các nghiên cứu đã thực hiện, thường được tiếp
cận đơn ngành dưới góc độ kinh tế học, xã hội học hoặc luật học. Mặc dù cũng có
một số nghiên cứu được tiếp cận đa ngành kinh tế - xã hội học song một nghiên cứu
lựa chọn cách tiếp cận luật học – kinh tế học – xã hội học là chưa được thực hiện.
Luận án sẽ sử dụng cách tiếp cận này nhằm đưa ra những nghiên cứu về QTCTNY
một cách toàn diện cũng như đưa ra những giải pháp hiệu quả để hoàn thiện pháp luật
trong lĩnh vực này.

18


Hai là, về phương diện lý luận: Hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện về mặt lý luận đối với QTCTNY và pháp luật QTCTNY. Đối
với các công trình về QTCTNY, chủ yếu các công trình dừng lại ở việc nêu định
nghĩa và đặc điểm của CTNY và niêm yết chứng khoán. Đối với các công trình về
pháp luật QTCTNY, các công trình mới chỉ hoàn thành ở việc xây dựng các nội dung
pháp luật QTCTNY. Thông qua luận án, những điểm đặc trưng của QTCTNY và
pháp luật QTCTNY sẽ được làm nổi bật. Ngoài ra, luận án sẽ phân tích những yếu tố
chi phối, ảnh hưởng đến pháp luật QTCTNY. Đây là những nội dung chưa được làm
rõ ở các công trình nghiên cứu trước đây.
Ba là, về phương diện thực tiễn: Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung
vào thực trạng pháp luật QTCT thông thường với các nội dung cơ bản như: quyền cổ
đông, mô hình QTCT, kiểm soát giao dịch có tính chất tư lợi mà thiếu đi một số nội
dung như chế độ công bố thông tin, giám sát và xử lý vi phạm về QTCT. Một số tác
phẩm cũng có đề cập đến thực trạng pháp luật QTCTNY ở Việt Nam, dù là nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status