Quản trị công ty niêm yết theo pháp luật việt nam - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN ĐĂNG HẢI

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN ĐĂNG HẢI

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 938.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Hồ Ngọc Hiển

2.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản trị công ty niêm yết...................................... 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.................................................................................................... 64
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM.................................................................................................................................... 66
3.1. Thực trạng nội dung pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam..........................66
3.2. Thực tiễn thi hành pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam.............................95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.................................................................................................. 113
CHƯƠNG 4. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY.............................................................................................................. 115
4.1. Các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.............................................................................................................. 115
4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay........120
4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam
hiện nay..............................................................................................................................134
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4.................................................................................................. 148
KẾT LUẬN........................................................................................................................149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BKS

: Ban kiểm soát

BGĐ

: Ban giám đốc

CTCP

LCK 2006
Nghị định 71/2017/NĐ-CP
QTCT
QTCTNY
SGDCK
Thông tư 95/2017/TT-BTC
Thông tư 155/2015/TT-BTC
TTCK
OECD
TGĐ
UBCKNN

Quốc tế
: Kiểm soát viên
: Luật Doanh nghiệp 2014
: Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010)
: Nghị định 71/2017/NĐ-CP về quản trị công ty đối
với công ty đại chúng
: Quản trị công ty
: Quản trị công ty niêm yết
: Sở Giao dịch Chứng khoán
: Thông tư 95/2017/TT-BTC hướng dẫn Nghị định
71/2017/NĐ-CP
: Thông tư 155/2015/TT-BTC về công bố thông tin
trên thị trường chứng khoán
: Thị trường chứng khoán
: Organization for Economic Co-orperation and
Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
: Tổng Giám đốc
: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

nhận ra rằng những người quản lý – người đại diện không thực hiện tối đa hóa lợi
ích của cổ đông mà chỉ tập trung gia tăng lợi nhuận cho chính bản thân họ. Tiếp đó,
cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 hay hàng loạt các vụ sụp đổ công ty
đầu thế kỷ XXI đã gây tổn thất lớn về giá trị tài sản cho cổ đông có nguyên nhân
xuất phát từ các hành vi gian lận, sự không tuân thủ và những bất cẩn về mặt quản
lý càng làm nổi bật rõ hơn tầm quan trọng của quản trị công ty. Quản trị công ty sau
đó đã trở thành một chủ đề giành được nhiều sự quan tâm trên khắp thế giới, của
các định chế tài chính hay các tổ chức quốc tế.
Đối với các công ty niêm yết, vấn đề quản trị công ty đóng vai trò đặc biệt
quan trọng. Quản trị công ty tốt giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả
năng tiếp cận nguồn vốn, giảm chi phí vốn cũng như tạo dựng lòng tin đối với cổ
đông, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng quản
trị công ty niêm yết phức tạp hơn nhiều so với quản trị công ty thông thường do
những vấn đề như: cơ cấu chủ sở hữu đa dạng, thông tin bất cân xứng, các điều kiện
về niêm yết chứng khoán, chế độ công bố thông tin... Quản trị công ty yếu kém có
thể dẫn đến sự sụp đổ của các công ty, gây nên những tổn thất kinh tế và xã hội cực
kỳ nghiêm trọng do những ảnh hưởng tiêu cực lên các cổ đông, thị trường chứng
khoán, cũng như gây tác động lớn về kinh tế vĩ mô.

1


Trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được
ban hành nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản trị công ty niêm
yết như: Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010), Luật doanh nghiệp 2014,
Nghị định 71/2017/NĐ-CP về quản trị công ty đối với công ty đại chúng và Thông
tư 95/2017/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 71/2017/NĐ-CP. Những văn bản này khi
ra đời đã đạt được những kết quả rất khả quan khi hiệu quả của hoạt động quản trị
công ty niêm yết dần dần được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, theo đánh giá của các
tổ chức quốc tế, việc đảm bảo thực thi các quy định pháp luật về quản trị công ty ở

Đây chính là điều kiện tiên quyết để tạo ra một sự thay đổi có tính chiến lược về
quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Quản trị
công ty niêm yết theo pháp luật Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án
tiến sĩ luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn đối với pháp luật QTCTNY ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu và học hỏi kinh
nghiệm pháp luật các quốc gia trên thế giới, từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về QTCTNY.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ cơ bản sau đây: Thứ
nhất, về phương diện lý luận, luận án tiến hành hệ thống hóa và xây dựng vấn đề lý
luận về QTCTNY và pháp luật QTCTNY để làm rõ bản chất, đặc trưng của
QTCTNY, những chủ thể của quan hệ QTCTNY và các mục tiêu của QTCTNY;
phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động QTCT đối
với CTNY, những nét đặc thù của pháp luật QTCTNY so với pháp luật kinh tế và
pháp luật QTCT nói chung, xác định nội dung của pháp luật QTCTNY và phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến lĩnh vực pháp luật này.
Thứ hai, về thực tiễn, luận án tiến hành phân tích, đánh giá, so sánh các quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến QTCTNY nhằm làm rõ những
bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật QTCTNY ở Việt Nam; đưa ra các
số liệu, sưu tầm các vụ việc vi phạm liên quan đến QTCTNY để làm minh chứng
cho các lập luận khoa học trong luận án.
Thứ ba, nghiên cứu đề xuất quan điểm và nhóm giải pháp hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật QTCTNY ở Việt Nam.

3


Đề tài được hình thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể

4


chế kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế. Cơ sở phương pháp luận
của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả luận án đã áp dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể, phù hợp với từng nội dung nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích, logic, tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ nội

dung của luận án.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội nhân

văn như lịch sử, kinh tế, luật học làm rõ bản chất kinh tế, xã hội, pháp lý của QTCTNY
ở Việt Nam; đánh giá mức độ phù hợp hay không phù hợp với nội dung pháp luật

QTCTNY, nhất là tính khả thi của các quy định này trên thực tế.
- Phương pháp phân tích logic quy phạm pháp luật được sử dụng để phân

tích, đánh giá các quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam nhằm làm rõ tính
phù hợp, tính thống nhất của pháp luật QTCTNY.
- Phương pháp lịch sử, đối chiếu, thống kê được sử dụng trong phần đánh giá

thực trạng thi hành pháp luật QTCTNY tại Việt Nam.
- Phương pháp so sánh luật học được sử dụng xuyên suốt đề tài nhằm đối

chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật các nước

luật QTCTNY ở Việt Nam, chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm trong các quy
định và cơ chế thực hiện các quy định đó. Trong quá trình phân tích, đánh giá, luận
án có so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các thông lệ quốc tế
để có được nhận định khách quan và khoa học.
Thứ năm, luận án đã đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học để hoàn thiện
pháp luật QTCTNY ở Việt Nam thông qua việc xác định rõ các yêu cầu đặt ra trong
việc hoàn thiện pháp luật QTCTNY cũng như đề xuất các giải pháp cụ thể trên cơ
sở giải quyết được những bất cập được phát hiện tại phần nghiên cứu thực trạng
pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Cho đến thời điểm hiện tại, luận án “Quản trị công ty niêm yết theo pháp luật
Việt Nam” là công trình nghiên cứu đầu tiên với cấp độ là một luận án tiến sĩ đã nghiên
cứu chuyên sâu cả vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật QTCTNY. Dựa vào nội
dung và kết quả nghiên cứu, luận án đã có những kết luận và kiến nghị những giải pháp
mang tính khoa học và có giá trị thực tiễn. Kết quả này có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong việc hoạch định các chính sách phát triển xây dựng pháp luật QTCTNY, góp phần
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, bảo vệ các quyền và

6


lợi ích của các chủ thể, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đầy phát triển
kinh tế và làm tiền đề cho hội nhập quốc tế.
Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học, những
nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, nhà quản lý trong học tập, công tác hoạch định
chính sách và ban hành pháp luật của Việt Nam.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Về các vấn đề lý luận liên quan đến QTCT, không thể không nhắc tới tác
phẩm “Corporate Governance: Principles, policities and practices” của tác giả
Bob Tricker [12]. Tác phẩm là công trình nghiên cứu chi tiết về QTCT, thông qua
đó tác giả đã đưa đến các nội dung như: i) Những khía cạnh chính yếu của QTCT;
ii) Các lý thuyết QTCT khác nhau; iii) Những quy trình QTCT khác nhau trên thế
giới; iv) Bản chất, các chức năng và thực tiễn của HĐQT cùng những bộ phận giám
sát khác trong công ty; v) Cấu trúc, hệ thống, quy trình của HĐQT; vi) Nhận diện
những vấn đề ảnh hưởng lên QTCT và tư duy của HĐQT.

8


Cũng nghiên cứu với quy mô tổng quát như trên, H. Kent Baker & Ronald
Anderson với tác phẩm “Corporate Governance – A synthesis of theory, research, and
practice” [45] đã miêu tả những vấn đề cơ bản nhất của QTCT thông qua: i) Lịch sử,
hệ thống, các thông lệ tốt nhất của QTCT; ii) Vấn đề quản trị nội bộ; iii) Vấn đề quản
trị bên ngoài. Cuốn sách với sự bao phủ các hệ thống, quy trình và phương pháp tách
rời mối quan hệ giữa nhà quản lý, cổ đông lớn và cổ đông thiểu số đã cung cấp một cái
nhìn rõ ràng về hoạt động quản trị hiện nay và cẩn thận xem xét các cơ chế giảm thiểu
xung đột chính đáng trong QTCT. Cùng chủ đề trên, các công trình nghiên cứu khác
như “Essentials of Corporate Governance” của tác giả Sanjay Anand [231], hai tác giả
Đinh Trần Ngọc Huy & Đinh Trần Ngọc Hiển (2011) với tác phẩm “Mordern
Corporate Governance: Principles And Models After Global Economic Crisis” [196]…
cũng đã đề cập được những vấn đề liên quan đến khái niệm và yêu cầu của QTCT, lý
thuyết QTCT, vai trò của QTCT, mô hình QTCT.
Trái ngược với số lượng lớn các tác phẩm nghiên cứu lý luận về QTCT thì vấn
đề lý luận về QTCTNY chưa được các nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước đề cập
đến. Tác phẩm tiêu biểu về vấn đề này là “The Corporate Governance of Listed
Companies: A Manual for Investors” của CFA Institue [190]. Nghiên cứu đã tập trung
giải quyết những vấn đề then chốt của QTCTNY trên bình diện thế giới cho ba nội

Nam Thắng [129], mặc dù nội dung phần lớn tập trung vào phân tích hoạt động QTCT
ở Đông Á sau khủng hoảng 1997, tuy nhiên, các vấn đề lý luận về QTCT được tác

giả phân tích là hết sức có giá trị. Đặc biệt, thông qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra
được các nhân tố chủ yếu của hệ thống QTCT, bao gồm các nhân tố nội bộ công ty
(cấu trúc sở hữu công ty, thành phần HĐQT, các bộ phận hỗ trợ kiểm tra và đối
trọng, điều lệ công ty) và các nhân tố bên ngoài công ty (tính đúng đắn và hiệu lực
của các chế định pháp luật, chuẩn mực kế toán và kiểm toán, tính cạnh tranh của thị
trường sản phẩm, tính hiệu quả và cạnh tranh của thị trường tài chính, tính cạnh
tranh của thị trường lao động, truyền thống văn hóa và lịch sử). Qua đó, tác giả
chứng minh hệ thống QTCT hiệu quả đóng góp nâng cao năng lực cạnh tranh của
các công ty và nền kinh tế trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Các tác phẩm “QTCT đại chúng, niêm yết dành cho doanh nghiệp và nhà đầu
tư” của tác giả Lê Minh Toàn [137]; “Pháp luật về QTCTNY trong thị trường chứng
khoán” của tác giả Lê Vũ Nam [82] là những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào quy
định pháp luật QTCTNY, tuy nhiên cũng có những nghiên cứu về vấn đề lý luận
QTCTNY. Cả hai tác phẩm mặc dù chưa nêu ra được định nghĩa và đặc trưng của
QTCTNY, tuy nhiên hai tác phẩm đã đưa ra được các vấn đề liên quan như niêm yết
chứng khoán, CTNY, vai trò của QTCTNY, mô hình QTCTNY. Bên cạnh đó, vì đây

10


cũng là một vấn đề dành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nên có rất nhiều
bài viết trên các tạp chí đề cập đến vấn đề QTCT, có thể kể đến một số bài viết: “Sự
tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý điều hành trong QTCT” của tác giả Hà Thị
Thanh Bình [11]; Bùi Xuân Hải với bài viết “Lý luận và mô hình QTCT ở nước
ngoài và vấn đề tiếp nhận vào Việt Nam” [50]; Phan Thị Nhã Trúc với bài viết
“Quản trị doanh nghiệp: nhìn từ quan điểm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam” [88]…
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nội dung lý luận về QTCT với việc mô tả bản

một cái nhìn toàn diện và quan trọng của các thông lệ phản ánh quyền ưu tiên của
cổ đông ở Anh hướng tới hiệu quả hoạt động của công ty lâu dài và có trách nhiệm
với xã hội, và bảo đảm sự phù hợp giữa quy định pháp luật và thực tiễn thương mại.
Ngoài ra, cuốn sách “Corporate governance in the Shadow of the State” của tác giả
Marc T. Moore năm 2013 [213] cũng đã phân tích kỹ lưỡng các khía cạnh cốt lõi
của luật QTCT ở hai nước này, nhằm xác định bản chất cơ bản của QTCT như một
đối tượng điều tra pháp lý. Moore xem xét liệu QTCT Anh - Mỹ có được hiểu là
một khía cạnh của luật "tư nhân" (tạo điều kiện thuận lợi) hay là một phần của luật
"công cộng". Theo đó, tác giả chỉ ra QTCT nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của
các chuẩn mực về trách nhiệm giải trình trong việc quản lý của các nhà quản lý
doanh nghiệp và chứng tỏ sự cần thiết về các quy định bắt buộc trong lĩnh vực này.
Một số các tác phẩm khác như: Tác phẩm “The Anatomy of Corporate Law – A
Comparative and Functional Approach” [245]; “Corporate Governance in The
Common Law World. The Political Foudations of Shareholder Power” [222]… cũng đề
cập đến hệ thống pháp luật Common Law. Đa số các công trình này rất mới, có giá trị
tham khảo cao với đặc điểm chung của pháp luật QTCT theo đánh giá thường ưu tiên
lợi ích của cổ đông so với các bên liên quan khác của công ty. Còn ở các nước theo hệ
thống Civil Law, không có nhiều các công trình có tính cập nhật nghiên cứu về tổng thể
pháp luật QTCT nói chung và QTCTNY nói riêng. Tuy nhiên, một điều có thể nhận
thấy rõ là dù pháp luật của riêng từng quốc gia, từng khu vực hay thông lệ chung trên
thế giới đều thống nhất với nhau về một số nội dung pháp luật cơ bản liên quan đến
QTCT đó là: i) Mô hình QTCT; ii) Cổ đông và quyền cổ đông; iii) Ngăn ngừa xung đột
lợi ích; iv) HĐQT; v) Chế độ công bố thông tin.
Ở Việt Nam, bên cạnh việc được đề cập trong hệ thống giáo trình của một số

các cơ sở đào tạo Luật trên cả nước [32] 144], nội dung pháp luật QTCT được mô tả
thông qua các tác phẩm chính như: “Cẩm nang QTCT” của IFC [69]; “Quản trị CTCP
ở Việt Nam – Quy định của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề” của CIEM [28];

Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung với tác phẩm “Công ty: vốn, quản lý và tranh

cũng chỉ ra được rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tuân thủ nguyên tắc
QTCT đại chúng, niêm yết ở Việt Nam.
Tác giả Lê Vũ Nam với bài viết “Đánh giá khung pháp lý về QTCT và các kiến
nghị hoàn thiện” [81] và cuốn sách “Pháp luật về QTCTNY trong thị trường chứng
khoán” [82]. Đây là hai công trình nghiên cứu rất có giá trị khi phân tích, đánh giá các
quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến nội dung cơ bản của pháp luật về QTCTNY
trên TTCK như: Quy định về ĐHĐCĐ, thành viên HĐQT và BKS; Quy định về bảo vệ
quyền lợi của cổ đông thiểu số; Quy định về minh bạch và công bố thông tin; Quy định
về kiểm soát các giao dịch xung đột lợi ích. Trên cơ sở đó, tác

13


giả đã hình thành nên những kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về
QTCTNY trên TTCK.
Đối với các nghiên cứu về thực trạng thực thi pháp luật QTCTNY, trong thời
gian gần đây, sự quan tâm đến vấn đề QTCTNY cũng dần tăng lên. Nghiên cứu
đáng chú ý nhất là “Báo cáo Thẻ điểm QTCT” của IFC và GCGF - Diễn đàn QTCT
Toàn cầu phối hợp cùng UBCKNN năm 2011 [80], tiếp sau đó là “Báo cáo Thẻ
điểm QTCT khu vực ASEAN” của ACMF – Diễn đàn các thị trường vốn ASEAN từ
năm 2011 đến 2016 [3], đã chỉ ra rằng: “Khuôn khổ về QTCT ở Việt Nam đang ở
trong giai đoạn phát triển, các luật và quy định liên quan đã và đang được xây
dựng. Khu vực doanh nghiệp vẫn còn mang nhiều tính chất phi chính thức, trong đó
TTCK không chính thức đang còn lớn hơn nhiều so với thị trường chính thức, và
nhà nước vẫn duy trì việc nắm giữ một tỷ lệ trong các doanh nghiệp cổ phần hóa.
Năng lực và nguồn lực của các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản lý, cưỡng
chế thực thi và phát triển thị trường còn hạn chế. Một số vấn đề lớn khác bao gồm:
chưa có sự bảo vệ đầy đủ cho nhà đầu tư, chưa tuân thủ các chuẩn mực kế toán, và
còn hạn chế công bố các thông tin có chất lượng” [80, Tr.15].
Có khá nhiều các tác phẩm nghiên cứu chi tiết về tình hình QTCT ở Việt Nam

luận liên quan đến QTCT, cụ thể:
- Về định nghĩa QTCT: Có nhiều định nghĩa khác nhau về QTCT, tuy nhiên

không có một định nghĩa duy nhất về QTCT có thể áp dụng cho mọi trường hợp.
Những định nghĩa khác nhau về QTCT hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào quan
điểm của các tác giả, thể chế hay truyền thống pháp lý của một quốc gia [151, Tr.2].
Theo quan điểm về phát triển kinh tế quốc gia, Cadbury (1992) cho rằng QTCT
là "cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và xã hội cũng như giữa mục tiêu cá nhân và cộng
đồng” [177]. Bởi vậy, khuôn khổ QTCT khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên
đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội khi sử dụng tài nguyên.

Theo quan điểm tài chính của Shleifer & Vishny (1997), QTCT được xem
xét như "cách các nhà cung cấp tài chính đảm bảo có thể thu lợi từ đầu tư của
mình" [179, Tr.742]. Quan điểm này liên quan đến vấn đề người đại diện giữa
những người bên trong và những nhà tài trợ bên ngoài. Mối quan hệ này chịu ảnh
hưởng của các yếu tố luật pháp và kinh tế, đặc biệt là tác động của cổ đông lớn (các
tổ chức hoặc Nhà nước) đến hiệu quả công ty.
Theo quan điểm đạo đức, Baker & Anderson (2012) xem xét QTCT “là
những quy tắc tự nguyện trong hành xử của người quản lý công ty cần phải tuân
thủ”. Những quy tắc này bao gồm kỳ vọng và quy định cụ thể hơn những yêu cầu
của pháp luật, của nghề nghiệp và thị trường vốn đã có [45, Tr.54].
Một cách tiếp cận khác là xem xét ở đặc tính và cấu trúc của QTCT, QTCT
được xem là cơ chế thúc đẩy công bằng, minh bạch và tín nhiệm. OECD trong Bộ
15


nguyên tắc về QTCT (2004 và 2015) đã nêu ra quan điểm: “QTCT liên quan tới
một tập hợp các mối quan hệ giữa cổ đông, HĐQT, BGĐ điều hành và các bên có
lợi ích liên quan khác. QTCT cũng thiết lập một cơ cấu giúp xây dựng mục tiêu của
công ty, xác định phương tiện để đạt được các mục tiêu đó, và giám sát hiệu quả


16


thị trường sản phẩm, thị trường tài chính, thị trường lao động cao cấp; viii) Truyền
thống văn hóa và lịch sử [129, Tr.30]. Đây là những nội dung rất quan trọng để trên
cơ sở đó, luận án có thể giải quyết các vấn đề tiếp theo liên quan QTCTNY.
Hai là, các công trình ở trong và ngoài nước dưới giác độ Luật học đã xây
dựng được những nội dung cơ bản của pháp luật QTCT nói chung và QTCTNY nói
riêng. Các nghiên cứu về pháp luật QTCT đề cập nhiều đến việc bảo đảm quyền cho
các cổ đông; trách nhiệm của người quản lý, điều hành công ty và phân định trách
nhiệm của HĐQT với TGĐ hoặc GĐ (phân định chức năng quản lý và chức năng
điều hành và sự thể chế hóa những tiêu chuẩn, điều kiện, mô hình quản trị vào trong
pháp luật doanh nghiệp); ngăn ngừa xung đột lợi ích và chế độ công bố thông tin.
Những quy định pháp luật về QTCT có thể chia thành các nhóm sau: i) Các quy
định pháp luật về mô hình QTCT; ii) Các quy định pháp luật về cổ đông và quyền
cổ đông; iii) Các quy định pháp luật về HĐQT; iv) Các quy định pháp luật về ngăn
ngừa xung đột lợi ích; v) Các quy định pháp luật về chế độ công bố thông tin.
Ba là, các nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã chỉ ra được nhiều thách thức
trong việc xây dựng pháp luật QTCT nói chung và pháp luật QTCTNY nói riêng ở
Việt Nam phải đối mặt trong thời gian tới.
- Về chủ thuyết mục đích QTCT: Lê Thái Phong & Vũ Văn Ngọc (2016) cho

rằng: Việc xác định các mục đích của công ty là rất quan trọng vì trên cơ sở xác
định mục đích của công ty, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động QTCT mới có thể
được xây dựng một cách thống nhất và nhất quán. Theo đó, có hai chủ thuyết về
mục đích QTCT tồn tại trên thế giới là học thuyết giá trị cổ đông và học thuyết các
bên liên quan. Về cơ bản, các quy định pháp luật QTCTNY ở Việt Nam hiện nay
chưa làm rõ được mục đích của công ty cũng như quy định tương ứng về nghĩa vụ
của người quản lý, điều hành công ty [92].

Thứ hai, những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên
cứu
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, qua đánh giá các công trình
nghiên cứu cả trong và ngoài nước về QTCTNY đã được thực hiện, một số vấn đề
chưa được giải quyết thấu đáo cụ thể là:
Một là, về cách thức tiếp cận: Các nghiên cứu đã thực hiện, thường được tiếp
cận đơn ngành dưới góc độ kinh tế học, xã hội học hoặc luật học. Mặc dù cũng có
một số nghiên cứu được tiếp cận đa ngành kinh tế - xã hội học song một nghiên cứu
lựa chọn cách tiếp cận luật học – kinh tế học – xã hội học là chưa được thực hiện.
Luận án sẽ sử dụng cách tiếp cận này nhằm đưa ra những nghiên cứu về QTCTNY
một cách toàn diện cũng như đưa ra những giải pháp hiệu quả để hoàn thiện pháp
luật trong lĩnh vực này.
18


Hai là, về phương diện lý luận: Hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện về mặt lý luận đối với QTCTNY và pháp luật QTCTNY.
Đối với các công trình về QTCTNY, chủ yếu các công trình dừng lại ở việc nêu
định nghĩa và đặc điểm của CTNY và niêm yết chứng khoán. Đối với các công trình
về pháp luật QTCTNY, các công trình mới chỉ hoàn thành ở việc xây dựng các nội
dung pháp luật QTCTNY. Thông qua luận án, những điểm đặc trưng của QTCTNY
và pháp luật QTCTNY sẽ được làm nổi bật. Ngoài ra, luận án sẽ phân tích những
yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến pháp luật QTCTNY. Đây là những nội dung chưa
được làm rõ ở các công trình nghiên cứu trước đây.
Ba là, về phương diện thực tiễn: Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung
vào thực trạng pháp luật QTCT thông thường với các nội dung cơ bản như: quyền
cổ đông, mô hình QTCT, kiểm soát giao dịch có tính chất tư lợi mà thiếu đi một số
nội dung như chế độ công bố thông tin, giám sát và xử lý vi phạm về QTCT. Một số
tác phẩm cũng có đề cập đến thực trạng pháp luật QTCTNY ở Việt Nam, dù là
nghiên cứu tổng quát hay các nội dung nhỏ, thì đa phần lại dựa trên các văn bản quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status