BÀI THU HOẠCH lớp TRUNG cấp lý LUẬN CHÍNH TRỊ đà NẴNG với vấn đề PHÁT TRIỂN bền VỮNG nền KINH tế - Pdf 56

LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH – K13B16
***

BÀI THU HOẠCH
NGHIÊN CỨU THỰC TẾ

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

ĐÀ NẴNG VỚI VẤN ĐỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG

Người thực hiện: Nguyễn Thị Nga
Đơn vị công tác: TrườngTiểu Học Hợp Thành

Hà Nội, Tháng 08 năm 2019


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu :
Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di
sản miền Trung, thành phố Đà Nẵng được bao bọc bởi 3 di sản văn hóa thế
giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút nữa là di sản thiên nhiên thế
giới Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và Động Thiên Đường. Chính vị
trí này đã làm nổi rõ vai trò của thành phố Đà nẵng trong khu vực, đó là nơi
đón tiếp, phục vụ, trung chuyển khách.
Thành phố Đà Nẵng có diện tích 1.256,53 km² gồm 06 quận (Hải
Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Cẩm Lệ) và 02
huyện Hòa Vang, huyện đảo Hoàng Sa.
Dân số: 1.231.000 người (theo điều tra dân số 2019)
Các quận, huyện:
- Quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm

thành quốc gia giàu mạnh về biển, đảo, bảo đảm vững chắc chủ quyền trên
biển..
Khả năng phát triển kinh tế thủy sản của thành phố là khá lớn. Vùng
biển Đà Nẵng có trữ lượng hải sản lớn, khả năng khai thác hàng năm khoảng
60-70 ngàn tấn. Sản lượng khai thác trung bình hàng năm đặt trên 40 ngàn
tấn, chủ yếu là cá nổi ven bờ… Thành phố còn có hơn 670 ha mặt nước có
khả năng nuôi trồng thủy sản, tạo điều kiện tốt để xây dựng vùng nuôi các
nước ngọt tại các xã Hòa Khương, Hòa Phong, Hòa Liên, Hòa Sơn thuộc
huyện Hòa Vang .
2.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
a. Xây dựng Đà Nẵng thành điểm đến mang tầm thế giới
Thành phố Đà Nẵng có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát
triển du lịch với lợi thế về cảng biển và sân bay quốc tế, cửa ngõ đi và đến
các di sản thế giới ở miền Trung. Tiếp nối những thành tựu đã đạt được,
thành phố Đà Nẵng đang nỗ lực tập trung phát triển du lịch là ngành kinh tế
mũi nhọn theo tinh thần của Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát
triển Đà Nẵng trở thành đô thị biển.
3


Đồng thời, Đà Nẵng liên kết với các tỉnh, thành phố trong khu vực xây
dựng thành điểm đến du lịch mang tầm thế giới.
b. Điểm đến an toàn và thân thiện
Thành phố Đà Nẵng có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát
triển du lịch. Với lợi thế về cảng biển và sân bay quốc tế, cửa ngõ đi và đến
các di sản thế giới ở miền Trung, cùng với nguồn tài nguyên du lịch phong
phú và đa dạng, các bãi tắm đẹp, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch
khá đồng bộ, môi trường du lịch được đảm bảo, Đà Nẵng đã và đang trở
thành điểm đến an toàn, thân thiện của du khách.
Đà Nẵng còn biết đến với những cây cầu xinh đẹp như cầu Sông Hàn,

Bên cạnh đó, với các cơ chế chính sách hỗ trợ, kêu gọi thu hút được
các nhà đầu tư chiến lược..., du lịch Đà Nẵng có những bước phát triển khá
nhanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm, cải
thiện và nâng cao chất lượng sống cho người dân thành phố.
Số lượng khách đến tham quan du lịch Đà Nẵng có những bước tăng
trưởng khá nhanh, năm 2004 đón 649.106 lượt khách, đến năm 2018 đón
khoảng 7,66 triệu lượt khách.
Công tác xúc tiến quảng bá du lịch đã được thành phố đầu tư và có sự
chuyển biến thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch; quảng bá
đến các thị trường quốc tế với quy mô ngày càng tăng về số lượng và chất
lượng.
Điểm đến Đà Nẵng đã được nhiều du khách, doanh nghiệp, các tổ chức
du lịch, các tạp chí, trang mạng chuyên về du lịch trên thế giới bình chọn và
đánh giá cao, với các danh hiệu được bình chọn như tốp 10 điểm đến hấp
dẫn hàng đầu châu Á (từ năm 2013-2016); tốp 10 điểm đến mới nổi sáng giá
nhất thế giới năm 2015.
Đặc biệt, trong tháng 10/2016, thành phố Đà Nẵng nhận được giải
thưởng danh giá “Điểm đến sự kiện lễ hội hàng đầu châu Á” của Tổ chức
Giải thưởng Du lịch thế giới World Travel Awards; Khu nghỉ dưỡng Naman
Retreat nhận giải thưởng “Khu nghỉ dưỡng retreat hàng đầu châu Á;” Khu
nghỉ dưỡng cao cấp Intercontinental Danang Sun Peninsula với các danh
5


hiệu danh giá “Khu nghỉ dưỡng sang trọng bậc nhất thế giới,” “Khu nghỉ
dưỡng sang trọng nhất châu Á”...
Những danh hiệu đạt được đã góp phần định vị hình ảnh và từng bước
khẳng định thương hiệu của du lịch thành phố đến thị trường trong nước và
quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, du lịch Đà Nẵng vẫn còn một số

các tuyến đường thủy nội địa của thành phố.
Thành phố tiếp tục khai thác có hiệu quả loại hình du lịch công vụ
(MICE), tăng các chuyến bay quốc tế đến Đà Nẵng; nâng cao tính chuyên
nghiệp trong việc tổ chức các sự kiện du lịch. Thành phố chủ động phối hợp
với các bộ, ngành Trung ương, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, cơ
quan ngoại giao của Việt Nam và nước ngoài, cơ quan báo chí để đăng cai tổ
chức các sự kiện, văn hóa, thể thao, du lịch lớn tại Đà Nẵng...
c. Phát triển kinh tế biển: Cần có tầm nhìn chiến lược
Xác định được vị trí và tầm quan trọng chiến lược của mình, thành
phố đã ban hành Quy hoạch phát triển kinh tế vùng biển đảo thuộc địa bàn
thành phố Đà Nẵng đến năm 2020. Trong đó tập trung phát triển kinh tế - xã
hội đối với các ngành, địa phương tại địa bàn vùng biển, ven biển nhằm phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững; xây dựng phương hướng phát triển kinh
tế - xã hội phù hợp, gắn với bảo vệ an ninh quốc phòng đối với vùng biển
đảo, nhằm phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế của vùng biển đảo, tạo bước
đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong thời gian tới,
đồng thời định hướng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước về các lĩnh
vực, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh tại vùng biển đảo và ven biển của
thànhphố.
Đối với Đà Nẵng , biển không chỉ đem lại nhiều nguồn lợi to lớn để
phát triển kinh tế, mà còn là địa thế quốc phòng, an ninh mang tính chiến
lược hàng đầu của đất nước. Đặc biệt, trước những mục tiêu mang tính chiến
lược của các nước trong khu vực đều có liên quan và tạo sức ép lớn đối với
nước ta, mục tiêu phát triển kinh tế biển gắn liền với tăng cường sức mạnh
quốc phòng, an ninh quốc gia và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển là yêu
7


cầu cấp thiết không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà còn mang ý nghĩa lâu
dài.

quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”;
Quốc hội, Chính phủ đã ban hành 7 luật, 6 pháp lệnh, 2 bản tuyên bố, 19
nghị định và 6 quyết định liên quan đến quản lý và bảo vệ vùng biển, đảo
Việt Nam; thông qua nhiều biện pháp tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho
toàn dân về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 568/QĐ-TTg
ngày 28-4-2010 về phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến
năm 2020, trong đó xác định phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững về
kinh tế của hệ thống các đảo, để có bước đột phá về phát triển kinh tế biển,
đảo và ven biển nước ta, đồng thời xây dựng hệ thống các đảo trở thành
tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia các
vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Về đầu tư phát triển, chúng ta đã quan tâm đầu tư, hỗ trợ phát triển
nghề đánh cá xa bờ, xây dựng hàng chục công trình cảng và khu dịch vụ hậu
cần nghề cá trên các đảo và một số điểm ven bờ, đóng mới nhiều tàu dịch vụ
hậu cần nghề cá; đẩy mạnh đầu tư cho các hoạt động tuyên truyền về chủ
quyền quốc gia, lợi ích quốc gia trên biển; đấu tranh quốc phòng, an ninh,
ngoại giao; nghiên cứu và điều tra cơ bản; xây dựng được nhiều hạng mục
công trình quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, đến nay, quy mô kinh tế biển của Việt Nam còn khá khiêm
tốn, phương thức khai thác kinh tế biển chủ yếu là sản xuất nhỏ, các công
trình hạ tầng kỹ thuật biển còn yếu kém và chưa đồng bộ. Bên cạnh công tác
thăm dò khai thác dầu khí, đánh bắt thủy hải sản, vận tải biển mang lại một
số kết quả nhất định, thì hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra ở những vùng
biển, đảo có vị trí thuận lợi về hạ tầng giao thông (sân bay, bến cảng…) như
Đà Nẵng, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc... Nhiều vùng biển, đảo như Quan
Lạn, Cù lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý… tuy có lợi thế lớn để thu hút khách
du lịch trong và ngoài nước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

9

địa phương ven biển đối với vai trò, vị trí của biển, quy mô kinh tế biển còn
10


nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề còn bất cập; việc
đầu tư xây dựng các khu kinh tế ven biển còn tràn lan, thiếu trọng tâm, trọng
điểm. Trong khi đó, tình hình khai thác, sử dụng hải đảo chưa hiệu quả, thiếu
bền vững (do thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch), làm nảy sinh nhiều mâu
thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển và hải đảo. Theo đó,
phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư
nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, mới khai thác tài nguyên ở dạng thô, theo số
lượng. Các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo trong hệ
thống tài nguyên biển, như: không gian biển, các hệ sinh thái, khu văn hóa
lịch sử, dự trữ sinh quyển ven biển,… ít được chú trọng. Điều đó không chỉ
tác động làm cạn kiệt tài nguyên, mà môi trường biển cũng bị biến đổi theo
chiều hướng xấu; thậm chí, một số khu vực biển ven bờ bị ô nhiễm, hiện
tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều, với quy mô tương đối lớn,
v.v.
Mặt khác, theo đánh giá của một số tổ chức khoa học có uy tín, đa
dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy, hải sản nước ta đã, đang có chiều
hướng giảm dần cả về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt. Hiện
đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 100
loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam. Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần
bờ bị khai thác quá mức, hiệu suất khai thác giảm rõ rệt theo từng năm. Chỉ
tính riêng năng suất nuôi tôm quảng canh, nếu năm 1980 sản lượng đạt
khoảng 200kg/ha/vụ thì đến nay con số này chỉ là 80kg/ha/vụ.
Cùng với đó, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển, nhất là hệ thống
cảng biển, đường giao thông còn yếu kém, manh mún, lạc hậu, chưa tạo thế
liên kết các thành phố, khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển thành một hệ
thống kinh tế biển liên hoàn. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công

nước biển dâng diễn biến phức tạp và có tác động tiêu cực ngày càng rõ nét.
Đầu tư cho điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học-công nghệ và phát triển
nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Quản lý nhà nước về biển, đảo
còn lúng túng, hiệu lực, hiệu quả chưa cao…

12


3. Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển bền vững kinh tế biển ở
Đà Nẵng
Để phát triển kinh tế biển đạt được mục tiêu đã đề ra, thời gian tới cần
tập trung vào một số giải pháp sau:
- Cần tổ chức tốt công tác tuyên truyền về biển, đảo, nâng cao ý thức
bảo vệ chủ quyền quốc gia, công tác quản lý khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy
sản, các quy định của quốc tế về bảo vệ nguồn lợi thủy sản không chỉ với cư
dân biển, đảo mà còn với toàn xã hội. Có thể mở các lớp huấn luyện, tuyên
truyền giáo dục cho ngư dân hiểu và chấp hành các điều khoản của các hiệp
ước, công ước đã ký giữa Việt Nam và các nước khác cũng như các quy định
của pháp luật để người dân nâng cao ý thức trong khai thác, hoạt động bảo
vệ môi trường.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm quốc
phòng – an ninh, hợp tác quốc tế. Cùng với việc tiếp tục khẳng định chủ
quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, chuẩn bị tốt các điều kiện
cần thiết để bảo đảm về quốc phòng – an ninh, kiên quyết bảo vệ vững chắc
các vùng biển và hải đảo của Việt Nam, cần tiếp tục mở rộng và tăng cường
hợp tác hữu nghị với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng như
với các tổ chức quốc tế về các vấn đề có liên quan đến biển, đảo trên cơ sở
tôn trọng chủ quyền, lợi ích quốc gia và pháp luật quốc tế; cùng nhau xây
dựng khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Các địa phương có
biển, đảo cần xây dựng và triển khai các chương trình, giải pháp, kế hoạch

tế biển, đảo cần được đầu tư. Một số khu du lịch sinh thái biển, đảo lớn, chất
lượng cao tầm cỡ khu vực và thế giới được hình thành sẽ tạo bước đột phá
cho du lịch biển, đảo nói riêng và du lịch cả nước nói chung.
- Tổ chức phát triển hợp lý không gian kinh tế – xã hội vùng biển và
ven biển. Phát triển vùng ven biển nhằm tạo động lực lan tỏa, biến vùng ven
biển thành hậu phương, hỗ trợ cho các hoạt động trên biển thông qua các
trung tâm kinh tế hải đảo. Tập trung xây dựng nhanh hệ thống kết cấu hạ
tầng trên các đảo và vùng ven biển, đảm bảo an sinh xã hội để người dân ra
định cư lâu dài trên các đảo, vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ an
14


ninh, chủ quyền vùng biển, đảo. Tạo ra các hành lang kinh tế ven biển với sự
liên kết và mang sức lan tỏa rộng. Có chính sách thích hợp để hình thành các
doanh nghiệp mạnh, đồng thời huy động các thành phần kinh tế trong nước
và nguồn lực quốc tế để khai thác có hiệu quả các tiềm năng từ biển và hải
đảo.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học công nghệ về quản lý và
phát triển kinh tế biển, đảo nhằm khai thác, sử dụng bền vững các nguồn tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo.
- Có biện pháp kịp thời ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, giảm
thiểu tối đa sự suy thoái tài nguyên biển và hải đảo, đa dạng sinh học biển và
các hệ sinh thái biển. Khẩn trương triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học
trong các lĩnh vực, đổi mới cơ cấu nghề nghiệp, phát triển các nghề mới
thích ứng với các vùng mặn hóa, hạn hán, ngập nước; áp dụng công nghệ
hiện đại vào các lĩnh vực khai thác khoáng sản, dầu khí, băng cháy, đóng tàu
và chế biến các sản phẩm của biển… Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế
trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ,
thu hút các nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các nước.
-Xây dựng và mạnh dạn cho tiến hành tái cơ cấu ngành kinh tế biển,





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status