THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 11
THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Using learners’competence based approach for designing
Vietnameses exercises in grade 11
TS. TÔN QUANG CƯỜNG
PHẠM THỊ THU HƯƠNG
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Thiết kế nội dung, chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực đầu ra
của người học là một xu hướng rất được quan tâm trong thực tiễn giáo dục hiện nay tại Việt
Nam và trên thế giới. Trong đó, tiếng Việt là một trong những phân môn mang tính thực hành
cao, có tính liên môn ở chương trình Ngữ văn THPT, đóng góp trực tiếp vào quá trình hình
thành năng lực giao tiếp, sáng tạo, xử lý tình huống của HS. Các bài tập môn tiếng Việt cần
được thiết kế một cách có hệ thống, theo những nguyên tắc khoa học, bám sát định hướng
năng lực HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Summary
Competence based education program designing approach has been a popular
tendency in Vietnam and global educational practice. As an interdisciplinary, practical and
important part of Language Arts in secondary education, Vietnamese plays a vital role for
communicative, creative and problem solving competencies development for learnrs.
Designing exercises system in Vietnamese based on specific competencies can be used as an
appropriate way for quality and effectiveness improvement in Language Arts teaching
process.
Keywords: Learners’ competencies, competence based approach exercises design,
Language Arts teaching.
1. Đặt vấn đề
Trong vài năm gần đây, quá trình đổi mới phương pháp dạy học đã đặt ra
nhiều cơ hội và thách thức cho các hướng tiếp cận dạy và học Ngữ văn trong
nhà trường phổ thông. Một trong những mục tiêu trọng tâm của đổi mới dạy
học là giúp cho học sinh tiếp thu bài học một cách hiệu quả và phù hợp với
vươn tới một mục đích cụ thể (1).
Cũng tại diễn đàn này, J. Coolahan (UB châu Âu) cho rằng: năng lực
được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm,
các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực
hành GD” (2).
Hay,
Năng lực là tổ hợp các kĩ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện được một
dạng hoạt động nào đó (3).
Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu
tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách
nhiệm (4).
Các tác giả nêu trên đều khẳng định: “Năng lực là khả năng thực hiện,
hành động của con người chứ không đơn thuần là kiến thức nhất định”, nói đến
năng lực là phải biết làm (know-how), không chỉ biết và hiểu (know-what).
Năng lực đầu ra (competency) có mối quan hệ biện chứng mật thiết với kết quả
cuối cùng (outcome) ở người học và kết quả đó chính là một trong những chỉ số
của năng lực, ngược lại, năng lực là sự diễn đạt một cách đầy đủ cho một kết
quả cụ thể [8].
2
Có nhiều cách phân loại năng lực khác nhau nhưng các nhà giáo dục
thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) và trong dự án Điều chỉnh
cấu trúc giáo dục tại Châu Âu (TUNING Education Structure in Europe) đã đề
xuất phân loại các năng lực cần hình thành ở người học trong thế kỉ XXI theo 2
nhóm lớn, bao gồm: nhóm năng lực chung (generic) và nhóm năng lực chuyên
biệt/năng lực cụ thể (specific). Chương trình giáo dục OECD đã đề xuất 4 nhóm
năng lực then chốt, các nước trong khối EU xác lập 8 nhóm năng lực chính,
nhiều quốc gia trên thế giới cũng đưa ra hệ thống năng lực của người học căn
cứ theo xu thế toàn cầu, bối cảnh giáo dục và cách tiếp cận đặc trưng của từng
Xác định các tiêu chí
thực hiện hành động
Thiết kế các tiêu chí
đánh giá (Rubrics)
Xác định giá trị
và các mức cần đạt
Thiết kế các hoạt
động dạy học
Kiểm tra
Đánh giá
Xây dựng hệ
thống bài tập
NL: Năng lực chung
NLCB: Năng lực chuyên biệt
KN: Kĩ năng
Sơ đồ 1: Triển khai dạy học TCNL
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy, quy trình dạy học theo định hướng năng lực
HS được tiến hành theo các bước: Xác định năng lực (trong đó, cụ thể hóa đến
các năng lực cơ bản, hệ thống các kĩ năng,…). Sau khi xác định năng lực sẽ tiến
hành thiết kế các nhiệm vụ thực hiện (phải trả lời được câu hỏi: HS sẽ làm gì
- Năng lực giải quyết vấn đề gồm: trình bày một vấn đề, đưa ra nhiều
phương án giải quyết vấn đề, sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ,…
- Năng lực tư duy phê phán, tư duy logic.
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
Hệ thống năng lực chung dành cho môn Tiếng Việt được xây dựng dựa
trên hệ thống năng lực chung và bổ sung thêm một số năng lực cần thiết cho
môn học cũng như lược bỏ bớt những năng lực không cần thiết. Hệ thống năng
lực đưa ra sẽ được cụ thể hóa thành các tầng bậc năng lực và kĩ năng khác nhau
(xem sơ đồ 2).
N: Năng lực, K: Kĩ năng; BT: Bài tập
5
Sơ đồ 2: Phân tầng hệ thống năng lực
4. Hệ thống bài tập Tiếng Việt hiện hành và nguyên tắc thiết kế hệ
thống bài tập theo định hướng năng lực HS
Với số lượng 13 bài, 18 tiết thì các bài thực hành, luyện tập chiếm hơn
50% tổng số bài họctrong chương trình tiếng Việt lớp 11 hiện hành. Tuy nhiên,
với tên gọi là các bài học là “thực hành, luyện tập”, nhưng thực tế qua khảo sát
các bài tập, chúng tôi nhận thấy, “hầu hết hệ thống bài tập Tiếng Việt ở sách
giáo khoa Ngữ Văn chương trình phổ thông chủ yếu được dùng để minh họa lý
thuyết về tiếng Việt mà HS vừa học, nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưa
thể hiện được rõ nét các nguyên tắc giáo dục học trong dạy học thực hành tiếng
Việt” [7]. Các bài tập “chỉ mới dừng lại ở mức vận dụng những kiến thức để
phân tích, nhận diện, so sánh, đối chiếu, thay thế các yếu tố hay hoàn chỉnh văn
bản, sửa chữa lỗi,… mà chưa có những bài tập yêu cầu HS vận dụng kiến thức
để tạo lập một văn bản mới (đoạn văn) có sử dụng các kiến thức vừa học” [1].
Trong môn Tiếng Việt, có những dạng bài tập đặc trưng mà các nhà khoa
làm chủ ngôn ngữ; NL giải quyết vấn đề; NL tư duy phê phán, tư duy logic; NL
sử dụng công nghệ thông tin;…Vì chú trọng đến kĩ năng, năng lực của học sinh
nên bài tập dạng này sẽ chiếm số lượng lớn hơn cả trong hệ thống bài tập mà
người viết xây dựng. Bên cạnh đó, các hình thức thể hiện của dạng bài tập này
cũng phong phú hơn các các dạng khác: bài tập tự luận; bài tập định dạng bằng
văn bản, video, hoạt động; bài tập ở nhà, bài tập trên lớp;…
Bài tập vận dụng có thể chia làm hai mức rõ rệt là: Bài tập Vận dụng
thành thạo và Bài tập vận dụng sáng tạo. Trong đó, Bài tập Vận dụng thành
thạo gồm các dạng như: tạo lập sản phẩm theo mẫu, tạo lập sản phẩm theo
những yêu cầu nhất định hay bài tập sửa chữa. Học sinh dựa trên cơ sở những
tri thức chung và tri thức riêng về ngôn ngữ để vận dụng, sáng tạo nên sản phẩm
ngôn ngữ mang dấu ấn cá nhân. Sau khi hoàn thành loại bài tập này, học sinh sẽ
hình thành nên nhiều năng lực tổng quát. Bài tập vận dụng sáng tạo là loại bài
tập yêu cầu cao nhất về kĩ năng, khả năng thực hiện của HS. Các em dựa trên
những tri thức chung và riêng về ngôn ngữ để vận dụng, sáng tạo nên sản phẩm
ngôn ngữ mang dấu ấn cá nhân. Sau khi hoàn thành loại bài tập này, HS sẽ hình
thành nhiều năng lực tổng quát. Dạng bài tập vận dụng sáng tạo sẽ đưa ra nhiều
tình huống có vấn đề gắn liền với cuộc sống, với thực tế giao tiếp bằng ngôn
ngữ, đòi hỏi HS phải tư duy để giải quyết vấn đề theo cách riêng của mình, phát
triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cá nhân, phù hợp với bài thực hành tiếng Việt
7
(chiếm 60% chương trình tiếng Việt lớp 11), có số lượng nhiều nhất trong hệ
thống bài tập Tiếng Việt định hướng năng lực HS.
5. Kết luận
Trong thời đại hội nhập toàn cầu như hiện nay, giáo dục và đào tạo phải
luôn thường xuyên cập nhật, đổi mới để tiến kịp xu thế toàn thế giới. Vì vậy,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng Đề án đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục Việt Nam sau năm 2015 hướng tới đào tạo theo năng lực HS. Việc thiết
Nguồn: website: giaoducthoidai.vn ngày 8 tháng 2.
6. Website: />
8
7. Ton Quang Cuong, “Enhancing ICT-embedded Competences in Applying Project-based
Learning (PjBL) Method”, International Journal of Multidisciplinary Educational Research,
Vol 1, Issue 6, Dec 2012. ISNN 2277-7881.
8. Quebec Educational Reform (2005) - www.6swlauriersb.qc.ca
9