ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-------0o0--------
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NHU CẦU HỌC BẰNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ – ĐẠI HỌC HUẾ
Mã số: SV2017-02-28
Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Mai
Lớp: K48B Quản Trị Kinh Doanh
Huế, 12/2017
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-------0o0--------
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NHU CẦU HỌC BẰNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ – ĐẠI HỌC HUẾ
Mã số: SV2017-02-28
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
1.1.1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài......................................................4
1.1.1.1. Nghiên cứu về nhu cầu .......................................................................................4
1.1.1.2. Những nghiên cứu về nhu cầu học tập ...............................................................7
1.1.2. Những nghiên cứu của các tác giả trong nước ......................................................8
1.1.2.1. Nghiên cứu về nhu cầu .......................................................................................8
1.1.1.2. Nghiên cứu về nhu cầu học tập ..........................................................................8
1.2. Một số vấn đề về nhu cầu.......................................................................................9
1.2.1. Khái niệm nhu cầu.................................................................................................9
1.2.2. Đặc điểm nhu cầu ................................................................................................10
1.2.3. Phân loại nhu cầu.................................................................................................11
1.2. Nhu cầu học tập ....................................................................................................12
1.2.1. Khái niệm nhu cầu học tập ..................................................................................12
1.2.2. Đặc điểm nhu cầu học tập ...................................................................................12
1.2.3. Mối quan hệ giữa nhu cầu học tập và nhu cầu nhận thức ...................................13
1.3. Sinh viên, hoạt động học tập của sinh viên ........................................................14
1.3.1. Sinh viên ..............................................................................................................14
1.3.2. Hoạt động học tập................................................................................................15
1.4. Tài liệu tiếng Anh .................................................................................................15
1.5. Áp dụng việc dạy tài liệu tiếng Anh trong chương trình giảng dạy bậc đại học trên
Thế giới..........................................................................................................................16
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................18
2.1 Giới thiệu chung về trường đại học Kinh Tế ......................................................18
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ...........................................................................18
2.1.2 Sứ mệnh – Tầm nhìn – Giá trị cốt lõi ...................................................................18
2.1.3 Cơ cấu tổ chức ......................................................................................................19
2.2. Thực trạng giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh tế Huế20
2.3. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................21
2.3.1. Các phương pháp nghiên cứu chính ....................................................................21
2.3.2. Mô hình nghiên cứu.............................................................................................22
2.3.3. Phương pháp chọn mẫu .......................................................................................25
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chọn mẫu phân tầng theo ngành học
Bảng 2.2: Chọn mẫu phân tầng theo khóa.
Bảng 3.1: Kiểm định mối liên hệ giữa Kết quả học tập của sinh viên gần đây và biến
Kết quả trung bình ở các môn học bằng tài liệu tiếng Anh đã đạt được của sinh viên.
Bảng 3.2: Kiểm định mối liên hệ giữa biến Kết quả trung bình của sinh viên ở các
môn học bằng tài liệu tiếng Anh và biến Mức độ tự tin để học các môn khác tương tự.
Bảng 3.3: Kiểm định mối liên hệ giữa biến Kết quả trung bình của sinh viên ở các
môn học bằng tài liệu tiếng Anh với biến Trình độ tiếng anh của sinh viên ở mức nào.
Bảng 3.4. Đánh giá độ tin cậy của thang đo trước khi tiến hành kiểm định.
Bảng 3.5. Kiểm định điều kiện phân tích EFA cho biến độc lập.
Bảng 3.6. Ma trận xoay nhân tố.
Bảng 3.7. Nhân tố mới tác động đến nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh.
Bảng 3.8. Kiểm định điều kiện phân tích EFA cho 11 biến phụ thuộc trong “nhu cầu
chung”.
Bảng 3.9. Ma trận tương quan giữa các biến.
Bảng 3.10. Mô hình hồi quy tóm tắt.
Bảng 3.11. Kết quả phân tích ANOVA.
Bảng 3.12. Bảng kiểm định phân phối chuẩn của số liệu.
Bảng 3.13. Bảng kết quả phân tích hồi quy đa biến.
Bảng 3.14. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến.
i
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân loại sinh viên
Biểu đồ 3.2: Kết quả trung bình các môn học bằng tài liệu bằng tiếng Anh
Biểu đồ 3.3: Mức độ tự tin học các môn khác tương tự bằng tài liệu tiếng Anh
Nhu cầu quan hệ
G
Growth needs
Nhu cầu phát triển
SV
Sinh viên
BTSV
Bản thân sinh viên
TL
Tài liệu
GV
Giảng viên
NT
Nhà trường
NCC
Nhu cầu chung
Kinh Tế- Đại học Huế từ đó dựa vào tình hình thực tiễn điều tra và phân tích được để
xét xem có nên áp dụng phương pháp giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh cho sinh viên
tại trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế hay không.
• Mụ c tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh.
- Xác định nhu cầu, phương pháp, cách tiếp cận của sinh viên về việc học bằng tài
liệu tiếng Anh
- Đánh giá được thực trạng, mức độ hiểu biết, khả năng học các môn chuyên ngành
bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Huế.
- Định hướng phương pháp, cách tiếp cận, nghiên cứu tài liệu tiếng Anh hiệu quả.
3. Tính mới và sáng tạo
Khám phá được các yếu tố ảnh hưởng đến Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh
của sinh viên. Bên cạnh các yếu tố về “ý hướng”, “ý muốn”, “ý định” thuộc cái vốn có
của con người mà nhu cầu học tập ở đây còn ảnh hưởng bởi các yếu tố từ môi trường
bên ngoài, bao gồm yếu tố thuộc về Giảng viên, yếu tố thuộc về kiến thức trong tài
liệu tiếng Anh đó có.
4. Các kết quả nghiên cứu thu được
- Các yếu tố ảnh hưởng đến Nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên
trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế. Thông qua phỏng vấn chuyên gia bằng
iv
bảng hỏi định tính và khảo sát nhu cầu cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nhu
cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế - Đại học
Huế bằng bảng hỏi.(Các yếu tố có thể làm tăng nhu cầu cũng như có thể làm suy
giảm nhu cầu ở sinh viên).
- Giải pháp để đáp ứng nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh ở mức cao của sinh
viên, bao gồm các giải pháp đến Bản thân sinh viên, Giảng viên, Kiến thức trong
tài liệu tiếng Anh được áp dụng.
5. Các sản phẩm của đề tài
đại, để vừa hiểu được bản chất vấn đề vừa khai thác những phương pháp tích cực
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Trong xu hướng chung về đào tạo tiếng Anh như
một ngoại ngữ (Teaching English as a Foreign Language - TEFL), đã có nhiều nghiên
cứu đề cập việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành (English for Specific Purposes ESP) cùng những thách thức về chương trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy và
phương pháp học tập loại hình tiếng Anh có tính chuyên biệt này. Xét về lý thuyết,
việc đào tạo phải đạt được mục tiêu quy mô lớn về số lượng và đạt chuẩn về chất
lượng, nhằm đáp ứng nhu cầu của một đối tượng đào tạo đông đảo trong xã hội, và
nhằm tạo ra những sản phẩm đào tạo có chất lượng thật sự - có nghĩa là người học sẽ
vận dụng tốt những kiến thức có được từ việc nghiên cứu tài liệu bằng tiếng anh trong
công việc của họ sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, thực tế đào tạo kiến thức cho sinh viên
bằng tài liệu tiếng Anh trong thời gian qua bộc lộ những khó khăn và hạn chế về nhiều
mặt; dẫn đến việc nhiều cơ sở đào tạo không đạt được những mục tiêu mong muốn khi
đầu tư cho công tác này.
Để đạt được cả mục tiêu giao tiếp lẫn sử dụng trong công việc về sau thì việc sử
dụng tài liệu tiếng Anh cho việc học là một hướng đi đang được lựa chọn tại nhiều
trường Đại Học. Tuy nhiên, sinh viên sử dụng tài liệu tiếng Anh để học các môn
chuyên ngành là một thách thức không nhỏ đối với họ bởi có sự khác biệt giữa năng
lực và trình độ tiếng Anh của từng người. Và còn phụ thuộc vào phương pháp giảng
dạy, truyền đạt của thầy (cô) đến sinh viên. Mặt khác trong quá trình học sinh viên
phải lao động gấp đôi, một mặt vừa tiếp thu kiến thức chuyên môn mà nhiều phần còn
khó hiểu ngay cả khi được giảng bằng tiếng Việt, một mặt vừa phải hiểu và học nội
dung đó bằng tiếng Anh. Nếu không có phương pháp và tiếp cận phù hợp thì cả mục
tiêu nâng cao năng lực ngoại ngữ cũng như hiểu được các kiến thức chuyên ngành sẽ
không đạt được. Đối với trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế, việc tìm hiểu, làm rõ
1
nội dung nhu cầu học tập bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên, phân tích thực trạng,
những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này nhằm kích thích tinh thần học tập của các
sinh viên trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quan trọng và mang tính thời sự.
STT
1
2
Các nội dung, công việc
Sản phẩm
(bắt đầu-kết
thúc)
thực hiện chủ yếu
Xây dựng cơ sở lý luận
Thời gian
Cơ sở lý luận để viết đề tài
Xác định các yếu tố ảnh
Nghiên cứu định tính:
hưởng đến Nhu cầu học
Phỏng vấn chuyên gia
bằng tài liệu tiếng Anh của
(giảng viên và sinh viên)
sinh viên
01/2017 –
02/2017
4
Đề xuất các giải pháp
5
Hoàn thiện đề tài, chỉnh
sửa và in ấn
Nghiệm thu và bảo vệ đề tài
10/2017 –
11/2017
12/2017
3
PHẦN 2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập
Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên trong giai đoạn hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay với tư cách là động lực thúc đẩy sinh viên học tập, nâng
cao nhận thức, góp phần tạo ra của cải vật chất cho chính sinh viên và cho sự phồn
vinh của toàn xã hội nên cần thiết phải điểm qua các nghiên cứu đã được tiến hành
trong và ngoài nước về vấn đề nhu cầu cũng như nhu cầu học tập.
1.1.1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứ u về nhu cầ u
- Nghiên cứu của các nhà tâm lý học phương Tây
Là bước khởi đầu của nhu cầu. Ở mức độ này, nhu cầu chưa được phản ánh đầy
đủ, rõ ràng vào ý thức mà chủ thể mới chỉ ý thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân
về một cái gì đó nhưng chưa ý thức đầy đủ về đối tượng và khả năng thỏa mãn nhu
cầu. Điều này thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng và phương thức thỏa mãn
để giải quyết nó. Khi chủ thể tự trả lời được câu hỏi "thiếu hụt về cái gì" thì lúc đó nhu
cầu đã chuyển sang mức độ cao hơn, đó là ý muốn.
Ý muốn
Ở giai đoạn này, chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa đựng khả năng thỏa
mãn nhu cầu, mục đích hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu. Nghĩa là, chủ thể đã ý thức
cả về đối tượng của nhu cầu và cả mục đích, động cơ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu
cầu tuy nhiên vẫn tiếp tục tìm kiếm các phương thức và điều kiện thỏa mãn nhu cầu.
Khi cách thức thỏa mãn nhu cầu được chủ thể ý thức đầy đủ thì nhu cầu sẽ chuyển
sang mức độ cao hơn nữa, đó là ý định.
Ý định
6
Đến giai đoạn này, chủ thể ý thức đầy đủ cả về đối tượng lẫn cách thức, điều kiện
nhằm thỏa mãn nhu cầu, xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hoạt
động. Nhu cầu đã có hướng và đã được “động cơ hóa”, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hoạt
động để thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ
thể hoạt động nhằm thỏa mãn nó. Đồng thời, lúc này chủ thể có khả năng hình dung về
kết quả của hoạt động.
Qua đó, Rubinxtêin cho rằng để tồn tại và phát triển con người luôn phải hoạt động
nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định. Một lần nữa khẳng định, nhu cầu tất yếu phải
kéo theo hành động. Nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụ
động. Tính tích cực của nhu cầu thể hiện: nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động
tìm kiếm các cách thức, phương tiện, đối tượng để thỏa mãn nó. Tính thụ động thể
hiện ở chỗ khả năng thỏa mãn nhu cầu lệ thuộc vào chính thế giới đối tượng tồn tại
điều mới mẻ và lạ lẫm so với kinh nghiệm của trẻ. Trẻ luôn có ham muốn khám phá,
hiểu biết thế giới xung quanh. Nhu cầu học tập của trẻ được phát triển từ thấp đến cao.
Ở mức độ cao, nhu cầu là động lực thúc đẩy trẻ học tập chiếm lĩnh tri thức và thỏa mãn
nó. Bozovich là người có công xây dựng nền móng trong nghiên cứu nhu cầu học tập.
Nghiên cứu về nhu cầu học tập của các tác giả kể trên chủ yếu tập trung vào
nhu cầu học tập, khám phá những tri thức mới trong nhà trường.
1.1.2. Những nghiên cứu của các tác giả trong nước
1.1.2.1. Nghiên cứu về nhu cầu
Ở Việt Nam hiện có khá nhiều các nghiên cứu về vấn đề nhu cầu, cả về mặt lý
luận cũng như thực tiễn. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau:
Về mặt lý luận, trong các tài liệu tâm lý học đại cương, nhiều tác giả đã bàn
luận về nhu cầu ở một số khía cạnh: khái niệm, phân loại, vai trò của nhu cầu... (Phạm
Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành,...).
Các tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm của tâm lý học hoạt động khi xem xét nhu cầu
với tư cách là thành tố nằm trong tiểu cấu trúc xu hướng của nhân cách, là nguồn gốc
của tính tích cực hoạt động của con người.
Về mặt thực tiễn, có thể kể đến các nghiên cứu của tác giả Lã Thị Thu Thủy
(2006) với "Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ", Hà Thị Bình Hòa với
"Nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền", Lê Thanh Hương (2001) với "Động
cơ thành đạt trong nghiên cứu khoa học của cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn Quốc gia"...
1.1.1.2. Nghiên cứu về nhu cầu học tập
Một số nghiên cứu về nhu cầu học tập có liên quan đến đề tài như sau:
Nghiên cứu nhu cầu thành đạt và mối quan hệ của nó với tính tích cực nhận
thức của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm và Đại học Bách Khoa thành phố Hồ
Chí Minh, tác giả Võ Thị Ngọc Châu (1999) trong luận văn của mình đã chỉ ra ảnh
hưởng của nhu cầu thành đạt đến tính tích cực nhận thức của sinh viên và đưa ra một
số biện pháp giáo dục nhu cầu thành đạt và tính tích cực nhận thức cho sinh viên.
Tác giả Nguyễn Văn Luỹ khi nghiên cứu trên khách thể là 62 em học sinh tiểu
học học kém và 170 em có học lực từ trung bình trở lên tại địa bàn thành phố Đà Nẵng
Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới. Tuy nhiên, những nghiên cứu riêng về
vấn đề này với tư cách là một công trình nghiên cứu chuyên sâu còn rất ít ỏi.
1.2. Một số vấn đề về nhu cầu
1.2.1. Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu được xem là một thành tố cơ bản thuộc nhóm xu hướng, nằm trong cấu
trúc nhân cách của cá nhân. Trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau về khái
niệm nhu cầu.
Từ điển Tâm lý học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên định nghĩa nhu cầu
là: "Điều cần thiết để tồn tại và phát triển. Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì
khó chịu, căng thẳng, ấm ức"
GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: "Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con
người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển"
9
Trong tài liệu Tâm lý học quân sự, GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú đưa ra định
nghĩa: "Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, khách quan, biểu hiện sự cần thiết về một
cái gì đó cần phải được thỏa mãn của con người trong cuộc sống và hoạt động".
Tác giả A.G.Côvaliôp đã đề cập đến vấn đề nhu cầu với tư cách là nguồn gốc
tính tích cực hoạt động của con người. Theo ông, nhu cầu và sự thỏa mãn các nhu cầu
của con người là động cơ thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của từng cá nhân và
của cả tập thể nói chung. Từ góc độ tâm lý học xã hội, Côvaliôp quan niệm "Nhu cầu
là sự đòi hỏi của nhóm xã hội muốn có những điều kiện sống và phát triển nhất định...
Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn các ý nghĩ, các rung cảm và ý chí của quần
chúng, nó qui định hoạt động xã hội của giai cấp hoặc của tập thể". Ông cũng nhấn
mạnh nhu cầu của con người là đa dạng, nó mang tính lịch sử và gắn liền với nền sản
xuất xã hội, với sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội. Nhu cầu của
con người vô cùng phong phú và đa dạng. Sự phát triển của con người, loài người là
quá trình đáp ứng những nhu cầu, đồng thời cũng là quá trình nảy sinh những nhu cầu
con người ngày càng phong phú và đa dạng, được mở rộng và không ngừng tăng lên
về mặt số lượng và chất lượng. Nhu cầu của con người và mức độ thỏa mãn chúng phụ
thuộc rất nhiều vào nền sản xuất của xã hội và rất nhiều yếu tố khác như: thói quen,
phong tục, tập quán cũng như trạng thái riêng của từng chủ thể.
Nhu cầu và hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhu cầu là điều kiện
bên trong của hoạt động và luôn gắn liền với hoạt động có đối tượng của chủ thể.
Cùng với sự phát triển của khoa học- kĩ thuật và công nghệ, nhu cầu về vật chất của
con người mỗi ngày một cao hơn nhưng không phải là vô hạn còn nhu cầu về văn hóa
tinh thần lại tăng lên, không có giới hạn. Không những thế, con người có khả năng
nhận thức được đầy đủ nhu cầu của mình (nội dung, đối tượng, phương thức thỏa mãn
nó). Trước khi thực hiện hành động nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, con
người thường đối chiếu nó với các chuẩn mực (đạo đức, pháp luật...), từ đó tự điều
khiển, điều chỉnh hành động của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.
1.2.3. Phân loại nhu cầu
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng. Các nhà tâm lý học đã căn cứ
vào các tiêu chí khác nhau để phân loại nhu cầu của con người.
Căn cứ vào điều kiện tồn tại của đối tượng nhu cầu chia thành nhu cầu vật chất
và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của cơ thể
con người (nhu cầu về thức ăn, nhà ở, quần áo để chống rét...). Chính nó thúc đẩy hoạt
động lao động và sáng tạo của con người, làm ra của cải vật chất, tạo cơ sở của toàn bộ
lịch sử tồn tại của loài người. Nhu cầu tinh thần có liên quan trực tiếp tới những đòi
hỏi về cái đẹp (cách cư xử giữa người và người... sao cho hợp đạo lý), có nguồn gốc
sâu xa từ trong nền văn minh. Chẳng hạn, nhu cầu về nghệ thuật (âm nhạc, hội họa,
kiến trúc...).
Căn cứ vào chủ thể của nhu cầu, phân chia thành nhu cầu cá nhân và nhu cầu
xã hội. Nhu cầu cá nhân là nhu cầu của một cá nhân riêng lẻ còn nhu cầu xã hội là nhu
cầu của một nhóm người như một chỉnh thể thống nhất. Nhu cầu của cá nhân gắn chặt
với cá tính của mỗi người.
Căn cứ vào các mức độ của nhu cầu phân thành nhu cầu bậc thấp (nhu cầu vật
chất) và nhu cầu bậc cao (nhu cầu tinh thần). Điển hình cho cách phân loại này là nhà
vượt qua mọi khó khăn để giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề của cuộc sống.
Nhu cầu học tập được hình thành trên cơ sở con người nhận thức được vai trò,
mục đích, ý nghĩa của sự học đối với bản thân. Nhu cầu học tập có liên quan đến
những giai đoạn phát triển khác nhau của nhân cách. Vì vậy, để hình thành và phát
triển nhu cầu học tập của con người cần phải làm cho nó chuyển từ trạng thái tiềm ẩn
sang trạng thái hoạt động.
1.2.2. Đặc điểm nhu cầu học tập
Nhu cầu học tập là trạng thái thiếu hụt của con người đối với các tri thức, kinh
nghiệm trong cuộc sống. Nhu cầu học tập được hình thành trên cơ sở những yêu cầu,
đòi hỏi của thực tiễn đời sống và được bộc lộ thông qua tính sẵn sàng tham gia hoạt
động nhận thức, qua sự tích cực tìm tòi kiến thức. Nhu cầu học tập là động lực thúc
đẩy con người hiện thực hóa mối quan hệ với thế giới xung quanh trên phương diện là
một thành viên của loài người. Nhu cầu học tập của con người được xem xét trên cơ sở
12
một số đặc điểm cơ bản là tính đối tượng, tính chu kì và phương thức thỏa mãn nhu
cầu.
Đối tượng của nhu cầu học tập: tâm lý học hoạt động khẳng định nhu cầu bao
giờ cũng mang tính đối tượng. Là một nhu cầu tinh thần của con người, đối tượng của
nhu cầu học tập chính là "cái gì đó" ngoài cá nhân, nằm trong nền văn hóa xã hội, có
khả năng thỏa mãn nhu cầu đó và khi được phản ánh trong đầu óc con người thì nó trở
thành động cơ thúc đẩy họ tích cực hoạt động vươn tới chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hộilịch sử của loài người. Hay nói cách khác nhu cầu học tập được hiện thực hóa ra bên
ngoài thông qua động cơ học tập. Nhu cầu học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhu
cầu nhận thức, với động cơ học tập của con người và như A.N.Leonchiev đã khẳng
định: "sự phân tích các nhu cầu về mặt tâm lý học không thể nào tránh khỏi không
chuyển thành sự phân tích các động cơ".
Nhu cầu học tập không tồn tại một cách tự thân vì chúng không phải là thực thể
mà là hiện tượng tâm lý đặc trưng của con người, chúng phải hiện thân vào một thực
thể khác là đối tượng của hoạt động học tập. Do đó khi phân tích nhu cầu học tập
người. Và theo tác giả, bản thân khái niệm hoạt động nhận thức có nội hàm rộng hơn
so với khái niệm hoạt động học tập. Hoạt động nhận thức là quá trình con người nhận
biết và hiểu biết thế giới khách quan còn hoạt động học tập, theo nghĩa rộng nhất, là
học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng. Từ góc độ tâm lý học thì "hoạt động học
là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt
động nhất định, những giá trị". Hoạt động học tập trong tâm lý học sư phạm thường
gắn với giáo dục nhà trường và được hình thành nhờ phương pháp nhà trường. Hoạt
động học tập được coi là một dạng của hoạt động nhận thức của con người.
Khi cá nhân tham gia hoạt động học tập thì nhu cầu nhận thức sẽ phát triển lên
thành nhu cầu học tập. Khi đối tượng của hoạt động học (tri thức và phương thức lĩnh
hội tri thức) được cá nhân cảm nhận ý nghĩa của nó đối với mình và trở thành động cơ
thúc đẩy họ tích cực học tập thì có thể nói đối tượng thỏa mãn nhu cầu nhận thức đồng
thời cũng là đối tượng của nhu cầu học tập, nhu cầu nhận thức lúc này trở thành nhu
cầu học tập. Đó là khi xem xét nhu cầu nhận thức của cá nhân trong phạm vi hoạt động
học tập ở nhà trường còn nếu nhìn nhận ở bình diện chung thì nhu cầu nhận thức có
nội dung đối tượng phong phú hơn so với nhu cầu học tập do phạm vi đối tượng của
hoạt động nhận thức rộng hơn so với hoạt động học tập.
1.3. Sinh viên, hoạt động học tập của sinh viên
1.3.1. Sinh viên
Khái niệmSinh viên (SV): Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tin “
Students” nghĩa là người làm việc học tập nhiệt tình, tìm kiếm và khai thác kiến thức.
Trông tiếng Việt thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ những người đang học ở bậc đại
học. Vì vậy khái niện sinh viên được hiểu như sau: Sinh viên là những người đã
trưởng thành về thể chất, xã hội tâm lý và vượt qua một kỳ thi tuyển với yêu cầu cao,
mag tính chất quốc gia, ngành nghề rõ ràng.
- Đặc điểm học tập của sinh viên
+ Hoạt động: Là một tổ hợp tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thõa mãn một
nhu cầu nhất định và chính kết quả hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể.
+ Đặc điểm hoạt động của SV: 1/ Chuẩn bị và đặc trưng về nghề nghiệp tương lai
Tài liệu là phương tiện bảo đảm thông tin cho quản lý và sản xuất. Theo nghĩa
rộng, tài liệu cần thiết cho mọi lĩnh vực hoạt động xã hội loài người, giúp loài người
ghi nhớ những tri thức và kinh nghiệm trong quá trình sống, làm việc và đấu tranh bảo
vệ quyền lợi của mình. Tài liệu hình thành khi các ký tự, chữ viết xuất hiện. (theo thư
viện quốc gia Việt Nam).
Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu,
sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi
hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi
ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và các vật mang tin khác.
15