vấn đề học tiếng anh của sinh viên trường đại học kinh tế - luật - Pdf 19

Vấn đề học Tiếng Anh của sinh viên Kinh tế - Luật Page 0

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do thực hiện đề tài: 2
2. Mục đích nghiên cứu: 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu: 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: 3
5. Phạm vi nghiên cứu: 4
6. Thời gian nghiên cứu: 4
7. Kinh phí dự kiến: 4
8. Tổng quan về đề tài nghiên cứu: 4
9. Giá trị thực tiễn của đề tài: 5
10. Tính mới của đề tài : 5
11. Kết cấu của bài nghiên cứu: 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1. Nguồn gốc Tiếng Anh: 8
2. Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế? 9
3. Tiếng Anh và chính sách giáo dục củaViệt Nam. 10
3.1. Vai trò chung của ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh đối với nền giáo
dục Việt Nam. 10
3.2. Chính sách giáo dục Tiếng Anh của nƣớc ta 11
4. Trình độ Tiếng Anh của lao động trẻ với nhà tuyển dụng: 12
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
KINH TẾ-LUẬT 13
1. Mô tả mẫu điều tra: 13
2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng học Tiếng Anh của sinh viên đại học
Kinh tế - Luật 14 1
1. Lý do thực hiện đề tài:
Bất kì một con ngƣời, một cộng đồng hay một quốc gia nào muốn phát
triển nhanh, muốn mở rộng quan hệ quốc tế, muốn mở cửa, hội nhập, tiếp thu
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới… thì không thể không biết Tiếng
Anh, không thể không có chiến lƣợc học ngôn ngữ này một cách quy mô và
nghiêm túc.
Đối với Việt Nam trong những năm gần đây, khi đất nƣớc đang ngày một
vƣơn ra thế giới, sự hợp tác về mọi mặt với nƣớc ngoài ngày càng nhiều thì Tiếng
Anh nhanh chóng trở thành một đòi hỏi cơ bản. Thành thạo Tiếng Anh đồng
nghĩa với việc có một công việc với thu nhập cao và nhiều những cơ hội thành
đạt khác. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà từ lâu môn Tiếng Anh đƣợc Bộ giáo
dục đƣa vào giảng dạy phổ biến là từ cấp trung học cơ sở, các trung tâm dạy
Tiếng Anh đƣợc mở ra với một tốc độ chóng mặt, và sinh viên ngày nay trƣớc
khi ra trƣờng đều cố gắng rèn luyện vốn Tiếng Anh với mong muốn tìm đƣợc
một công việc tốt.
Sinh viên Đại học Kinh Tế-Luật cũng không ngoại lệ. Trong suốt thời gian
học đại học, các bạn đƣợc đào tạo xuyên suốt với Tiếng Anh không chuyên và
Tiếng Anh chuyên ngành. Tuy nhiên muốn đạt đƣợc sự tiến bộ và đạt tới một
trình độ nhất định, đòi hỏi mỗi sinh viên phải tự trau dồi thật nỗ lực. Đa số các
bạn đều tìm đến các trung tâm hoặc học thêm bên ngoài với những hình thức
khác nhau, tuy nhiên việc học Tiếng Anh vẫn còn rất nhiều điều bất cập, chúng ta
không rõ là thực trạng học Tiếng Anh của các sinh viên nhƣ thế nào, việc đào tạo
Tiếng Anh cho sinh viên trên giảng đƣờng liệu đã thật sự hiệu quả chƣa, so với
những trƣờng đào tạo chuyên nganh kinh tế khác thì nhƣ thế nào? Trong khi đó
sự đòi hỏi trình độ của nhà trƣờng và xã hội với mỗi sinh viên là nhƣ nhau. Vậy
nên cần có những chính sách, hỗ trợ cho vấn đề học Tiếng Anh của sinh viên, và
cũng nhằm nâng cao trình độ của lớp lao động trẻ cho đất nƣớc.
Đó là lý do mà nhóm nghiên cứu muốn thực hiện đề tài “ Vấn đề học

những nhà lãnh đạo .

4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, nhóm chúng tôi sẽ áp dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu sau:
 Thảo luận nhóm để tìm ra các vấn đề liên quan đến đề tài
 Phƣơng pháp thu thập thông tin: khảo sát khoảng 200 bạn sinh viên của
trƣờng Đại học Kinh tế - Luật thuộc các khoa 4

 Phƣơng pháp xử lý thông tin: các số liệu thu đƣợc trong cuộc khảo sát sẽ
đc xử lý bằng các phần mềm Excel, SPSS…
 Phƣơng pháp phân tích số liệu: dùng để mô tả tình hình học Tiếng Anh
của sinh viên Kinh tế - Luật và rút ra kết luận.

5. Phạm vi nghiên cứu:
Sinh viên Đại học Kinh Tế - Luật, thuộc Đại Học Quốc Gia thành phố Hồ
Chí Minh.
6. Thời gian nghiên cứu:
Thời gian dự kiến: từ cuối tháng 09/2011 – 12/2011.
7. Kinh phí dự kiến:
Nhóm dự kiến thực hiện với kinh phí: 300.000 đồng.
8. Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
Học Tiếng Anh đối với sinh viên kinh tế cũng là vấn đề khá quan trọng và
đƣợc nhiều sự quan tâm từ các nhà giáo dục, đội ngủ giảng viên cũng nhƣ toàn
thể sinh viên. Do đó cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu, sách báo cũng nhƣ hội
thảo … nhằm giúp sinh viên học tốt hơn.
Đề tài “Tình hình tự học Tiếng Anh của sinh viên khoa Kinh tế - Quản

Chí Minh.
9. Giá trị thực tiễn của đề tài:
Sau khi đề tài hoàn thành, ban lãnh đạo và sinh viên trƣờng Đại học Kinh
Tế - Luật sẽ có một tầm nhìn đúng đắn về việc dạy và học Tiếng Anh ở trƣờng
với những phân tích số liệu cụ thể và xác thực nhất. Những hạn chế, bất cập còn
tồn tại và sự so sánh với nhu cầu đòi hỏi trình độ Tiếng Anh ngày càng cao của
xã hội.
Sản phẩm của đề tài còn là những giải pháp, đề xuất hợp lý, mang tính
thực tế cao, nắm bắt đúng nhu cầu hiện tại của sinh viên Đại học Kinh Tế - Luật.
10. Tính mới của đề tài :
 Thứ nhất, đối tƣợng và phạm vi của đề tài là sinh viên Đại học Kinh Tế -
Luật với những đặc thù riêng nên khi áp dụng đề tài cho trƣờng sẽ mang lại hiệu
quả cao.
 Thứ hai, đề tài đƣa ra đƣợc một số giải pháp thiết thực trong đó có thiết
kế một mô hình câu lạc bộ Tiếng Anh nhằm tạo một môi trƣờng học Tiếng Anh
tối ƣu với chi phí hợp lí nhất.
11. Kết cấu của bài nghiên cứu:
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Nguồn gốc của Tiêng Anh
2. Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế chung.
3. Tiếng Anh và chính sách giáo dục củaViệt Nam. 6

3.1. Vai trò chung của Tiếng Anh, đặc biệt đối với nền giáo dục Việt
Nam
3.2. Chính sách giáo dục chung của nƣớc ta đối với môn Tiếng Anh
4. Trình độ Tiếng Anh của lao động trẻ đối với các nhà tuyển dụng
CHƢƠNG 2 : THỰC TRẠNG VIỆC HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN


Tóm tắt chương 3:
Trọng tâm chƣơng này là đƣa ra các giải pháp mang tính thực tiễn cao có
thể áp dụng để giải quyết vấn đề học Tiếng Anh cho sinh viên
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN
Qua đề tài nghiên cứu, nhóm đã đƣa ra một cái nhìn trực diện và đầy đủ về
vấn đề học Tiếng Anh của sinh viên hiện nay, và đặc thù cho sinh viên Đại học
Kinh Tế - Luật. Qua phân tích thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân, đã đƣa ra đƣợc
các giải pháp khả thi có thể giúp cải thiện chất lƣợng dạy và học Tiếng Anh ở
trƣờng đại học Kinh tế - Luật, nhằm đáp ứng nhu cầu về Tiếng Anh của xã hội.
Pháp hiện nay), đã xâm chiếm lại Anh từ tay những bộ tộc. Tiếng Anh từ đó chịu
thêm ảnh hưởng của tiếng Pháp và tiếng Latinh, dưới các triều đình người
Norman đến từ Normandie.Các nhà ngôn ngữ học gọi Tiếng Anh phát triển trong
ba thế kỷ sau năm 1066 là Tiếng Anh trung cổ (Middle English). 9

Tiếng Anh cận đại (Modern English) bắt đầu vào thế kỷ 16 và người có
công nhất trong sự tiến triển này là nhà văn hào nổi tiếng của văn chương Anh:
William Shakespeare. Từ thế kỷ 16, người Anh đã quan hệ, tiếp xúc với nhiều dân
tộc trên khắp thế giới. Chính điều này, và thời kỳ Phục hưng xảy ra, đã tạo nên
nhiều từ mới và nhóm từ mới gia nhập vào ngôn ngữ này. Trong năm 1604 cuốn
từ điển Tiếng Anh đầu tiên đã được xuất bản.
Nhiều nhà ngôn ngữ học còn chia Tiếng Anh cận đại thành tiền cận đại
(Early Modern) và cận cận đại (Late Modern).Tiếng Anh cận cận đại diễn ra vào
đầu thế kỷ 19 khi Đế quốc Anh có thuộc địa trên khắp hoàn cầu. Tiếng Anh do đó
trải qua thêm một biến đổi khá lớn nữa vì nó không những trở thành một ngôn
ngữ quan trọng trên thế giới mà còn thâu nhập rất nhiều ngôn từ của các nền văn
hóa khác nhau.
(Nguồn: website http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Anh/ )
2. Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế?
Nƣớc Anh là một nƣớc thực dân có nền kinh tế phát triển rất sớm, là trung
tâm mua bán trao đổi hàng hóa trên thế giới nên từ xƣa các lái buôn nƣớc ngoài
đều phải hiểu rõ Tiếng Anh để dễ dàng buôn bán.
Ngoài ra, trƣớc đây nƣớc Anh đã sớm thống trị nhiều vùng đất trên thế giới
( khoảng ¼ lục địa) và sau này đa phần các cựu thuộc địa của Anh đều là những
nƣớc giàu có phát triển mạnh. Thêm vào đó Tiếng Anh phổ biến cũng nhờ vào
Mỹ. Tổ tiên của ngƣời Mỹ đa phần đến từ Anh, họ nói Tiếng Anh và Mỹ lại là
một quốc gia lớn mạnh có tầm ảnh hƣởng nhất thế giới.

các cuộc thi Olympics về toán học, vật lý … đều sử dụng Tiếng Anh làm ngôn
ngữ chính. Các nhà ngoại giao cũng đều dùng Tiếng Anh để giao tiếp với nhau.
Có nhiều ngƣời cho rằng không phải cứ học Tiếng Anh thì mới có thể phát
triển, mới bắt kịp thời đại.Phải hiểu rằng chúng ta không phải lệ thuộc vào Tiếng
Anh hay đề cao quá mức mà bắt buộc mọi ngƣời phải biết thì mới phát triển
đƣợc. Tiếng Anh cũng giống nhƣ một công cụ chính để tiếp cận tri thức thế giới
vì hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới đều dùng Tiếng Anh, mà muốn hội
nhập thì ít nhất chúng ta cũng phải thành thạo, am hiểu về văn hóa của nƣớc
khác.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta có thể bắt gặp Tiếng Anh ở mọi nơi.
Ví dụ điển hình nhƣ tên của các trƣờng đại học hiện nay, hầu hết các trƣờng đều
sự dụng tên Tiếng Anh đi kèm với tên tiếng Việt của trƣờng và kí hiệu trƣờng
thƣờng lấy từ tên Tiếng Anh nhƣ: Trường ĐH Kinh tế - Luật ( UEL –
University of Economics and Law),ĐH Kinh tế TPHCM ( UEH – University of 11

Economics Ho Chi Minh city), ĐH Sài Gòn ( SGU – Sai Gon University), ĐH
Quốc tế ( IU – International University),….
3.2. Chính sách giáo dục Tiếng Anh của nước ta
Việc xác định rõ vị trí của Tiếng Anh trong ngôn ngữ dùng trong các nước
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là điều rất cần thiết để tìm ra
phương pháp dạy và học có hiệu quả. Ở Việt Nam, rất nhiều người đồng tình với
việc Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai (second language). Nếu coi Tiếng Anh là
ngôn ngữ thì nó phải được sử dụng ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực. Thực tế, Tiếng
Anh ở Việt Nam chỉ dùng để giảng dạy trong trường học. Mục đích của việc học
là để đọc sách báo, tài liệu hay giao tiếp với người nước ngoài bằng Tiếng Anh.
Do vậy, nó chỉ dừng lại ở vị trí ngoại ngữ. Hiện nay Tiếng Anh coi là ngoại ngữ
chính thứ nhất (first foreign language), bên cạnh tiếng mẹ đẻ (first language,

nay nó còn là một thƣớc đo đối với nhà tuyển dụng khi tuyển lao động trẻ.
Việt Nam đang trên đƣờng phát triển hội nhập quốc tế nên ngày càng có
nhiều công ty, doanh nghiệp đầu tƣ vào các lĩnh vực trong nƣớc.Và Tiếng Anh
luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà tuyển dụng. Chính vì thực tế này mà
chúng ta có thể thấy các bạn du học sinh trở về nƣớc luôn tìm đƣợc công việc tốt
với mức lƣơng cao ở các công ty nƣớc ngoài.
Chẳng những các công ty nƣớc ngoài đòi hỏi trình độ ngoại ngữ, đặc biệt
là Tiếng Anh, đối với ngƣời lao động mà ngày nay các công ty trong nƣớc cũng
không kém quan tâm đến vấn đề này. Bất kỳ một công ty nào tại Việt Nam đều
mong muốn có cơ hội mở rộng thị trƣờng ra nƣớc khác, và một ngƣời thành thạo
Tiếng Anh sẽ luôn đƣợc ƣu tiên hơn.

13

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HỌC TIẾNG ANH

15,5
Kinh tế công
22
12,6
28,2
Tài chính ngân hàng
27
15,5
43,7
Kế toán kiểm toán
33
19
62,6
Hệ thống thông tin quản lí
15
8,6
71,3
Quản trị kinh doanh
22
12,6
83,9
Ngành luật
28
16,2
100
Total
174
100
tế học
(%)
Kinh
tế đối
ngoại
(%)
Kinh
tế
công
(%)
Taì
chính
ngân
hàng
(%)
Kế
toán
kiểm
toán
(%)
Quản
trị
kinh
doanh
(%)
Thông
tin
quản

(%)

13.7
Khá
6.2
11.5
12.5
18.8
18.8
14.7
5.2
12.5
Thành thạo
0
0
0
0
0
0
0
0 Qua số liệu ta có ngành Thông tin quản lí có trình độ rất tệ cao nhất
(16*2=32%). Điều này cho thấy trình độ Tiếng Anh của một ngành khá coi trọng
về mặt kĩ thuật, lập trình sẽ kém hơn những khối ngành chuyên về kinh tế, một
điều đáng lƣu ý nữa là 100% sinh viên trong mẫu khảo sát ngành thông tin quản
lí là thi đầu vào khối A
2.1.2. Khối thi đầu vào của sinh viên

viên khối D. Tỉ lệ sinh viên trả lời có trình độ rất tệ gần nhƣ rơi vào sinh viên
khối A ( 91.8%). Khi trình độ càng tăng dần thì tỉ lệ sinh viên khối A giảm dần
và số sinh viên khối D tăng lên. Tỉ lệ sinh viên có trình độ khá và thành thạo của
khối D lần lƣợt là 53.1% và 62.5%, cao hơn tỉ lệ của sinh viên khối A
Khối

Trình độ

A (%)

D (%)
Rất tệ
91.8
8.2
Hơi tệ
72.3
27.7
Bình thƣờng
61.5
38.5
Khá
46.9
53.1
Thành thạo
37.5
62.5 17



Không hài lòng
129
12,4%
74,1%
Bình thƣờng
523
50,1%
300,6%
Cũng tốt
355
34,0%
204,0%
Rất hài lòng
36
3,5%
20,7%
Tổng

100,0%
599,4% 18

- Chất lượng giảng viên : 47.7% sinh viên đánh giá chất lượng giảng viên tốt.
- Thời gian học trên lớp: vừa đủ và 52.3% sinh viên đánh giá là bình thường.
- Khối lượng chương trình học: 52.3% sinh viên đánh giá là bình thường.
- Thời gian thực hành: 29% sinh viên không haì lòng vì thời gian thực hành quá
ít.

(%)
3-5tr
(%)
>5tr
(%)
Không tốt
7.4
6
0
0
Bình
thƣờng
68.5
50
16.7
50
Tốt
22.2
42
83.3
25
Rất tốt
1.9
2
0
25
Tổng
100
100
100

Trình độ
Thành phố (%) Huyện xã (%)
Rất tệ
37.6
62.4
Hơi tệ
38.6
61.4
Bình thƣờng
45.7
54.3
Khá
51
49
Thành thạo
0
0 20
Sinh viên ở thành phố có trình độ cao hơn hẳn sinh viên huyện xã thể hiện
qua trình độ rất tệ thì sinh viên huyện xã cao hơn sinh viên thành phố 24.8% và
trình độ khá thì sinh viên thành phố cao hơn sinh viên huyện xã 3%.
Không có sinh viên nào tự tin đánh giá trình độ của mình là thành thạo

bé hơn 1h
84
48,3
48,3
48,9
1h tới 2h
56
32,2
32,2
81,0
2h tới 3h
22
12,6
12,6
93,7
trên 3h
11
6,3
6,3
100,0
Tổng
174
100,0
100,0

Tuy vậy nhƣng quá trình học tập một ngôn ngữ thứ hai không hề đơn giản.
Qua khảo sát đã thấy đƣợc những khó khăn mà sinh viên gặp phải nhƣ sau:
thực trạng nói chung ở VN là kĩ năng đọc hiểu và ngữ pháp rất tốt nhƣng kĩ năng
giao tiếp rất kém. Qua khảo sát những khó khăn của sinh viên khi học Tiếng Anh
thì khó khăn lớn nhất là không có vốn từ để nói (77% sinh viên). Kế đến là không
nghe được người ta nói gì (42.2% sinh viên). Tiếp nữa là người nói phát âm đúng
nhưng người nghe đã quen với phát âm sai nên nghe không hiểu (37.9% sinh
viên), cuối cùng là không thể xây dựng câu hoàn chỉnh(35% sinh viên).

2.2.3. Nhận thức về tầm quan trọng của Tiếng Anh
Sinh viên ý thức đƣợc tầm quan trọng của Tiếng Anh nhƣng lại chƣa thật
sự yêu thích và đầu tƣ cho việc học. Qua khảo sát thấy đƣợc rằng:
23

Mức độ quan tâm Số lƣợng
Phần trăm
Phần trăm
hợp lệ
Phần trăm
tích lũy



Tỉ lệ sinh viên không thích mà phải đầu tư và thích nhưng không có điều
kiện đầu tư rất cao (41.4%). Điều này cho thấy thực trạng đáng báo động về vấn
đề học Tiếng Anh của sinh viên Kinh tế - Luật.
Thực trạng xảy ra hàng ngày ở các lớp học Tiếng Anh mà ai cũng thấy
đƣợc đó là sinh viên đến lớp thì ngủ hoặc làm việc riêng ( đặc biệt là lớp Tiếng
Anh 1). Sinh viên trình độ khác nhau và chênh lệch nhiều nhƣng lại học chung
một giáo trình dẫn đến sinh viên học kém thì không hiểu yêu cầu của giáo viên,
sinh viên giỏi thì cảm thấy nhàm chán. Đến lúc thi thì tất cả sinh viên thi chung
đề gây áp lực cho lớp anh văn 1 từ đó các bạn ấy không còn hứng thú học Tiếng
Anh nữa. 24

Một điều cần nói ở đây nữa đó là mức độ đầu tƣ của sinh viên các năm.
Một thực tế là sinh viên năm nhất yêu thích và đầu tƣ cho việc học Tiếng Anh
nhiều nhất (55.6%). Còn năm II thì vẫn thích học nhƣng không có điều kiện đầu
tƣ (55.6%). Đến năm III (66.7%) và năm IV (47.6%) thì sinh viên mất niềm
đam mê học Tiếng Anh và chỉ học vì đó là môn bắt buộc Năm I (%)
Năm II (%)
Năm III (%)
Năm IV(%)
Thích học và có đầu tƣ
55.6
33.3
11.1

đƣợc đào tạo chuyên sâu, việc học Tiếng Anh với điều kiện vật chất thiều thốn từ
trang thiêt bị dạy học. Chỉ với phấn trằng, bảng đen và máy cacset để hỗ trợ cho
việc học tập… Tiếng Anh đƣợc phát âm ít nhiều “ đã đƣợc việt hóa”, có nhƣng
nơi học sinh chỉ học “ chay”. Môi trƣờng không có điều kiện tiếp xúc thực hành
do đó kiến thức Tiếng Anh bị hỏng và rất hạn chế. Ngƣợc lại đối những học sinh
ở thành phố hầu nhƣ môi trƣờng thực hành khá tốt, điều kiện vật chât đƣợc nâng
cao do đó có nhiều cơ hội.

Trích đoạn Nguyên nhân chủ quan: Đối với sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status