BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGÂN HÀ
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 7340201
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGÂN HÀ
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
correlated with NPL. Besides, although the return on equity (ROE) and the credit
growth variables are correlated with NPL as the expected direction, their overall
explanatory power are found to be low.
Key words: Non – performing loan, micro determinants, macro determinants, GLS,
GMM.
ii
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là
trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội
dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong
khóa luận.
Tác giả
Nguyễn Ngân Hà
iii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn TS. Lê Hà
Diễm Chi đã tận tình truyền đạt kiến thức và hỗ trợ em trong suốt thời gian hoàn
thành khóa luận.
Tiếp theo, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường đại học Ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh đã mở ra nhiều cơ hội để em hoàn thiện bản thân, đồng
thời tạo mọi điều kiện cho chúng em thực hiện đề tài này.
Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người thân yêu đã
2.1.2.
Phân loại nợ xấu ..................................................................................7
2.1.3.
Những chỉ tiêu phản ánh nợ xấu..........................................................9
2.1.4.
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ............................................................10
2.1.5.
Ảnh hưởng do nợ xấu gây ra .............................................................13
2.2. Những yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại .............16
2.2.1.
Yếu tố vi mô tác động đến nợ xấu .....................................................16
2.2.2.
Yếu tố vĩ mô tác động đến nợ xấu .....................................................18
2.3. Những nghiên cứu thực nghiệm về nợ xấu và những yếu tố tác động đến nợ
xấu……………………………………………………………………………….18
2.3.1.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................................38
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................39
4.1. Phân tích thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn
2007 – 2016 ...........................................................................................................39
4.2. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu .............................................................40
4.3. Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu ..................................................42
4.3.1.
Ma trận tương quan mô hình nghiên cứu ..........................................42
4.3.2.
Kiểm định các giả thuyết hồi quy mô hình nghiên cứu ....................44
4.3.3.
Kết quả ước lượng .............................................................................47
4.3.4.
Thảo luận kết quả nghiên cứu ...........................................................51
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 ........................................................................................57
CHƢƠNG 5: HÀM Ý CHÍNH SÁCH TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............58
KẾT LUẬN CHƢƠNG 5 ........................................................................................63
PHỤ LỤC 1: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU ...............................................................64
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY ......................................................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................75
GDP
Gross Domestic Product
GLS
Generalized least square
Tổng sản phẩm quốc nội
Phương pháp Bình phương tối thiểu tổng
quát
Phương pháp mômen tổng quát
NPLs
Generalized method of
moments
Non – Performing Loans
OLS
Ordinary Least Square
Phương pháp bình phương nhỏ nhất
REM
Random Effecr Model
Mô hình tác động ngẫu nhiên
Bảng 4.4: Kết quả Kiểm định Wald ........................................................................ 45
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Wooldridge ............................................................... 46
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng bằng phương pháp GLS ........................................... 47
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng bằng phương pháp GMM......................................... 49
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định thực nghiệm bằng ước lượng GMM với lý thuyết kinh
tế ............................................................................................................................... 50
viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4.1: Nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2007 – 2016 ......................... 40
Hình 4.2: Cơ cấu nợ xấu theo ngành của các NHTM Việt Nam ............................ 40
Hình 4.3: Tỷ lệ nợ xấu và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn
2007 – 2016 .............................................................................................................. 54
Hình 4.4: Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2016
.................................................................................................................................. 55
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, ngành ngân hàng đang ngày càng chứng tỏ được vai trò
của mình như là một mắt xích quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể, trong những
năm vừa qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) – bộ phận chủ lực của ngành
đang tác động đến nợ xấu và mức độ tác động của các yếu tố đó là bao nhiêu rồi từ
đó mới có thể đề xuất những giải pháp hiệu quả, phù hợp, giúp khắc phục nợ xấu và
cải thiện hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng. Chính vì lý do đó, tác giả đã
quyết định lựa chọn “Những yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng
thƣơng mại Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là xác định được những yếu tố vĩ mô và vi mô có tác
động đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam; đồng thời phân tích mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố đó như thế nào. Và từ kết quả nghiên cứu, có thể đưa ra một số
khuyến nghị nhằm giảm thiểu nợ xấu tại các NHTM Việt Nam.
1.3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nợ xấu và các yếu tố vĩ mô, vi mô tác động đến
nợ xấu tại các NHTM Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
-
Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng và phân tích một số yếu tố vĩ mô và vi mô
tác động đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam.
-
Về thời gian: giai đoạn từ 2007 – 2016.
-
NHNN và từ các báo cáo tài chính hợp nhất của các NHTM để tạo thành bảng dữ
liệu cho mô hình nghiên cứu cũng như phục vụ cho quá trình phân tích. Mặt
khác, phương pháp này còn đươc sử dụng trong việc tìm hiểu các nghiên cứu
thực nghiệm trước đây ở trong nước và trên thế giới với mục đích tham khảo
nhiều mô hình và giả thuyết khác nhau, từ đó tìm ra mô hình phù hợp nhất với
điều kiện và bối cảnh của bài nghiên cứu.
-
Bên cạnh đó, do dữ liệu nghiên cứu gặp phải hiện tượng phương sai sai số thay
đổi và tự tương quan nên phương pháp hồi quy được lựa chọn là phương pháp
Bình phương tối thiểu tổng quát (Generalized least square - GLS). Ngoài ra, mô
hình nghiên cứu cũng có khả năng cao gặp phải hiện tượng nội sinh nên tác giả
sẽ sử dụng thêm phương pháp Moment tổng quát (Generalized method of
4
moments - GMM) để đánh giá các yếu tố có tác động đến nợ xấu tại các NHTM
Việt Nam.
1.5.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Khóa luận có kết cấu gồm 5 chương, nội dung chính của từng chương cụ thể như
sau:
Chƣơng 1: Giới thiệu
Trong chương 1, tác giả sẽ giới thiệu về đề tài nghiên cứu, tính cấp thiết, mục tiêu
của đề tài, xác định các đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
THỰC NGHIỆM VỀ NỢ XẤU VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
2.1.
Tổng quan về nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại
2.1.1. Khái niệm về nợ xấu
Nợ xấu hay nợ khó đòi thường được đề cập đến bằng những thuật ngữ như “Bad
debt” hoặc “Non – performing loan” (NPL). Trên thực tế, “Bad debt” thường chỉ
được sử dụng nhiều trong các bài báo viết về chủ đề thuộc lĩnh vực tài chính – ngân
hàng, còn “Non – performing loan” thì lại được các chuyên gia sử dụng trong
những nghiên cứu mang tính học thuật cao hơn. Tuy vậy, định nghĩa về nợ xấu
cũng rất đa dạng. Nhưng nhìn chung, một số khái niệm tiêu biểu về nợ xấu có thể
được kể đến như sau:
Nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) của Liên hiệp quốc cho
rằng “Về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc
trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái
cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản nợ quá hạn thanh toán dưới
90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng sẽ được thanh toán đầy
đủ”.
Tương tự như vậy, trong mục 4.84 của “Bộ chỉ số lành mạnh tài chính” (IMF‟s
Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004), Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) đã nhận định rằng: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi đã quá hạn thanh
toán gốc hoặc lãi 3 tháng (90 ngày) hoặc hơn; khi các khoản lãi quá hạn 3 tháng (90
ngày) hoặc hơn đã được vốn hóa, tái cơ cấu, hoặc hoãn trả nợ theo thỏa thuận.
Thêm vào đó, nợ xấu còn bao gồm cả các khoản thanh toán quá hạn dưới 90 ngày
nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng về việc người vay sẽ không thể
hoàn trả đầy đủ, ví dụ như khi người vay phá sản”.
8
nợ của Viện Tài chính quốc tế (Institute of International Finance: IIF) là một trong
những cách được sử dụng rộng rãi nhất.
Cụ thể, trong mục 15 “Xử lý nợ xấu trong thống kê kinh tế vĩ mô” (The Treatment
of Nonperforming Loans in Macroeconomic Statistics, 2001), tác giả Adriaan M.
Bloem và Cornelis N. Gorter đã đề cập đến cách phân loại nợ của IIF thành 5 nhóm
như sau:
-
Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn (Standard): Là các khoản nợ có gốc và lãi trong
hạn. Đồng thời, không có xuất hiện khó khăn nào trong việc thanh toán nợ và
dự báo có thể trả nợ đầy đủ theo cam kết.
-
Nhóm 2 - Nợ cần chú ý (Watch): Là các khoản nợ trong tình trạng có thể gặp
phải nguy cơ không thanh toán đầy đủ nếu không có những biện pháp xử lý. Vì
vậy, cần chú ý đến các khoản nợ này hơn bình thường.
-
Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn (Substandard): Là các khoản nợ bị nghi ngờ về
khả năng thanh toán đầy đủ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 90 ngày, hoặc tài
sản đảm bảo của khoản nợ đó bị giảm giá trị dẫn đến mất mát nếu không có
biện pháp xử lý kịp thời.
-
hình giám sát rủi ro và phương pháp xác định, đo lường rủi ro tín dụng được
NHNN chấp nhận. Đồng thời, mỗi năm, các tổ chức tín dụng cũng cần đánh giá
lại Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mình nhằm điều chỉnh cho phù hợp
hơn với thực tế và các quy định mới của pháp luật.
Nếu trong trường hợp kết quả phân loại nợ bằng phương pháp định lượng khác với
kết quả phân loại bằng phương pháp định tính thì khoản nợ sẽ được đưa vào nhóm
có mức độ rủi ro cao hơn. Nhưng nhìn chung, dù được phân loại bằng phương pháp
định lượng hay định tính thì nợ xấu vẫn bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm
5.
2.1.3. Những chỉ tiêu phản ánh nợ xấu
Thông thường, tình trạng nợ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ tiêu:
Tỷ lệ
: Đây là chỉ tiêu quan trọng và chủ yếu nhất được sử dụng để đánh
giá chất lượng tín dụng tại các NHTM. Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng mà một
ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đồng bị đánh giá là nợ xấu, qua đó phản ánh
mức độ rủi ro tín dụng tại ngân hàng đó trong một thời điểm nhất định. Nếu tỷ lệ
này nhỏ hơn hoặc bằng 3% thì ngân hàng được xem là có chất lượng tín dụng tốt, tỷ
lệ nợ xấu trong mức an toàn.
10
Tỷ lệ
: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng và hiệu quả của công
tác xử lý và thu hồi nợ xấu tại ngân hàng. Nếu tỷ lệ này tăng qua từng năm thì
Môi trường kinh tế: Mỗi nền kinh tế đều có thể được phản ánh qua những đặc
điểm khác nhau như chu kỳ kinh tế hoặc chính sách kinh tế vĩ mô qua từng thời
kỳ. Nếu ở một quốc gia, môi trường kinh tế chưa phát triển, sự cạnh tranh trên
thị trường chưa bình đẳng, tốc độ tăng trường kinh tế còn thấp thì đi kèm với đó
11
sẽ là những thành phần kinh tế như các cá nhân, công ty, doanh nghiệp yếu
kém, không có khả năng hoàn trả khi số lượng nợ vay đã quá lớn.
Ngoài ra, hệ thống các chính sách vĩ mô chưa ổn định có thể đặt các doanh
nghiệp ở thế bị động, không thể yên tâm kinh doanh, sản xuất. Không chỉ có
vậy, nếu ở trong một môi trường kinh tế không minh bạch, thiếu công bằng
cũng sẽ khiến cho việc thẩm định phương án vay vốn của ngân hàng trở nên
phức tạp hơn rất nhiều. Nói cách khác, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc
tìm ra những thông tin chính xác và đáng tin cậy từ phía khách, do đó, khó phát
hiện những âm mưu lừa đảo, từ đó có thể dẫn đến rủi ro thất thoát và nợ xấu.
-
Môi trường thiên nhiên: Sự biến đổi của môi trường thiên nhiên, cụ thể là các
thiên tai như hạn hán, lũ lụt, mất mùa, dịch bệnh,… có thể dẫn đến thiệt hại
trong quá trình sản xuất, kinh doanh, từ đó tác động trực tiếp đến thu nhập của
người vay vốn. Nếu không có thu nhập, người vay sẽ không thể thanh toán các
khoản nợ cho ngân hàng và làm xuất hiện nguy cơ nợ xấu. Đặc biệt là đối với
những khoản vay nông nghiệp, nguy cơ này sẽ càng cao hơn.
Thực chất, nguyên nhân từ môi trường thiên nhiên là nằm ngoài tầm kiểm soát
và dự tính của các NHTM và cả khách hàng đi vay vốn. Do đó, có thể nói, đây
là những khoản nợ không thể tránh khỏi nên rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
và cộng đồng.
một số thủ tục trong quy trình cho vay hoặc hạ thấp các điều kiện ràng buộc khi
vay vốn như quy định về tài sản thế chấp, tài sản đảm bảo. Hoặc có khi ngân
hàng có tâm lý chủ quan, quá tin tưởng các khách hàng thân thiết mà bỏ qua
những quy trình tín dụng bắt buộc. Việc làm này có thể kéo theo nguy cơ khách
hàng không có đủ khả năng trả nợ, dẫn đến nợ xấu.
-
Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát: Các NHTM thường có thói quen tập
trung nhiều vào quy trình thẩm định trước khi cho vay nhưng sau đó lại khá
lỏng lẻo trong công tác kiểm soát quá trình sử dụng nguồn vốn. Thực chất, theo
dõi nợ vay là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của ngân hàng
nhằm xác minh rằng nguồn vốn vay đã được sử dụng đúng mục đích và quá
trình sử dụng đó vẫn mang lại kết quả tích cực nhằm đảm bảo việc trả nợ đúng
thời hạn cho ngân hàng.
-
Chất lượng cán bộ ngân hàng: Trình độ yếu kém và sự thiếu đạo đức của bộ
phận tín dụng cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro
vì cán bộ tín dụng là những người trực tiếp làm việc với khách hàng. Điều này
đòi hỏi họ phải luôn trau dồi vốn kiến thức cùng khả năng phân tích nhanh nhạy
13
và tinh thần trách nhiệm cao để hoàn thành tốt công việc của mình. Nếu một bộ
phận cán bộ yếu kém, không có kinh nghiệm thì có thể dẫn đến việc cho vay
không hiệu quả và thiếu tính khả thi. Tiêu cực hơn, một số cán bộ tín dụng còn
cố ý cho vay dù đã tính toán được dự án sẽ không mang lại hiệu quả nhằm trục
chậm vòng quay của nguồn vốn. Cụ thể, với tình trạng tỷ lệ nợ xấu cao, ngân hàng
sẽ vừa phải gánh chịu tổn thất do nợ xấu gây ra, lại vừa phải đối mặt với áp lực
thanh toán cho những khoản tiền gửi và lãi suất huy động vốn, từ đó tạo ra một sự
chênh lệch đáng kể trong nguồn thu – chi của ngân hàng và ảnh hưởng rất nhiều đến
khả năng thanh khoản. Nếu trường hợp đó xảy ra, ngân hàng sẽ trở nên thận trọng
hơn đối với những hồ sơ vay mới, khiến cho các quyết định cho vay vốn trở nên
khó khăn hơn, đặc biệt là hồ sơ từ phía những doanh nghiệp có dấu hiệu sụt giảm,
thiếu hoặc không có tài sản đảm bảo; thậm chí có nhiều ngân hàng đã tạm dừng việc
giải ngân cho khách hàng mới mà chỉ tiếp tục duy trì số dư nợ tín dụng hiện tại hoặc
chỉ giải ngân đối với những khách hàng thân thiết.
Thứ tư, nợ xấu là nguyên nhân khiến cho uy tín của ngân hàng giảm sút. Như đã đề
cập ở trên, nợ xấu phát sinh có thể gây ra sự thiếu thanh khoản của ngân hàng.
Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, chính sự thiếu thanh khoản này sẽ tiếp tục kéo theo
việc uy tín của ngân hàng đi xuống. Sự suy giảm uy tín này được thể hiện trong việc
chậm trễ tất toán giao dịch hoặc chậm thanh toán lãi suất huy động vốn đối với
khách hàng; chậm giải ngân vay vốn đối với các đối tác khác; chậm thanh toán cổ
tức hoặc việc cổ tức nắm giữ của các cổ đông bị giảm giá do phải chịu tác động từ
quá trình hoạt động kinh doanh yếu kém. Mặt khác, thông tin về tỷ lệ nợ xấu tăng
cao nếu được công bố ra bên ngoài sẽ khiến cho người dân không còn tin tưởng lựa
chọn ngân hàng đó như là nơi giữ tiền an toàn nữa. Từ đó gây ra khó khăn trong
việc huy động tiền gửi và thiết lập mối quan hệ với những khách hàng mới, làm
giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng, do đó thị phần và thu nhập cũng vì thế mà
chịu nhiều ảnh hưởng.
2.1.5.2.
Ảnh hƣởng của nợ xấu đối với khách hàng vay vốn
Khi tình trạng nợ xấu trở nên trầm trọng, điều đầu tiên mà khách hàng sẽ phải đối
mặt là việc bị các ngân hàng khắt khe hơn trong lúc chấm điểm dựa vào Hệ thống
xếp hạng nội bộ lúc muốn xin vay vốn. Tiếp đó, ngân hàng sẽ tiếp tục thực hiện
Nợ xấu khiến Nhà nước buộc lòng phải tốn một phần đáng kể ngân sách quốc gia để
giải quyết. Trên thực thế, mức chi này là rất lớn, đến nỗi mặc dù các NHTM đã có
riêng cho mình một khoản trích lập quỹ dự phòng rủi ro nhưng không thể tự giải
quyết triệt để nợ xấu mà vẫn phải trông cậy vào sự hỗ trợ từ phía NHNN. Nhưng về