Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay. - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ HẰNG

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2019


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết đề tài..............................................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án........................................................3
2.1. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................3
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu...................................................3
3.1. Phương pháp luận..............................................................................................3
3.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................5
4.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................5
4.2. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................5
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án...............................................................6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án..............................................................7

vệ môi trường........................................................................................................139
4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường..........................................................................................160
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4.....................................................................................177
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU....................................178
PHỤ LỤC


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
Tăng cường hiệu quả đấu tranh đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân,
góp phần ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
một đất nước là một yêu cầu cấp thiết, vừa là mục tiêu và một trong những nội dung
cơ bản của phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới.
Trong những năm gần đây, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ở Việt Nam diễn ra khá phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn bằng
tội phạm hình sự nhưng với số lượng nhiều và ngày càng gia tăng, vi phạm hành
chính đang gây tổn hại không nhỏ cho môi trường. Cũng cần khẳng định rằng, nếu
đấu tranh với các vi phạm hành chính kém hiệu quả thì sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường càng tăng về số lượng và tính chất, ảnh hưởng khá
lớn đến mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2010-2020 của Đảng đã khẳng định "Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi
trọng bảo vệ và cải thiện môi trường,...” và “hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ
môi trường; xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi
phạm”.
Xử lý vi phạm hành chính là biện pháp pháp lý của Nhà nước có tác dụng to lớn

bảo đảm cho người dân được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm quyền lợi tự
nhiên của con người nhằm góp phần phát triển bền vững. Để thực hiện được điều này,
Nhà nước phải hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả tổ
chức thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên
thực tế.
Việc nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về lý luận, thực trạng
pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả xử lý
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết đối
với nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững và hội nhập


3
quốc tế. Đó là lý do, tác giả lựa chọn vấn đề “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” để làm luận án tiến sỹ luật học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đặt ra trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau:
- Phân tích lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường như: khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; vai trò và những yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng hoạt động xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam thời gian qua, chỉ
ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó;

hành chính, thẩm quyền, các biện pháp chế tài, thủ tục xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế của
pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp, xử lý, số liệu khi nghiên
cứu tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu liên quan đề tài; tình hình vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; thực tiễn xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam,...phương pháp này được sử
dụng chủ yếu trong Chương 1, Chương 3.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu điểm tương đồng và khác biệt
giữa pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt
Nam và các nước trên thế giới; mức độ hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính
và thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ở Việt Nam,...Phương pháp này được sử dụng trong Chương 1, Chương 3,
Chương 4.


5
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm tại
chương 2, các nhận định về thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam tại Chương 3 và các quan điểm,
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường ở Chương 4 của luận án.
- Phương pháp điều tra bằng ankét được sử dụng ở Chương 3 với hai mẫu
điều tra xã hội học: 200 phiếu dùng cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp; công chức ngành Tài nguyên và Môi trường, chiến sỹ cảnh sát
phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; 200 phiếu dùng
cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, trong đó 100 phiếu dùng cho cá nhân, tổ chức
đã bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 100 phiếu dùng
cho người dân sống trong các địa bàn có vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ

- Phạm vi thời gian: Luận án khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn thi
hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt
Nam trong thời gian từ năm 2012-2018.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Điểm mới nổi bật của luận án được khẳng định, đây là công trình chuyên khảo
đầu tiên trong khoa học Luật hành chính nước ta đã đề cập khá toàn diện và có hệ
thống về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt nam.
Luận án có những đóng góp mới sau:
- Xây dựng khái niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường và làm rõ những đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường.
- Phân tích, góp phần làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như cơ sở, thẩm quyền, thủ tục,
hình thức xử lý, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Phân tích sâu sắc hơn và đánh giá một cách toàn diện những thành tựu, hạn
chế trong quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng hoạt động xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt nam. Từ đó, rút ra nguyên nhân
hạn chế của vấn đề.
- Xây dựng luận cứ về quan điểm và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường ở Việt Nam. Đề xuất sửa đổi Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 và Nghị định số 155/2016/NĐCP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung thêm đối tượng bị xử lý vi phạm hành


8
chính và hành vi vi phạm hành chính; tăng mức phạt tiền đối với những hành vi có
mục đích lợi nhuận; tăng thẩm quyền cho các chủ thể trực tiếp thực thi công vụ;
nâng cao nhận thức của người dân về tham gia xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh

lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương 2. Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường
Chương 3. Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường và thực tiễn thi hành ở Việt Nam
Chương 4. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam.


10

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học
giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu này, nghiên cứu sinh tổng
hợp tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề sau:
1.1.1. Các nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường,
bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật, xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.1.1.1. Các nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường, bảo vệ môi trường,
xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Môi trường có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người và sinh vật.
Bảo vệ môi trường bằng các biện pháp khác nhau là yếu tố quan trọng trong chiến
lược phát triển của các quốc gia. Do vậy, việc tổng quan các công trình nghiên cứu
về môi trường, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường sẽ tạo cơ sở nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu thực
trạng pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Về môi trường và bảo vệ môi trường nói chung đã được nhiều công trình ở

bảo vệ đa dạng sinh học” [83, Điều 1]. Theo đó, BVMT không phải chỉ là hoạt
động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường mà còn là hoạt động khắc phục ô
nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, hướng đến mục tiêu gìn giữ môi
trường trong lành, sạch đẹp. BVMT phải được thực hiện bằng các biện pháp khác
nhau, trong đó các biện pháp pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng. Môi trường bị
hủy hoại chủ yếu do sự phá hoại của con người, chính con người trong quá trình
khai thác các yếu tố của môi trường đã làm mất sự cân bằng sinh thái, gây tổn hại
cho môi trường. Vì vậy, muốn BVMT trước hết phải tác động đến con người. Pháp
luật với tư cách là hệ thống các qui phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người
sẽ có tác dụng rất lớn trong việc BVMT. Các biện pháp pháp lý cơ bản được Nhà


12
nước sử dụng để BVMT là qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ
chức BVMT; ban hành các tiêu chuẩn về BVMT; quy định các chế tài hình sự, dân sự,
hành chính để xử lý đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trường.
Thông qua các qui định về các biện pháp chế tài pháp lý này hoặc cách ly những kẻ vi
phạm nguy hiểm khỏi xã hội hoặc áp dụng những hậu quả vật chất, tinh thần tương ứng
tỏ ra là biện pháp pháp lý hữu hiệu để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ đòi
hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường [113, tr.28]
[70] [101] [67].
Xử lý vi phạm pháp luật là một dạng hoạt động của Nhà nước trong BVMT,
đó là việc nhà nước (qua các cơ quan nhà nước) áp dụng các biện pháp cưỡng
chế để buộc các cá nhân, tổ chức vi phạm nghĩa vụ pháp lý về BVMT phải chịu
hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần tương ứng với vi phạm pháp luật đã
thực hiện. Các biện pháp cưỡng chế đa dạng ngoài cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù,…
còn sử dụng biện pháp đặc thù như: buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý
chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; tạm đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện
xong các biện pháp BVMT cần thiết; cấm hoạt động; buộc di dời cơ sở,…[115,

quan trọng mà tác giả có thể kế thừa hợp lý. Tuy nhiên, đặc điểm của XLVPPL,
trong đó có XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được thể hiện như thế nào thì công
trình trên chưa giải quyết thấu đáo, bản chất của XLVPPL nói chung, XLVPHC
nói riêng trong lĩnh vực BVMT chưa được luận giải rõ ràng. Đây là khoảng trống
còn bỏ ngỏ để luận án tiếp tục nghiên cứu và phát triển.
1.1.1.2. Các nghiên cứu những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường
Một là, những nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm XLVPHC nói chung, khái
niệm, đặc điểm XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nói riêng. Qua khảo cứu một số
công trình nghiên cứu của nước ngoài cho thấy, khái niệm XLVPHC không được
định nghĩa trong các văn bản pháp luật mà chủ yếu khẳng định XLVPHC là hoạt
động thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước như cơ quan tư pháp hoặc
cơ quan hành chính, hoặc cả cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính. Nội dung
của nó là đưa ra các phán quyết đối với vi phạm hành chính [15, tr.2]. XLVPHC
trong lĩnh vực BVMT là hoạt động phán quyết của các cơ quan tư pháp đối với tội


14
phạm nhỏ hoặc cơ quan hành chính đối với VPPL trong lĩnh vực BVMT. Theo đó,
hệ thống pháp luật các nước trên thế giới qui định xử lý VPPL về BVMT được
thực hiện bởi 3 hệ thống cơ quan: cơ quan tư pháp (Ba Lan); cơ quan hành chính
(Trung Quốc); cả cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp (Bang New South Wales
(Australia)). Ở Việt Nam, qua nghiên cứu các công trình [113] [57] [126] [72]
[70], tác giả nhận thấy khái niệm XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được bàn luận
khá khiêm tốn, chủ yếu đề cập đến khái niệm xử phạt VPHC hoặc trách nhiệm
hành chính trong lĩnh vực BVMT. Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu
[102] [114] [117] đã đưa ra các ý kiến về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Cụ thể
là, trong đề tài: Tuân thủ-cưỡng chế-giám sát trong kiểm soát ô nhiễm môi trường,
Đề tài khoa học cấp trường, Đại học Luật Hà Nội (2010) đã định nghĩa: xử lý
hành chính về BVMT là việc áp dụng trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi

hành chính theo quy định…”. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân
Trung hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa VPHC là “hành vi vi phạm trật tự hành
chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình
thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và
các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo
thủ tục do Luật này quy định” [67, tr.67]. Đề tài: Pháp luật về xử phạt hành chính
trong lĩnh vực BVMT, của tác giả Phan Thị Tố Uyên đã khẳng định: cơ sở của xử
phạt VPHC về BVMT là VPHC trong lĩnh vực BVMT,…[126, tr. 13-14]. Tuy
nhiên, có quan điểm lại cho rằng cơ sở để XLVPHC không phải là VPHC mà là hành
vi VPHC trong lĩnh vực BVMT [102, tr.20]. Vấn đề này sẽ được tác giả luận án kế thừa
và luận giải sâu sắc hơn để làm sáng tỏ cơ sở của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
VPHC trong lĩnh vực BVMT bao gồm: các hành vi vi phạm các quy định về quản lý
chất thải; các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh
doanh và dịch vụ; các hành vi gây ô nhiễm môi trường,...[95].
Ba là, những nghiên cứu về đối tượng bị XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Để
bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm phát triển bền vững
đất nước thì việc quy định về đặc điểm, điều kiện trở thành đối tượng VPHC trong
lĩnh vực BVMT có vai trò quan trọng trong việc xác định các biện pháp xử lý
tương ứng với tính chất, mức độ VPHC về BVMT của đối tượng VPHC. Theo


16
hướng này, hiện nay có một số công trình tập trung vào nội dung đối tượng bị
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT như [15][133][140] [2], trong đó Báo cáo Tổng
quan tham khảo Luật XLVPHC các nước trên thế giới đã khẳng định đối tượng bị
XLVPHC các nước trên thế giới là cá nhân, pháp nhân. Đối với hệ thống pháp luật
quy định về tội phạm nhỏ hoặc hệ thống pháp luật không có sự tách biệt giữa chế
tài hình sự và hành chính như Thái Lan, bang New South Wales của Úc thì đối
tượng bị xử phạt chỉ là cá nhân và độ tuổi cá nhân bị XPVPHC là từ 14 trở lên,
trong đó, Luật về tội phạm nhỏ của Ba Lan áp dụng đối với đối tượng từ 17 tuổi

thẩm quyền XLVPHC nói chung nên đa phần các công trình chưa đưa ra được
luận giải về thẩm quyền và phân định thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT. Do vậy, luận giải sẽ phát triển thêm lý luận về căn cứ phân định thẩm
quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT giữa các chủ thể có thẩm quyền XLVPHC
nhằm thực hiện đúng nguyên tắc phòng ngừa, bảo đảm quyền con người trong
XLVPHC về BVMT.
Năm là, những nghiên cứu về các hình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Hình thức XLVPHC được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng đối
với cá nhân hoặc tổ chức thực hiện VPHC. Việc áp dụng các hình thức XLVPHC
sẽ đặt ra trách nhiệm hành chính đối với đối tượng vi phạm [55]. Hình thức
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT có vai trò nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
môi trường vì tính linh hoạt, minh bạch, đảm bảo khắc phục, loại bỏ lợi ích kinh tế
của cá nhân, tổ chức từ việc không tuân thủ các quy định về môi trường [43]. Các
hình thức xử lý bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền được xác định là hình thức xử phạt
chính, trong đó, phạt tiền được thực hiện theo hướng, các nhân, tổ chức vi phạm
pháp luật BVMT sẽ bị xử lý ở mức thấp nhất, nếu không thành công, sẽ bị điều
chỉnh di chuyển lên mức cao hơn và mang tính trừng phạt nhiều hơn để phù hợp
với đặc điểm của hành vi vi phạm pháp luật về BVMT như công trình số [112]
[135] [97],…Trong công trình nghiên cứu của J. Dara Lynott and Ray Cullinane
(Ireland) (2005), Administrative Sanctions (Xử phạt VPHC), Office of
Environmental Enforcement, Environmental Protection Agency in Ireland, p.10-17
khi đề cập đến hình thức xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT tại Ireland. Tác
giả so sánh hiện trạng xử phạt hành chính ở Anh, Mỹ, Đức và Úc và đưa ra nhận


18
định về XPHC ở Ireland có đến 11 của 20 biện pháp trừng phạt không phải hình
sự như: thực thi cam kết; cảnh báo; phạt tiền cố định; phạt tùy ý; tên và xấu hổ,
công khai đối tượng VPHC. Trong công trình của Jean Piette (2014), La sanction
droit de l’environnement pénalités administratives, Université Dalhousie, Canada

thống qui định chặt chẽ về thủ tục XLVPHC. Thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT được áp dụng theo qui định thủ tục hành chính. Trong công trình nghiên
cứu [15] đã khẳng định: thủ tục xử lý phải rõ ràng, công khai, có sự tham gia của
đối tượng bị xử phạt. Trường hợp đối tượng bị xử phạt không đồng ý với quyết
định thì có thể thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo thủ tục hành chính.
Thủ tục xử phạt VPHC được phân theo ba loại thủ tục đó là xử phạt tại chỗ và thủ
tục xử phạt chung và thủ tục xử phạt công khai (Trung Quốc). Theo đó, xử phạt tại
chỗ được tiến hành đối với vụ việc hành chính do công dân thực hiện bị phạt tiền
đến 50 tệ, pháp nhân, tổ chức đến 1000 tệ hoặc áp dụng biện pháp phạt cảnh cáo.
Thủ tục xét xử công khai áp dụng khi đình chỉ sản xuất, kinh doanh, thu hồi giấy
phép, chứng chỉ hành nghề, phạt tiền với mức phạt lớn. Thủ tục thông thường
được thực hiện đối với vi phạm không thuộc trường hợp tiến hành xử phạt tại chỗ
và thủ tục xét xử.
Ở Việt Nam, thủ tục XLVPHC được thực hiện qua hai thủ tục: thủ tục không
lập biên bản và thủ tục có lập biên bản [117] [126]. Tuy vậy, các công trình trên
chủ yếu chỉ đề cập đến qui định về thủ tục trong luật thực định chứ không bàn sâu
về qui trình XLVPHC bắt đầu từ khi khi nào và kết thúc thời điểm nào. Tác giả sẽ
kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, đồng thời luận giải thêm vấn đề thời điểm bắt
đầu và kết thúc của hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực BVMT để làm sáng rõ yêu
cầu hoàn thiện thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay.
Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được
các công trình nghiên cứu đề cập khá toàn diện. Trong công trình nghiên cứu của
Alison Fanagan and L Goodbody (2006), A Study on the use of Administrative
Sanctions for Environmental Offences in other comparable countries and
assessment of their possible use in Ireland (Nghiên cứu về việc xử phạt hành
chính đối với các vi phạm về môi trường trong các nước khác tương đương và


20
đánh giá việc có thể sử dụng ở Ireland), Office of Environmental Enforcement,

21
lặp nội dung; còn để lọt nhiều hành vi VPHC; nhiều qui định còn mang tính định tính
nên khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật. Từ đó, đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung
Nghị định 117 theo hướng qui định thêm hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT chưa
được điều chỉnh như vi phạm về cấm khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loại động thực
vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định,....
Các công trình đã đánh giá những bất cập trong quy định về thẩm quyền
XLVPHC của pháp luật hiện hành như: thẩm quyền xử phạt của các cơ quan hành
chính trực tiếp thực thi công vụ còn thấp, sự phân định thẩm quyền còn nhiều
chồng chéo. Đưa ra một số kiến nghị về tăng thẩm quyền xử phạt cho các cơ quan
cấp cơ sở và người trực tiếp thi hành công vụ; tăng mức phạt cho lực lượng thanh
tra chuyên ngành và xác định thẩm quyền xử phạt của thanh tra trong các cục,
tổng cục [108] [133] [64, tr.184] [8] [126, tr.44-71].
Thực trạng qui định của pháp luật về nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt
được các công trình nghiên cứu đề cập như [111] [77] [8], các tác giả đã bàn luận
một số hạn chế của qui định hiện hành về nguyên tắc, thời hiệu XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT theo Nghị định 81/2006/NĐ-CP, Nghị định 117/2009/NĐ-CP về
xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, đưa ra đề xuất cần điều chỉnh, bổ sung, thay
thế các Nghị định 81, 117 theo hướng qui định cơ chế truy cứu trách nhiệm cá
nhân trong trường hợp xử lý tổ chức. Đồng thời, xác định nguyên tắc việc xử phạt
hành chính đối với tổ chức phải được xây dựng trên nguyên tắc trách nhiệm từng cá
nhân và nguyên tắc mỗi hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần. Mọi nội dung sửa đổi
liên quan đến XLVPHC trong lĩnh vực môi trường không thể tách rời những sửa đổi
của XLVPHC nói chung và sâu xa hơn nữa là hoàn thiện cả hệ thống pháp luật về
BVMT.
Đánh giá về thực trạng hình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được đề
cập đến trong các công trình nghiên cứu [44] [117] [118]. Theo đó, hình thức cảnh
cáo chưa phát huy được hiệu quả tác dụng vì không có biện pháp hỗ trợ kèm theo;
mức phạt tiền không có sự thống nhất trong cùng một văn bản xử phạt VPHC

Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả
phân tích khái quát thực trạng VPHC và truy cứu trách nhiệm hành chính trong



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status