BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ THU LAN
VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hành chính
Mã số: 603820
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
TS. NGUYỄN THỊ THỦY
HÀ NỘI, 2012
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Nguyễn Thị Thủy,
Giảng viên khoa Hành chính - Nhà nước, trường Đại học Luật Hà Nội,
người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Khoa Hành chính - Nhà
nước, trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt
những kiến thức quý báu cho tôi và chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Lan
1.2.1. Khái niệm:.....................................................................................................16
1.2.2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính ............................................18
1.2.3. Đặc thù của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH ............19
Chƣơng 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BHXH Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ......... 22
2.1.
Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH: ...........................................22
2.2. Thực trạng quy định của pháp luật về hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BHXH ........................................................................................................24
2.2.1. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH ..........................24
2.2.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH ................................ 28
2.3.
Thực trạng vi phạm pháp luật và xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH
bắt buộc ....................................................................................................................34
2.3.1. Tình hình vi phạm pháp luật về BHXH ......................................................34
2.3.2. Thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH .................46
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BHXH ...... 52
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính và xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH ............................................................... 52
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính và xử phạt
trưởng kinh tế. Điều này đã được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (1959): “Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi
già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức
BHXH, cứu tế và y tế để đảm bảo cho người lao động được hưởng điều đó”. Và tiếp
tục được khẳng định qua các kỳ Đại hội Đảng, như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, điều này một lần nữa lại được khẳng định
“Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát
triển mạnh hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp… Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để
người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm”[8,Tr125].
Sau hơn 15 năm xây dựng và phát triển ngành BHXH đã có những đóng góp
không nhỏ vào việc ổn định trật tự xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển với độ bao
phủ rộng khắp tới mọi tầng lớp, người dân trong xã hội có tham gia hoặc không
tham gia vào quan hệ lao động. Với số người tham gia BHXH là 2,85 triệu người
vào đầu năm 1995 (năm thực hiện cải cách BHXH), đến cuối năm 2006 là 6,7 triệu,
năm 2008 (sau 2 năm thực hiện Luật BHXH) là 8,527 triệu và đến ngày 31/8/2011
2
(sau gần 5 năm thực hiện Luật BHXH) số người tham gia BHXH bắt buộc là trên
9,8 triệu người trong tổng số người tham gia BHXH và BHYT là xấp xỉ 54,8 triệu
người. Tỷ lệ thuận với số người tham gia đóng BHXH, BHYT số người thụ hưởng
từ chính sách BHXH, BHYT cũng tăng lên đáng kể. Trong 5 năm từ 2007 đến
2011, cơ quan BHXH đã tiếp nhận và giải quyết chế độ BHXH bắt buộc cho trên
600.000 người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; trên 2,4 triệu người
hưởng trợ cấp BHXH một lần; trên 20 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai
sản, dưỡng sức- phục hồi sức khỏe; đã giải quyết cho trên 22.500 người hưởng
BHXH tự nguyện; trên 180.000 người hưởng bảo hiểm thất nghiệp [4]. Như vậy, có
thể nói đây là chính sách mang lại lợi ích cụ thể, lợi ích vật chất đối với những
gian gần đây:
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện chế định thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính” của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội (2001) đi
sâu phân tích thực trạng pháp luật về thẩm quyền của các chủ thể được xử lý vi
phạm hành chính và nêu ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi
phạm hành chính;
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hải quan ở nước ta hiện nay” của tác giả Kim Long Biên, Viện
Nhà nước và pháp luật phối hợp đào tạo với Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
(2007) nghiên cứu thực trạng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hải quan, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực này;
Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường” của tác giả Phan Thị Tố Uyên, Trường Đại học Luật
Hà Nội (2011) nghiên cứu thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực môi trường ở Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong
lĩnh vực này.
Ngoài ra còn có những bài viết nghiên cứu về nội dung này trên tạp chí Luật học,
chẳng hạn: “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”
của tác giả Lê Vương Long; “Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Bùi
Thị Đào; “Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm hành chính - Những bất cập, hạn chế và
phương hướng hoàn thiện” của tác giả Bùi Xuân Đức...
Những nghiên cứu trên đây chủ yếu là về xử phạt vi phạm hành chính; trên cơ sở
phân tích lý luận và thực tiễn có liên quan, các tác giả đã giới thiệu, phân tích, đánh
giá về pháp luật và thực tiễn hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời đưa
ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói
4
tranh phòng, chống vi phạm trong lĩnh vực BHXH.
5
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Vì BHXH là một lĩnh vực rộng bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện,
BHYT và bảo hiểm thất nghiệp liên quan trực tiếp đến đời sống trong suốt cuộc đời
người lao động (từ khi họ bắt đầu làm việc đến khi hết tuổi lao động và đến lúc
chết). Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả đi sâu và làm rõ các hành vi vi phạm
hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong tổ chức thực hiện chính sách về
BHXH bắt buộc.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của lý thuyết hệ thống,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng
và Nhà nước về BHXH và vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính lĩnh
vực BHXH để phân tích, đánh giá tính khả thi của các quy phạm pháp luật trong
thực tiễn thực hiện, những định hướng cho các giải pháp nhằm thực hiện tốt pháp
luật về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH;
tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích và so sánh được sử dụng nhằm làm sáng tỏ các vấn
đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hành vi vi phạm hành chính và xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH.
Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu để đánh giá thực trạng vi phạm và dự
báo về hành vi vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
BHXH.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính về BHXH. Các kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị của
đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật
học, các cơ quan xây dựng pháp luật khi nghiên cứu nhằm sửa đổi bổ sung, hoàn thiện pháp
luật BHXH nói chung và hoàn thiện các quy định về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm
hành chính về BHXH nói riêng.
7.
Bố cục của đề tài
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
kết cấu gồm 3 chương như sau:
7
Chương I: Một số vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BHXH;
Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về vi phạm hành
chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH ở Việt Nam hiện nay;
Chương III: Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BHXH.
8
CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BHXH
1.1.
hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự
9
và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Định nghĩa này cho
chúng ta thấy được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính là: hành vi,
tính trái pháp luật của hành vi, lỗi, và bị xử phạt hành chính. Ngoài mặt khách quan
và mặt chủ quan thể hiện qua các dấu hiệu trên, định nghĩa này cũng đề cập đến yếu
tố chủ thể của cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính. Đến Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính 1995 và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 thì khái niệm
vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được suy ra từ khái
niệm xử phạt vi phạm hành chính: Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối
với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố
ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Chúng ta có
thể thấy định nghĩa về vi phạm hành chính trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử lý vi
phạm hành chính năm 1989, 1995, 2002 tuy có khác nhau về ngôn ngữ thể hiện
nhưng về bản chất là giống nhau.
Như vậy, vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi
cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính
[10,Tr317]
Với mục đích nhằm giảm thiểu tác động của các rủi ro mà người lao động
thường phải đối mặt có thể làm cho tiền lương hàng tháng của họ bị gián đoạn hoặc
chấm dứt cũng như làm phát sinh chi phí về chăm sóc y tế, tìm kiếm việc làm... ảnh
hưởng tới thu nhập người lao động nói riêng và tới đời sống xã hội nói chung,
BHXH đã ra đời với việc quy định trách nhiệm đóng góp của người sử dụng lao
động kết hợp với dự phòng cá nhân có sự chia sẻ lẫn nhau dưới sự tổ chức, quản lý
của nhà nước. Đây là biện pháp hiệu quả để khắc phục hậu quả của các rủi ro đối
chính bảo vệ. Cụ thể hơn, đó là hành động bị pháp luật hành chính cấm, hoặc không
thực hiện hay thực hiện không đúng hành động mà pháp luật hành chính buộc phải
thực hiện.
Khi vi phạm hành chính đã xảy ra hậu quả, cần xem xét mối liên hệ nhân quả
giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của hành vi. Khi xem xét mặt khách
quan của vi phạm hành chính trong những vụ việc cụ thể cần tính đến một số yếu tố
như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, phương tiện vi phạm.
Cũng như các hành vi vi phạm hành chính ở các lĩnh vực khác, yếu tố mặt khách
quan của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH gồm trước hết là các
hành vi vi phạm và hậu quả cho xã hội mà hành vi vi phạm gây ra hoặc đe doạ gây
ra. Hành vi của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH tương đối đa dạng tuy
nhiên có thể chia thành hai nhóm như sau:
11
Nhóm hành vi vi phạm trực tiếp các quy định làm nảy sinh sự kiện BHXH.
Bao gồm các hành vi vi phạm trực tiếp quy định về đóng và hưởng BHXH.
Các hành vi vi phạm quy định đóng BHXH như: Không đóng BHXH cho toàn bộ
số lao động, đóng không đủ số người thuộc diện phải đóng BHXH bắt buộc, chậm
đóng BHXH và hành vi đóng BHXH không đúng mức quy định. Nhóm hành vi này
gây thiệt hại trước hết là thiệt hại về tài chính cho quỹ BHXH, nguy hiểm hơn,
nhóm hành vi này xâm hại đến quyền được hưởng các chế độ BHXH của người lao
động cả ở hiện tại và trong tương lai.
Nhóm hành vi vi phạm các quy định về hưởng các chế độ BHXH gồm các
hành vi gian lận để được hưởng chế độ BHXH thể hiện bằng các hành vi: Kê khai
không đúng sự thật, sửa chữa, tẩy xóa hồ sơ, làm giả (một phần hoặc toàn bộ) hồ sơ
hưởng chế độ BHXH. Các loại hành vi này đều vi phạm quy định về hưởng BHXH,
gây thiệt hại về tài chính cho quỹ BHXH.
Nhóm các hành vi vi phạm liên quan đến tổ chức, hoạt động BHXH.
trật tự quản lý nếu hiểu theo nghĩa hẹp của các khái niệm đó. Mặt khác, không phải
toàn bộ các quan hệ quản lý nhà nước là khách thể của vi phạm hành chính, mà chỉ
những quan hệ được bảo vệ bởi trách nhiệm hành chính trong số đó mà thôi.
Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính trong lĩnh vực
BHXH là hành vi vi phạm đã xâm hại đến quan hệ BHXH, được pháp luật hành
chính và pháp luật BHXH bảo vệ. Nói cách khác, vi phạm hành chính trong lĩnh
vực BHXH là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong
lĩnh vực BHXH, được quy định phải bị xử phạt hành chính trong các văn bản pháp
luật, cụ thể là Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực BHXH hoặc các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Quan hệ
BHXH bao gồm: Các quan hệ làm nảy sinh sự kiện bảo hiểm (quan hệ đóng, hưởng
BHXH); mối quan hệ về quản lý BHXH (quan hệ giữa cơ quan BHXH với các đơn
vị, doanh nghiệp; quan hệ giữa cơ quan tổ chức thực hiện BHXH với các cơ quan,
đơn vị quản lý nhà nước về BHXH.
Chủ thể
Chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân hay tổ chức có năng lực trách
nhiệm hành chính đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Pháp luật hành chính
quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những cá nhân có năng lực
hành vi pháp luật hành chính. Người có năng lực hành vi pháp luật hành chính là
người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi, hậu
quả của hành vi và điều khiển được hành vi đó. Những người hành động trong tình
thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ, hoặc không có khả năng nhận
thức, điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hành chính,
13
nghĩa là không bị xử phạt vi phạm hành chính. Các chủ thể phải chịu trách nhiệm
hành chính gồm: Cá nhân và tổ chức theo quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính.
14
hành vi. Có hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý thể hiện ở việc người có
hành vi vi phạm hành chính nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành
vi nhưng vẫn thực hiện hoặc để mặc cho hậu quả hành vi đó xảy ra. Lỗi vô ý thể
hiện ở việc người có hành vi vi phạm hành chính không biết hoặc không nhận thức
được hành vi trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhận thức được, hoặc nhận thức
được nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quả.
Trong mặt chủ quan của nhiều vi phạm hành chính, yếu tố động cơ, mục đích
vi phạm cũng được tính đến khi xem xét để quyết định các hình thức và mức xử
phạt cụ thể. Khi xem xét, đánh giá một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm
hành chính hay không, cần xem xét đầy đủ các dấu hiệu, yếu tố cấu thành pháp lý
của vi phạm, từ đó có thể xác định là vi phạm gì để chọn chế tài đúng.
Không nằm ngoài những dấu hiệu trên, trong lĩnh vực BHXH, dấu hiệu nhận
biết về mặt chủ quan của hành vi vi phạm hành chính chính là yếu tố lỗi gồm lỗi cố
ý và lỗi vô ý của chủ thể vi phạm. Lỗi cố ý trong hành vi vi phạm hành chính về
BHXH thể hiện ở sự cố tình vi phạm khi nhận biết được rằng hành vi trốn đóng
BHXH, chậm đóng BHXH hoặc giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ BHXH ...là hành
vi trái với quy định của Luật BHXH. Tuy nhiên vì lợi ích của doanh nghiệp hoặc lợi
ích của bản thân, các doanh nghiệp và cá nhân này đã cố tình vi phạm. Hoặc là lỗi
vô ý, không biết rằng hành vi cấp giấy chứng nhận nghỉ ốm, hay sửa chữa, tẩy xóa
hồ sơ để hưởng chế độ BHXH ....của mình là trái quy định của Luật BHXH hoặc sẽ
gây nên những hậu quả đối với quỹ BHXH, đối với quyền hưởng chế độ BHXH ...
Ngoài dấu hiệu bắt buộc là lỗi, ở một số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác
định dấu hiệu bắt buộc của một số loại hành vi trong vi phạm hành chính lĩnh vực
BHXH. Ví dụ, khoản 8 điều 10 Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996 của Chính phủ
quy định về xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật về lao động
là hành vi gian lận, lừa dối để hưởng chế độ BHXH. Như vậy, hành vi vi phạm ở
đây phải nhằm mục đích hưởng các chế độ BHXH chứ không để hưởng chế độ nào
Căn cứ chủ thể thực hiện vi phạm, gồm có các hành vi:
+ Hành vi vi phạm do cá nhân thực hiện;
+ Hành vi vi phạm do pháp nhân thực hiện.
1.1.4. Đặc thù của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH mang những nét đặc trưng của vi
phạm hành chính nói chung tuy nhiên nó cũng mang những nét đặc thù riêng có của
mình.
Thứ nhất: Vi phạm hành chính lĩnh vực BHXH là những vi phạm liên quan chủ yếu
đến đóng và hưởng các chế độ BHXH.
BHXH thuộc quan hệ lao động, người lao động tham gia BHXH nhất là
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp được hưởng lợi từ
chính sách BHXH dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng. Nói cách khác bản chất của
BHXH chính là quan hệ đóng - hưởng. Trước hết đó là phần đóng góp của người sử
dụng lao động, người lao động và sự đóng góp hoặc hỗ trợ của nhà nước trong một
16
số trường hợp. Người lao động đóng BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở
trích một phần từ tiền lương/ thu nhập nhận được trong quá trình lao động. Người
sử dụng lao động hàng tháng trích từ quỹ lương của đơn vị/ doanh nghiệp để đóng
vào quỹ BHXH cho tổng số lao động mà đơn vị/ doanh nghiệp đó thuê mướn. Khi
có những rủi ro xảy ra làm giảm hoặc mất tiền lương/ thu nhập, người lao động
được nhận khoản trợ cấp đảm bảo cho mức sống tối thiểu do cơ quan BHXH trả.
Người lao động phải tham gia đóng BHXH thì mới có quyền được hưởng chế độ
BHXH theo quy định của Luật BHXH. Nguyên tắc “đóng- hưởng” có vị trí quan
trọng đối với việc hình thành, tồn tại quỹ BHXH nói riêng và hệ thống an sinh xã
hội của Việt Nam nói chung trong nền kinh tế thị trường. Có đóng góp mới hình
con người, trang thiết bị phương tiện và những vấn đề liên quan nhằm đáp ứng hữu
hiệu yêu cầu hiện nay.
Theo từ điển pháp luật, xử phạt vi phạm hành chính là hành vi của cơ quan
nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính để xử lý đối
với các hành vi vi phạm pháp luật không thuộc phạm vi các tội hình sự đã được quy
định trong Bộ luật hình sự, và do các cá nhân, cơ quan hay tổ chức thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý. Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính gồm có:
UBND các cấp, cơ quan cảnh sát, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, thuế vụ,
quản lý thị trường. Những cá nhân có quyền ra quyết định xử phạt hành chính là thủ
trưởng các cơ quan nói trên và cán bộ, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, bộ đội biên
phòng, nhân viên hải quan, kiểm lâm, thuế vụ, thanh tra viên thực hiện chức năng
thanh tra nhà nước chuyên ngành đang thi hành công vụ theo các hình thức xử phạt
hành chính do luật định.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và do đó được áp dụng theo thủ
tục hành chính do các quy phạm thủ tục hành chính quy định.Vì vi phạm hành chính
là những vi phạm nhỏ và phổ biến nên việc xử phạt vi phạm hành chính không theo
thủ tục tư pháp như đối với truy cứu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, mà
theo thủ tục hành chính và chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
thực hiện. Tuy nhiên, không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ có một số cơ quan nhất định trong
số đó được nhà nước trao quyền hạn này. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính,
cũng như việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính (bao gồm: các hình
thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp
ngăn chặn vi phạm và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính...), nằm ngoài hoạt
động xét xử của Tòa án.
Như vậy, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chỉ có thể diễn ra khi có vi
phạm hành chính và đây là một hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà
hiện ở chỗ cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do
pháp luật quy định; việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền
tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.
19
- Nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời, xử lý công
minh, nhanh chóng theo đúng pháp luật . Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phải phản ứng mau lẹ với các hành vi vi phạm hành chính, tuân
theo nghiêm ngặt những quy định về thời hiệu xử phạt và thực hiện quyết định xử
phạt một cách khách quan, xử lý đúng người, đúng vi phạm, không thiên vị; chỉ
được chọn các chế tài, biện pháp xử lý đã được pháp luật quy định.
- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân
thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức,
biện pháp xử lý thích hợp.
- Không xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết,
phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc
bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình.
Các nguyên tắc kỹ thuật:
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần;
- Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi
phạm đều bị xử phạt;
- Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành
vi vi phạm.
Là một lĩnh vực thuộc nhà nước quản lý, xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực
BHXH cũng mang đầy đủ những nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính như đã
nêu trên.
1.2.3. Đặc thù của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
Tuy nhiên, việc quy định này cũng mang tính hình thức, trên thực tiễn không hiệu
quả. Bởi không riêng gì lĩnh vực BHXH mà hầu hết trong các lĩnh vực khác, vai trò
xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND là rất mờ nhạt, tất cả trông chờ vào
thanh tra chuyên ngành. Trong khi lực lượng này rất hạn chế và BHXH chỉ là một
mảng trong nghiệp vụ thanh tra lao động. Do vậy, hoạt động xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BHXH hầu hết được thực hiện trên cơ sở các đợt kiểm tra,
thanh tra về BHXH gồm, thanh tra đột xuất, thanh tra định kỳ theo quý, hoặc năm.
Bên cạnh đó, hiện tại vẫn thiếu cơ chế phối hợp giữa hệ thống kiểm tra, xử phạt vi
phạm hành chính của cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống kiểm tra nội bộ của cơ
quan tổ chức sự nghiệp BHXH. Dẫn tới tình trạng chậm trễ trong xử phạt vi phạm
hành chính. Vì BHXH là một chính sách có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn và liên
quan trực tiếp đến đời sống xã hội, trước tình trạng vi phạm đang ngày càng gia