VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THẾ ANH
SINH KẾ CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở
XÃ CẨM LƯƠNG, HUYỆN CẨM THỦY,
TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THẾ ANH
SINH KẾ CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở
XÃ CẨM LƯƠNG, HUYỆN CẨM THỦY,
TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
Ngành: Nhân học
Mã số : 9 31 03 02
-
Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa - nơi tôi đang công
tác đã tạo các điều kiện thuận lợi để tôi được theo học chương trình
nghiên cứu sinh khóa 2015 - 2018, cũng như giúp tôi các thủ tục cần thiết
trong quá trình viết và bảo vệ luận án;
- Lãnh đạo UBND và cán bộ các bộ phận giúp việc thuộc UBND xã Cẩm
Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, bà con người Mường, người Việt
ở
các thôn làng trong xã đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiếp cận, khai thác các
nguồn tư liệu cho luận án trong các đợt điền dã từ 2015- 2017;
-
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất
cho tôi trong quá trình thực hiện luận án;
-
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS. Bùi
Xuân Đính và PGS.TS. Trần Văn Thức đã tận tình chỉ bảo tôi trong việc định
hướng đề tài, tiếp cận các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, thu thập và
xử lý tư liệu, thực hiện các ý tưởng khoa học, để tôi hoàn thành tốt luận án.
Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thế Anh
2.3. Lâm nghiệp và khai thác các sản vật tự nhiên........................................................ 78
2.4. Thủ công nghiệp và đi làm công nhân các doanh nghiệp................................. 81
Tiểu kết Chương 2………………………………………………………… .83
Chương 3: CÁC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ.................................................................... 85
3.1. Các nguồn vốn cho hoạt động dịch vụ................................................................... 85
3.2. Nhìn nhận chung về các hoạt động dịch vụ ở xã Cẩm Lương hiện nay .. 87
3.3. Hoạt động dịch vụ du lịch ở khu Suối cá Cẩm Lương................................ 91
3.3.1. Những tiền đề khách quan cho sự hình thành các hoạt động dịch vụ du lịch
và khu du lịch Suối cá................................................................................................................... 91
3.3.2. Các hình thức dịch vụ du lịch đầu tiên................................................................... 94
3.3.3. Các hình thức dịch vụ du lịch ở khu vực Suối cá Cẩm Lương..................96
Tiểu kết Chương 3…………………………………………………………
.......................................................................................................................114
Chương 4: MỘT VÀI BÀN LUẬN TỪ NGHIÊN CỨU SINH KẾ HIỆN NAY
CỦA NGƯỜI MƯỜNG XÃ CẨM LƯƠNG............................................................. 116
4.1. Đánh giá biến đổi sinh kế của người Mường xã Cẩm Lương...............116
4.1.1. Những mặt tích cực, hiệu quả................................................................................... 116
4.1.2. Những mặt chưa hiệu quả........................................................................................... 122
4.1.3. Nhìn nhận biến đổi sinh kế từ góc nhìn Dân tộc học/Nhân học..............125
4.2. Những thuận lợi và khó khăn về sinh kế hiện nay của người Mường xã
Cẩm Lương..................................................................................................................................... 131
4.2.1. Những thuận lợi................................................................................................................ 131
4.2.2. Những khó khăn............................................................................................................... 134
4.3. Một số đề xuất, kiến nghị từ kết quả nghiên cứu......................................... 140
Bảng 4.2: Mức thu nhập thuộc diện trung bình khá ở hai thôn Lương Ngọc và
Lương Thuận năm 2018……………………………………………………121
DANH MỤC CÁC HỘP PHỎNG VẤN
Tran
g
Hộp 2.1: Ý kiến về so sánh thu nhập của trồng mía với trồng lúa......................... 66
Hộp 2.2: Ý kiến về tính cộng đồng trong trồng mía..................................................... 68
Hộp 3.1: Lý do mở quán rồi đóng quán sớm.................................................................... 89
Hộp 3.2: Lý do mở quán bia và dịch vụ đám cưới......................................................... 90
Hộp 3.3: Về việc bán hàng giúp cho người thân.......................................................... 100
Hộp 3.4: Về công việc của các thành viên câu lạc bộ chụp ảnh........................... 103
Hộp 3.5: Về việc mở nhà nghỉ nhưng không có khách............................................. 105
Hộp 4.1: Lý do về quê mở quầy hàng khi đã về già................................................... 120
Hộp 4.2: Về mâu thuẫn trong phân chia nguồn thu từ du lịch Suối cá.............139
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
1.1. Những năm gần đây, dưới góc độ Nhân học, một trong những vấn
đề được quan tâm nghiên cứu là sinh kế (còn được gọi bằng các khái niệm: kế
mưu sinh, phương thức mưu sinh ...) của các cộng đồng cư dân, các tộc người
cư trú tại các dạng môi trường khác nhau. Mỗi tộc người, mỗi nhóm cư dân
luôn gắn với một môi trường, cảnh quan nhất định. Trước môi trường sống
với các đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn ..., con người qua
tích lũy kinh nghiệm hàng nghìn năm đã có những nhận biết nhất định về
chúng để có một thái độ ứng xử hợp lý, thể hiện qua sinh kế, nhằm tạo lập
cuộc sống cho mình. Sinh kế và sự thích ứng với môi trường sống của con
người luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nghiên cứu hoạt động sinh kế
Cẩm Lương là một trong những xã vùng cao của huyện Cẩm Thủy, có
người Mường chiếm đa số, sinh sống từ rất lâu đời. Xã có các dạng cảnh
quan: thung lũng chân núi, núi - đồi thấp, sông Mã và các dòng suối. Cảnh
quan đa dạng trên đây tạo cho người Mường mưu sinh bằng nhiều hình thức
khác nhau, trong đó làm ruộng nước là chủ đạo. Từ khi thực hiện công cuộc
Đổi mới, sinh kế của đồng bào đã có những chuyển biến mạnh mẽ, nhờ các
chính sách của Đảng và Nhà nước, nhờ tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, xã Cẩm Lương với suối cá nổi tiếng còn có một vị trí quan trọng
trong sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Thanh Hóa. Người Mường ở đây đã
từng bước hòa nhập vào các hoạt động du lịch. Khu vực suối cá và xã Cẩm
Lương đã được quy hoạch, nằm trong vùng phát triển du lịch cộng đồng các
huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, quá trình thay đổi sinh
kế của đồng bào cũng như việc quy hoạch phát triển của các ngành, các cấp
tại tỉnh Thanh Hóa, huyện Cẩm Thủy đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm
giải quyết. Nghiên cứu sinh kế của người Mường ở xã Cẩm Lương không chỉ
2
hiểu thêm đặc điểm văn hóa Mường mà còn tạo cơ sở khoa học để đề ra các
giải pháp giúp đồng bào phát triển bền vững.
Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài Sinh kế
của người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
hiện nay làm đề tài luận án tiến sĩ Nhân học.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
-
vững trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập.
3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các dạng thức sinh kế hiện nay gắn
với môi trường sống của người Mường xã Cẩm Lương, như ở ý hai, mục 2.2
nêu trên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi nghiên cứu của luận án về không gian là xã Cẩm Lương,
huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa - nơi có Suối cá
1
nổi tiếng. Xã có 6 thôn
Kim Mẫm 1, Kim Mẫm 2, Lương Ngọc, Lương Hòa, Lương Thuận và Xủ
Xuyên. Tác giả luận án đã khảo sát tại tất cả các thôn, trong đó, hai thôn đã
được tập trung thời gian nghiên cứu nhiều hơn là thôn Lương Thuận - thôn có
nhiều thay đổi tích cực nổi bật trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thôn
Lương Ngọc - thôn có Suối cá, từ nhiều năm nay đã chuyển mạnh sang hoạt
động dịch vụ du lịch.
Về phạm vi thời gian, luận án nghiên cứu sinh kế của người Mường
hiện nay, tức các dạng thức sinh kế đang diễn ra. Các dạng thức sinh kế này
là sự kết hợp giữa các yếu tố truyền thống và các yếu tố mới xuất hiện từ khi
người Mường xã Cẩm Lương thực hiện công cuộc Đổi mới. Tuy nhiên,
nghiên cứu sinh lấy năm 2005 làm mốc, là thời điểm cầu treo bắc qua sông
Để thu thập được nguồn tư liệu cho luận án, nghiên cứu sinh sử dụng
phương pháp tổng quan tài liệu và thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp. Nghiên
cứu sinh đã cố gắng tiếp cận với các cuốn sách, luận án, tài liệu về sinh kế nói
chung và sinh kế của người Mường, về người Mường ở Việt Nam và người
Mường ở Thanh Hóa; cũng như thu thập các tài liệu liên quan đến người
Mường và sinh kế của người Mường tại địa bàn được lựa chọn nghiên cứu.
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, trong đó điền dã
Dân tộc học là phương pháp chính. Nghiên cứu sinh đã thực hiện nhiều
chuyến điền dã, trong đó hai chuyến từ 28/4 đến 5/5/2016 và từ 24/12 đến
31/12/2017 có sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên hướng dẫn tại thực địa.
Trong các chuyến điền dã, nghiên cứu sinh sử dụng các thao tác:
-
Quan sát: thao tác này giúp nghiên cứu snnh hình dung và thu thập
được những thông tin ban đầu về cảnh quan, môi trường cư trú, bố trí làng
5
xóm, nhà cửa, cách sinh hoạt và lao động của người Mường và sự giao tiếp
của họ trong cộng đồng - những yếu tố có liên quan đến sinh kế.
-
Quan sát tham dự: nghiên cứu sinh đã có các quan sát, tham dự sau: +
Quan sát, tham dự một số công việc lao động nông nghiệp hàng ngày,
như bừa ruộng, trồng, chăm sóc và thu hoạch mía, chăm sóc cá lồng; hay các
hoạt động dịch vụ (bán hàng), chặt tre, vót đũa tại khu du lịch Suối cá …
+ Quan sát, tham dự một số hoạt động của đời sống gia đình và cộng
đồng thôn bản.
Lương Ngọc (nơi có suối cá, có hoạt động dịch vụ khá sôi động), nhóm những
người trồng mía ở thôn Lương Thuận và nhóm các cán bộ xã, thôn.
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến của
các chuyên gia nhằm có thêm các kiến thức và kinh nghiệm để thu thập được
tương đối đầy đủ nguồn tư liệu, lý giải các khía cạnh trong phương thức mưu
sinh của người Mường tại địa bàn được nghiên cứu. Một số nhà khoa học có
kinh nghiệm nghiên cứu về người Mường trong ngành Dân tộc học, ở tỉnh
Thanh Hóa, cũng như nhiều nhà nghiên cứu có kinh nghiệm về sinh kế được
chúng tôi tiếp xúc để tham khảo ý kiến.
Luận án còn sử dụng phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế hộ gia đình
để thấy được cách thức mưu sinh của người Mường nói chung, những trường
hợp được tìm hiểu nói riêng.
Để làm rõ các khía cạnh liên quan đến sinh kế hiện nay của người
Mường tại địa bàn nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp phân tích,
diễn giải, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh.
Trong quá trình thu thập tư liệu cũng như xử lý tư liệu để luận giải các
khía cạnh liên quan đến sinh kế hiện nay của người Mường, tác giả luận án
chú trọng sử dụng các cách tiếp cận Nhân học/Dân tộc học, tức xem xét các
yếu tố tộc người và yếu tố địa phương đối với việc hình thành, tồn tại các
dạng thức sinh kế hiện nay của đồng bào Mường. Bên cạnh đó, còn sử dụng
cách tiếp cận Văn hóa học, coi sinh kế là biểu hiện của văn hóa (văn hóa mưu
sinh) và văn hóa là thành tố quan trọng của tộc người, có mối quan hệ với các
thành tố khác; tiếp cận hệ thống, đặt sự hình thành, tồn tại và thích ứng với
môi trường và điều kiện sinh sống của người Mường xã Cẩm Lương trong
mối liên hệ tổng thể của các yếu tố: địa lý tự nhiên, cơ sở kinh tế, thiết chế
văn hóa xã hội của làng, các chính sách của Đảng và Nhà nước.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ GIỚI THIỆU NGƯỜI MƯỜNG Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu về sinh kế các tộc người
Đến nay, đã có một khối lượng các công trình nghiên cứu của các học
giả nước ngoài về sinh kế, trong đó chiếm số đông là các công trình liên quan
đến hoạt động nông nghiệp…
Liên quan đến lịch sử nghiên cứu của đề tài, có hai vấn đề cần tập trung
làm rõ đó là tình hình nghiên cứu về sinh kế nói chung và nghiên cứu về sinh
kế người Mường nói riêng.
1.1.1.1.Một số công trình nghiên cứu về sinh kế của các học giả nước ngoài
Sinh kế của các tộc người, các nhóm cư dân có nhiều hình thức khác nhau.
Với người Mường, hoạt động sinh kế chủ yếu là nông nghiệp, nên
chúng tôi trình bày một số công trình liên quan đến lĩnh vực này.
Trong Sự xuất hiện và phát triển của nông nghiệp, các tác giả
V.D.Blavaski - A.V.Nikitin cho rằng, nông nghiệp xuất hiện ngay trong thời
đại công xã nguyên thủy và là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển
của năng suất lao động và sự tích lũy tài sản, dẫn tới chỗ củng cố và thịnh đạt
của xã hội nguyên thủy. Từ đó, tác giả đã khẳng định, nông nghiệp là một
trong những phát minh vĩ đại nhất của con người [125].
Khi bàn về nông nghiệp ở Đông Nam Á, N.N.Tsêbốcsarốp khẳng định,
những đặc trưng văn hóa nông nghiệp của các dân tộc ở Đông Nam Á đã hình
thành từ những điều kiện lịch sử nhất định và nó được định đoạt bởi sự phát
triển kinh tế - xã hội và hoàn cảnh tự nhiên. Tuy vậy, những đặc trưng đó
được cũng cố bởi truyền thống, trở thành những đặc điểm đối với các dân tộc
9
10
của tỉnh Quý Châu, Tây Nam Trung Quốc) của Li Ya- Juan [138], Mahdi,
Sivakoti, G. P, & Schmidt- Vogt, D. đề cập đến thay đổi sinh kế và sinh kế bền
vững ở vùng cao của tiểu vùng Lembang, Tây Sumatra, Indonesia, trong bối
cảnh quản lý tài nguyên thiên nhiên đang thay đổi [139],
1.1.1.2. Nghiên cứu về sinh kế ở Việt Nam
Ở
Việt Nam, không kể các phần viết trong các cuốn địa chí được xuất bản dưới
thời phong kiến, từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, khi ngành
Dân tộc học ra đời, đã có một lượng lớn các công trình dưới các thể loại khác
nhau về hoạt động sinh kế của các tộc người. Ngoài các cuốn sách, các đề tài
khoa học các cấp, các luận án phó tiến sĩ (từ năm 2000 trở đi là tiến sĩ), còn có
rất nhiều các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Chỉ riêng Tạp chí Dân
tộc học, từ năm 1972 đến năm 2015 đã có trên 200 bài liên quan đến các khía
cạnh về sinh kế các tộc người được đăng tải.
Phần Tổng quan này chỉ đề cập đến các công trình Dân tộc học/Nhân
học bàn về sinh kế của các tộc người thiểu số, tập trung ở miền núi phía Bắc.
Điểm đầu tiên có thể nhận thấy là đa số các công trình đều tập trung
nghiên cứu về sinh kế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta. Có
thể phân thành các nhóm công trình tiêu biểu sau:
- Các chuyên khảo giới thiệu chung về các tộc người thiểu số ở nước ta,
như bộ sách hai tập Các dân tộc ít người ở Việt Nam do Viện Dân tộc học biên
soạn [114, 115] và đặc biệt là bộ sách gồm bốn tập Các dân tộc ở Việt Nam
cũng do Viện Dân tộc học biên soạn [116, 117, 118, 119]. Trong nội dung giới
thiệu về các tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ, đều có phần viết về sinh kế
(cơ sở kinh tế) của mỗi tộc.
Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam [18], Đến với người Tày và văn hóa Tày [121],
Dân tộc Kháng ở Việt Nam [48] v.v.
-
Các chuyên khảo riêng về sinh kế của các tộc người, tiêu biểu là hai tập sách
Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam
[5], Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam của
Trần Bình [6]; luận án tiến sĩ của Bùi Thị Bích Lan Hoạt động mưu sinh của
người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [55]. Một số
chuyên khảo về từng khía cạnh của sinh kế, như Trồng trọt của các dân tộc
tại chỗ Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo [25], Các dân tộc Tày Nùng với tiến
bộ khoa học kỹ thuật [37], hoặc tuy không đề cập trực diện, nhưng đều có liên
quan đến sinh kế, như đề tài cấp bộ Một số vấn đề cơ bản về canh
12
tác nương rẫy do Đoàn Đình Thi chủ biên [96], các luận án tiến sĩ Định canh
định cư của người Khơ - mú và người Hmông huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
của Nguyễn Văn Toàn [87], Sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên
của Nguyễn Đăng Hiệp Phố [74] v. v.
Trong các thể loại công trình trên, hoạt động mưu sinh truyền thống của
các tộc người được phản ánh qua các ngành kinh tế (nông nghiệp, nghề thủ
công và trao đổi buôn bán).
Trong nông nghiệp, các công trình đã chỉ rõ, trồng trọt là bộ phận chủ
đạo của nông nghiệp - cơ sở kinh tế chính, do vậy cũng là hoạt động mưu
sinh chính của các tộc người ở nước ta. Tùy điều kiện cảnh quan (chủ yếu là
địa hình) mà các tộc người hoặc làm ruộng nước trong các thung lũng chân
núi (như người Thái, Mường, Tày, Nùng, Lự) hay ở đồng bằng (Chăm, Khơ me); hoặc làm nương rẫy (đa số các tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ);
các tộc Hmông, Hà Nhì, Lô Lô… tạo ra những cánh đồng ruộng bậc thang,
trở thành những kiệt tác, kết hợp giữa thiên nhiên và bàn tay con người.
Do sống với môi trường tự nhiên có sản vật phong phú, trong khi trồng
trọt và chăn nuôi không bảo đảm được nguồn lương thực và thực phẩm, nên
các tộc người thiểu số ở nước ta có một hoạt động sinh kế khác là khai thác
các sản vật tự nhiên (hái lượm và săn bắt). Hoạt động hái lượm gồm đào các
loại cây củ làm lương thực chống đói (củ mài, củ nâu…), thu hái các loại cây,
lá, nấm, mộc nhĩ làm thực phẩm, mùa nào thức ấy; các loại cây lá để làm
thuốc…. Hoạt động săn bắt gồm các hình thức đánh bắt cá trong các con suối,
con sông; các hình thức săn bắt các loại thú trong rừng. Săn bắt không chỉ
đem lại nguồn thực phẩm mà còn là hoạt động mang tính giải trí tập thể, tính
cộng đồng cao. Các công trình giới thiệu về đời sống kinh tế của các tộc
người đều có mục “Săn bắt, hái lượm”, hay “Khai thác các sản vật tự nhiên”.
Nghề thủ công - một trong những hoạt động mưu sinh của con người
được đề cập trong các công trình nghiên cứu Dân tộc học thường đứng sau
mục “Trồng trọt”. Điều đó chứng tỏ, hoạt động này chỉ là “phụ”. Các công
trình nghiên cứu đã chỉ rõ, nghề thủ công ở các tộc người thiểu số có các đặc
điểm nổi bật sau:
14
-
Chủ yếu là nghề thủ công gia đình: gắn với cuộc sống gia đình, khung tổ
chức là gia đình, phục vụ cuộc sống của gia đình là chính.
-
Hai nghề phổ biến nhất ở các tộc người là dệt và đan lát; một số vùng
có nghề rèn, chế tạo thuyền …
-
Trong khi đề cập đến sinh kế (các bộ phận kinh tế) của các tộc người,
các công trình đều chỉ ra các yếu tố có liên quan đến tổ chức hoạt động sản
xuất, như quan hệ tương trợ, quan hệ cộng đồng, nhất là trong trồng trọt, thể
hiện ở việc cùng chung sức xây dựng hệ thống thủy lợi ở các tộc Thái,
Mường, Tày; các quan hệ sở hữu đất đai (ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,
đất rừng và đất nương thuộc quyền chiếm hữu chung theo phạm vi làng bản;
còn ruộng nước ở vùng người Thái, người Mường thuộc quyền công hữu của
cả mường; trong khi đó, ở vùng Đông Bắc, ruộng nước và phần lớn đất đều
thuộc quyền tư hữu của các gia đình). Ngoài ra, các công trình còn đề cập đến
các khía cạnh làng bản, các nghi lễ, các phong tục liên quan đến các hoạt
động mưu sinh… Các công trình cũng khẳng định, tập quán mưu sinh là một
trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc người, có mối quan hệ hữu
cơ với văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa xã hội và văn hóa nhận thức. Từ
đây, các tác giả cho rằng, nhiều dự án phát triển kinh tế không thu được hiệu
quả như mong muốn một phần là do không dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ
lưỡng tập quán, tri thức mưu sinh của cư dân địa phương.
Cùng với việc nghiên cứu sinh kế truyền thống, trong hơn 20 năm trở
lại đây, các nhà Dân tộc học/Nhân học đã lưu tâm nhiều hơn đến biến đổi của
sinh kế truyền thống các tộc người trong điều kiện kinh tế - xã hội mới của đất
nước. Những thuận lợi, cũng như khó khăn và thách thức của mỗi tộc người
trong công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế tự cấp, tự túc, phụ thuộc vào thiên
nhiên sang kinh tế thị trường là những vấn đề được các học giả tập trung
nghiên cứu. Đặc biệt, với các tộc người sống bằng nông nghiệp nương rẫy,
các nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn của hệ thống nông nghiệp truyền
thống sang sản xuất hàng hóa, nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây
trồng, vật nuôi. Cuốn Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên của nhóm tác
giả Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng [61] hay Trồng trọt truyền
thống các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo [25] ... đều
Thái tái định cư Thủy điện Sơn La [58].
Nhìn chung, nghiên cứu về hoạt động sinh kế của các tộc người thiểu
số ở nước ta đến nay đã trải qua một chặng đường dài, với một lượng lớn các
17