ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TIỀM NĂNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TRÊN SÔNG TÚY LOAN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
GVHD
: TĂNG CHÁNH TÍN
SVTH
: VÕ THỊ THÙY NGA
LỚP
: 14CVNH
ĐÀ NẴNG, NĂM 2018
MỤC LỤC
Phần mở đầu .............................................................................................. 5
Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 7
Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 7
Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 9
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .......................................... 9
Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 10
2.1.3. Đặc điểm thủy văn ............................................................................ 34
2.1.4 Sông Túy Loan trong văn hóa, lịch sử Đà Nẵng................................ 35
2.2. Tiềm năng phát triển du lịch trên sông Túy Loan, thành phố Đà
Nẵng ............................................................................................................ 36
2.2.1. Tiềm năng về tài nguyên du lịch ....................................................... 36
2.2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ........................................................... 36
2.2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn .......................................................... 38
2.2.1.3. Tài nguyên về cơ sở hạ tầng, kinh tế kỹ thuật bổ trợ ..................... 43
2.2.2. Tiềm năng về nguồn nhân lực ........................................................... 44
2.2.3. Tiềm năng về hệ thống chính sách, quy hoạch phát triển du lịch 45
2.3. Các loại hình du lịch có thể khai thác trên sông Túy Loan............ 46
2.3.1. Loại hình du lịch sinh thái................................................................. 46
2.3.2. Loại hình du lịch văn hóa lịch sử ...................................................... 48
2.3.3. Loại hình du lịch làng nghề............................................................... 52
2.3.4. Loại hình du lịch cộng đồng ............................................................. 54
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN SÔNG TÚY LOAN, THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG ....................................................................................................... 57
3.1 Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch trên sông Túy Loan, thành phố
Đà Nẵng ...................................................................................................... 57
3.1.1. Các tuyến điểm du lịch trên sông Túy Loan ..................................... 57
3.1.2. Tình hình khách du lịch và doanh thu ............................................... 59
3.1.3. Hiện trạng khai thác, đầu tư cơ sở hạ tầng ........................................ 59
3.1.4. Công tác truyền thông, quảng bá du lịch .......................................... 60
3.1.5. Chính sách đầu tư, phát triển của chính quyền địa phương .............. 60
3.1.6. Ý kiến phản hồi của du khách ........................................................... 62
3.2. Giải pháp phát triển du lịch ven sông Túy Loan, thành phố
Đà Nẵng .......................................................................................................... 62
gia nghiên cứu, khảo sát thực địa tại địa phương để từ đó hoàn thiện khóa luận
tốt nghiệp một cách trọn vẹn nhất.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên Th.S Tăng
Chánh Tín, người đã trực tiếp tận tình hướng dẩn trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận.
Do còn hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm nên bài khóa luận sẽ
không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ
phía quý thầy cô cùng các bạn đọc để bài khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện
hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 22 tháng 04 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Thùy Nga
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Du lịch là một trong những nhu cầu thiết yếu và không thể thiếu được
trong đời sống xã hội hiện nay và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn góp phần
phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia và khu vục trên thế giới. Ngành du
lịch còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các nước đang
phát triển. Tổ chức Du lịch Thế giới Liên Hiệp Quốc nhận định rằng: “Tại nhiều
quốc gia đang phát triển, du lịch là nguồn thu nhập chính, ngành xuất khẩu
hàng đầu, tạo ra nhiều công ăn việc làm và cơ hội cho sự phát triển” (WTOHL2008).
Du lịch Việt Nam ra đời từ những năm 1960 trong suốt hơn 50 năm hình
thành và phát triển, đặc biệt trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế ngành du
lịch Việt Nam đã có những bước phát triển vượt trội, đạt được nhiều thành tựu
và trở thành là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam.
càng hoàn thiện. Bãi Biển Mỹ Khê có nhiều bãi tắm đẹp được tạp chí Forbest
của Mỹ bình chọn là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh.
Thành phố Đà Nẵng nổi tiếng với những dòng sông uốn lượn, bao bọc
những làng quê thanh bình đã đi vào lịch sử, thi ca như sông Hàn, sông Cẩm Lệ,
sông Túy Loan, sông Cu Đê,…
Đặc biệt ở phía Tây của thành phố tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà
Nẵng có dòng sông Túy Loan với lợi thế là tài nguyên du lịch phong phú và đa
dạng hấp dẫn du khách bởi các giá trị tự nhiên và văn hóa nổi bật như : đình
làng Túy Loan, đình Bồ Bản, đình Dương Lâm, chợ Túy Loan,…
Và đặc biệt khi nhắc đến Túy Loan thì nổi bật nhất vẫn là con sông Túy
Loan đoạn chảy qua xã Hòa Phong và Hòa Nhơn tạo nên một dòng sông trù
phú. Khu vực ven sông Túy Loan mới được đưa vào khai thác phục vụ phát
triển du lịch và cùng với lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch nhân văn đã được đánh giá là một trong những điểm du lịch hấp dẫn và
mang tính mới mẻ tại huyện Hòa Vang - thành phố Đà Nẵng.
Bên cạnh các điều kiện thuận lợi về nguồn tài nguyên thiên nhiên du lịch
Việt Nam là một trong những nước có dân số đông, đội ngũ lao động dồi dào,
7
thị trường du lịch rộng lớn, hệ thống giao thông phát triển, cơ sở vật chất phục
vụ du lịch được đầu tư phát triển. Cùng với đó là đời sống con người ngày càng
nâng cao, trình độ dân trí phát triển, vì vậy mà nhu cầu, sở thích đi tìm tòi,
khám phá những vùng đất mới và hưởng thụ các dịch vụ du lịch mang lại.
Tuy nhiên việc đầu tư phát triển du lịch vẫn còn mang tính tự phát, còn
nhiều bấp bênh và chưa có hướng đầu tư phát triển hợp lý, khai thác không
đúng cách theo hướng dẫn của cơ quan chức năng cho nên quá trình phát triển
không mang lại hiệu quả cao.
Với mong muốn nhìn nhận tiềm năng và đề xuất những giải pháp, định
hướng phát triển du lịch trên sông tại khu vực Túy Loan. Chính vì vậy mà tôi
bản địa tạo một thương hiệu Đà Nẵng riêng.
Ngoài ra còn có các công trình “Du lịch bền vững” của Nguyễn Đình
Hòe và Vũ Văn Hiếu (NXB ĐHQG Hà Nội, 2002). Công trình đã nghiên cứu
các tác động của du lịch đến môi trường và đưa ra những chiến lược để phát
triển du lịch bền vững ở những nơi có nguồn tài nguyên.
Bên cạnh dó còn có các bài báo được xuất bản trên các trang báo Đà
Nẵng như: “Du lịch Đà Nẵng – Những hướng đi mới” của thạc sĩ Nguyễn Kì
Anh trong tạp chí Văn Hóa Du Lịch Đà Nẵng.
Và còn có công trình “Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng” của
Trần Thị Kim Ánh. Công trình đã hệ thống hóa những ly luận và thực tiễn về du
lịch biển, phát triển du lịch biển. Nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế
phát triển du lịch biển. Làm rõ tiềm năng, thực trạng khai thác phát triển du lịch
ven biển Đà Nẵng để từ đó đưa ra các định hướng và đề xuất giải pháp để phát
triển du lịch biển Đà Nẵng.
Đó là một số công trình nghiên cứu về du lịch ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Tuy nhiên có thể nói rằng tại khu vực Túy Loan, huyện Hòa Vang, thành
phố Đà Nẵng vẫn còn quá ít các công trình nghiên cứu,tìm hiểu một cách sâu
sắc đến quá trình phát triển du lịch cũng như đưa ra các phương hướng, giải
pháp phát triển du lịch bền vững tại đây.
Tuy nhiên dựa trên sự khai phá, tìm tòi, nghiên cứu cũng như các nguồn
tư liệu quý báu, đáng tin cậy của các nhà nghiên cứu đi trước đã giúp tôi có thể
9
hoàn thành tốt việc nghiên cứu đề tài “TIỀM NĂNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TRÊN SÔNG TÚY LOAN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG’’.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở về lý luận du lịch đường sông,đồng thời vận dụng những kiến
thức đã học về du lịch để áp dụng và nghiên cứu về tiềm năng du lịch ở trên
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Thông tin về đối tượng nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác
nhau nên cần phải đưa ra các phương pháp như so sánh, phân loại và chọn lọc
thông tin chính xác để làm tư liệu cho bài viết. Đây là phương pháp giúp nhận
rõ thông tin cần thiết để lập số liệu chứng minh cho đề tài.
5.2. Phương pháp khảo sát thực tế
Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản để khảo sát thực tế tại phạm vi
nghiên cứu,áp dụng lý luận kết hợp với thực tế, bổ sung cho các thông tin
nghiên cứu chính xác hơn. Việc khảo sát thực tế và tìm hiểu thông tin trực tiếp
giúp cho ta thu thập được số liệu, tư liệu chính xác để từ đó việc nghiên cứu đạt
hiệu quả và có cái nhìn khách quan hơn. Ngoài ra thì phương pháp này giúp
tăng tính thuyết phục hơn cho đề tài.
5.3. Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu đề
tài. Khi sử dụng phương pháp này để phỏng vấn trực tiếp tại khu vực thì ta có
thể lấy được thông tin trực tiếp từ người dân địa phương hay khách du lịch và
những người có trách nhiệm trực tiếp tại khu vực (quản lý), những người cung
cấp các dịch vụ du lịch. Từ đây ta có thể biết được tiềm năng, tính hấp dẫn của
khu vực nghiên cứu. Và sau đó có thể đề ra các giải pháp, định hướng khách
quan hơn về tài nguyên du lịch cũng như cách thức tổ chức hoạt động du lịch tại
khu vực nghiên cứu.
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Về mặt khoa học
11
Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch trên
sông Túy Loan - huyện Hòa Vang - thành phố Đà Nẵng.
6.2. Về mặt thực tiễn
hay một việc kiếm tiền sinh sống tại nơi đến,…”.
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các
chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ,
hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú
của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước
họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của
họ.”
Các nhà du lịch Trung Quốc lại cho rằng: Hoạt động du lịch là tổng thể
hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất
định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm
điều kiện.
Khác với quan điểm trên thì theo như tổ chức du lịch thế giới (World
Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những
người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải
nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giản cũng như mục đích hành
13
nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá
một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà
có mục đích chính là kiếm tiền”.
Theo quan điểm của I. I. Pirogionic (1985) lại cho rằng: “Du lịch là một
dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và
lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh,
phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể
thao kèm theo những việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn
hóa”.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai
khía canh:
bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp.
Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa –
xã hội.
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu,
năng lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người
có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các
nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố con người và
xã hội. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Chính
vì vậy mà khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và
lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực
và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài
nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất
dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện
kinh tế – kỹ thuật cho phép.”
Tại điều 10 của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch
được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị
nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả
15
mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du
lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”.
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch. Đó là
cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
Phân loại theo mục đích chuyến đi:
+ Du lịch tham quan
+ Du lịch giải trí
+ Du lịch nghĩ dưỡng
+ Du lịch khám phá
+ Du lịch thể thao
+ Du lịch lễ hội
+ Du lịch tôn giáo
+ Du lịch nghiên cứu, học tập
+ Du lịch hội nghị
+ Du lịch thể thao kết hợp
+ Du lịch chữa bệnh
+ Du lịch tham thân
+ Du lịch kinh doanh
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động:
+ Du lịch quốc tế
+ Du lịch nội địa
+ Du lịch quốc gia
Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch:
+ Du lịch miền biển
+ Du lịch núi
+ Du lịch đô thị
+ Du lịch thôn quê
Phân loại theo phƣơng tiện giao thông:
17
+ Du lịch xe đạp
+ Du lịch ô tô
+ Du lịch bằng tàu hoả
Du lịch trên sông có thể hiểu là sản phẩm du lịch tổng hợp mà các hoạt
động vui chơi, giải trí, tham quan , ăn uống, nghỉ dưỡng, vận chuyển gắn liền
với sông nước và kết hợp cùng với việc tìm hiểu đời sống, văn hóa của cư dân
các địa phương nhằm làm tăng thêm hiểu biết chung về văn hóa xã hội cho mỗi
du khách, và cả người dân bản địa. Các dịch vụ du lịch được phục vụ ngay trên
sông hoặc ven bờ sông. Đặc biệt phát triển du lịch trên sông đi đôi với phát triển
đời sống kinh tế người dân trong vùng và bảo vệ môi trường sinh thái sông nước
và ven bờ luôn được quan tâm hàng đầu.
Du lịch trên sông tham gia tích cực vào quá trình tạo nên nguồn thu nhập
cho địa phương (các dịch vụ du lịch, chế biến và tiêu thụ thực phẩm, xây dựng
cơ sở vật chất hạ tầng kĩ thuật,…). Đồng thời loại hình du lịch trên sông góp
phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho người lao động trong khu vục
khai thác du lịch.
1.1.2.2. Điều kiện để phát triển du lịch trên sông
1.1.2.2.1. Tài nguyên du lịch
Loại hình du lịch trên sông là loại hình du lịch được phát triển dựa trên
nguồn tài nguyên tự nhiên sẵn có của địa phương, khu vực như núi, sông, ao,
hồ, biển, khí hậu tạo nên cảnh quan hùng vĩ, hấp dẫn thu hút du khách.
Ngoài tài nguyên du lịch tự nhiên còn có tài nguyên du lịch nhân văn. Để
có thể phát triển loại hình du lịch này thì nơi đó không chỉ phải có sông nước
mà dọc theo tuyến sông còn có rất nhiều đền, chùa, miếu cổ, di tích lịch sử văn
hóa và các địa điểm tâm linh rất thích hợp cho việc kết hợp du lịch ngắm cảnh
và du lịch tâm linh. Đồng thời lối sống sinh hoạt, phong tục tập quán của cộng
đồng dân cư làm nghề chài lưới, nuôi trồng nông nghiệp và các làng nghề
truyền thống hay các lễ hội của địa phương mang đậm nét văn hóa sông nước
Việt Nam.
1.1.2.2.2. Nhu cầu của du khách
Du lịch là một trong những nhu cầu thiết yếu và không thể thiếu được
giá tiềm năng, chúng ta sẽ có những định hướng phát triển phù hợp. Ví dụ, quy
hoạch và đánh giá xem nơi nào thích hợp khai thác du lịch trên sông. Đoạn
sông, hồ nào có cảnh quan đẹp, thích hợp phát triển du lịch để quy hoạch lại và
20
cần phải sửa chửa, tu bổ lại các di tích lịch sử có ý nghĩa văn hóa cũng như xây
dựng thêm các làng nghề tại khu vực.
Trên cơ sở quy hoạch đó, mới xác định đầu tư bến bãi, hạ tầng bến cảng.
Tùy thuộc khung cảnh, địa hình dòng sông, cảnh quan của từng nơi, để định
hướng sẽ dùng loại hình phương tiện vận tải nào nên đưa vào phục vụ du khách.
Chẳng hạn, những khu vực sinh thái thuần túy, nên hạn chế không cho các
phương tiện có động cơ đi trên đó.
Cần đưa vào khai thác nhiều sản phẩm, dịch vụ du lịch kết hợp với loại
hình du lịch trên sông tại khu vực để đáp ứng các nhu cầu phong phú của du
khách.
Cần quan tâm xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên du lịch phục
vụ du lịch chuyên nghiệp có kiến thức sâu rộng về văn hóa, lịch sử gắn với văn
hóa, có khả năng thuyết minh bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Bên cạnh đó
cũng cần các hướng dẫn, hình thành mạng lưới hướng dẫn viên không chuyên
xuất thân từ chính những người dân bản địa.
Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch gắn liền với sông nước
và ven bờ. Bên cạnh loại hình du lịch văn hóa – tâm linh, có thể thiết kế các
chương trình kết hợp thưởng thức ẩm thực địa phương với ngắm cảnh sông.
Một trong những điều quan trọng khác cần chú ý, đó là không chỉ khai
thác và sử dụng, phát triển du lịch trên sông cần chú trọng tu bổ, cải thiện cơ sở
vật chất để lưu giữ giá trị văn hóa lịch sử, bảo vệ môi trường và phát triển giá trị
thương mại. Đồng thời giải quyết tốt các ván đề nảy sinh trong quá trình khai
thác các tuyến du lịch trên sông như biến đổi cảnh quan hai bên bờ sông, ảnh
hưởng đến công dụng của dòng sông, chuyển đổi ngành nghề cho người dân hai
nhằm tạo nên sự phong phú và hấp dẫn cho hành trình du lịch trên sông.
Thứ ba là một trong những điều kiện không kém phần quan trọng chính là
người làm du lịch, nhất là hướng dẫn viên. Vì mỗi tuyến du lịch trên sông đều
có một hành trình du lịch nhất định và đi qua nhiều cảnh đẹp đặc trưng không
dễ nhận thấy, nên người hướng dẫn viên phải biết giới thiệu được những đặc
điểm về cảnh quan thiên nhiên, cuộc sống hoang dã, đời sống của cư dân dọc
theo dòng sông, hoặc là giới thiệu về những công trình kiến trúc, công trình văn
22
hóa đặc sắc xuất hiện trong lộ trình bằng những thứ tiếng khác nhau. Điều này
đòi hỏi người hướng dẫn viên phải có những kiến thức phong phú về địa
phương và vốn ngoại ngữ dồi dào, khả năng truyền đạt tốt.
Ngoài hướng dẫn viên thì việc đào tạo người dẫn địa phương trở thành
những hướng dẫn viên không chuyên cũng là một yếu tố cần thiết. Chính những
người dân này sẽ là nguồn bổ sung những thông tin thực tế, mới lạ bên cạnh
những thông tin chính thống do hướng dẫn viên của các công ty lữ hành cung
cấp.
Tiếp đến đó là về cơ sở vật chất. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến tính
an toàn và phù hợp của phương tiện vận chuyển. Tùy theo đặc điểm của từng
dòng sông và từng loại hình du lịch mà lựa chọn kiểu phù hợp, thuyền theo kiểu
truyền thống hay hiện đại, thuyền theo kiểu kích thước lớn hay nhỏ, các trang
thiết bị cứu hộ…khi du khách tham gia các hoạt động. Bên cạnh đó cần phải
đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng các cầu cảng, bến đỗ, tu sửa các di sản, di tích,
công trình văn hóa tại đia phương tạo điều kiện cho du khách tham quan.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch trên sông ở thế giới và ở Việt
Nam
1.2.1.1. Trên thế giới
Các dòng sông từ xưa đến nay đều được xem là một loại tài nguyên du
Bên cạnh đó, xu hướng phát triển du lịch đường sông liên vùng, tức liên
kết các tỉnh, thành phố tiêu điểm du lịch của một quốc gia, thậm chí nhiều quốc
gia liền kề cũng ngày càng thu hút du khách. Có thể kể đến tuyến du lịch dọc
sông Danube nổi Passau (Đức) – (Áo) – Bratislava – Budapest (Hungary), tuyến
du lịch dọc sông Elbe thăm một loạt lâu đài, cung điện ở Đức và Czech, tuyến
du lịch dọc sông Rhine từ Basel (Thụy Sĩ) – Strasboung (Pháp) – Koblenz –
Koln (Đức) – Amsterdam (Hà Lan) và Bỉ… Ở Châu Âu thì nổi danh với du lịch
sông Mekong giữa các nước Myanmar, Lào, Campuchia và Việt Nam…Và đã
đến Bắc Phi thì không du khách thành phố đến vĩ đại Luxor tới Aswan – điểm
cực nam của Ai Cập.
1.2.1.2. Ở Việt Nam
24
Tại Việt Nam, du lịch sông cũng được các địa phương khai thác rất đa
dạng. Đến với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết các du khách đều
không bỏ lỡ chương trình du lịch trên sông. Khách du lịch tới đây được giới
thiệu những tour trên các tuyến sông hấp dẫn, mang đặc trưng của vùng đất
Nam Bộ như: du lịch đến bến Ninh Kiều vào ban đêm, nghe đờn ca tài tử Nam
Bộ, du lịch bằng thuyền trên sông Mekong và các kênh rạch để ngắm phong
cảnh làng quê thôn dã, tham quan chợ nổi Cái Răng, ghé các nhà vườn hai bên
bờ sông để thưởng thức trái cây bốn mùa,…
Thành phố Hồ Chí Minh có chương trình du lịch bằng thuyền Bonsai
Cruise tại bến Nhà Rồng. Thừa Thiên Huế có chương trình du lịch gắn với sông
Hương như: đi thuyền dọc theo sông Hương đến thăm chùa Thiên Mụ, điện Hòn
Chén, lăng Minh Mạng,… lênh đênh trên thuyền nghe ca Huế hay thưởng thức
các món ẩm thực xứ Huế, ngắm cầu Trường Tiền, Đại Nội lung lịnh ánh điện
vào ban đêm… Thủ đô Hà Nội cũng hấp dẫn du khách với chương trình du lịch
sông Hồng thăm làng gốm Bát Tràn, thăm đền thờ Chử Đồng Tử-Tiên Dung…
Thời gian gần đây, Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam đã có chủ