Nhu cầu khám chữa bệnh và một số yếu tố liên quan tại khoa khám bệnh theo yêu cầu – bệnh viện tai mũi họng trung ương năm 2017 - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe đã có từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt là
các nước phát triển. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hoa Kỳ đã dành
8,608$ bình quân đầu người cho chăm sóc Y tế và chiếm tới 17,2% tổng sản
phẩm quốc gia [33]. Ở Việt Nam từ sau khi đất nước giành được độc lập, nền
kinh tế của đất nước ngày càng nâng cao. Tiếp theo đó là nhu cầu được chăm
sóc sức khỏe, được khám và điều trị bệnh của người bệnh cũng như của nhân
dân ngày càng cao. Trước những tình hình đó Chính phủ đã đặt ra mục tiêu về
qui hoạch, phát triển mạng lưới khám chữa bệnh (KCB) và tầm nhìn năm 2020:
“Xây dựng và phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ngang tầm
các nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân
dân hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển” [3].
Nhưng thực tế trong những năm gần đây hiện tượng quá tải tại các bệnh
viện Trung ương, tình trạng vượt tuyến xảy ra hằng ngày, các cơ sở y tế tuyến
dưới không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Quá tải tại
các bệnh viện cũng ảnh hưởng tới chất lượng KCB và thái độ phục vụ người
bệnh. Theo số liệu thống kê của cục quản lý KCB - BYT tính đến hết năm 2011,
tình trạng quá tải các bệnh viện tuyến trung ương lên đến 36,4%, tập trung ở các
chuyên khoa sâu.
Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Trung ương là bệnh viện tuyến chuyên khoa
đầu ngành về tai, mũi, họng, khám và điều trị tất cả các bệnh về tai, mũi, họng
và vùng đầu mặt cổ vì vậy lượng bệnh nhân đến khám bệnh tại bệnh viện hàng
ngày rất đông. Mặc dù bệnh viện đã có những giải pháp, những bước đi cụ thể
để cải thiện tình trạng này như triển khai một số dịch vụ khám chữa bệnh theo
yêu cầu ở khoa khám bệnh, nhưng tình trạng quá tải vẫn thường xuyên diễn ra.
Để góp phần đưa ra những con số về tình trạng khám chữa bệnh tại khoa khám
bệnh theo yêu cầu và cung cấp bằng chứng cho Ban lãnh đạo và quản lý của


viện, cơ sở y tế tư nhân, các phòng khám theo yêu cầu…). Ngược lại các nhà cung
cấp dịch vụ y tế cần đầu tư cơ sở hạ tầng, trang bị máy móc, ứng dụng kỹ thuật tiên
tiến hiện đại để đáp ứng nhu cầu đó. Nó phản ánh nhu cầu KCB gắn liền với sự
phát triển kinh tế và trình độ phát triển của xã hội về mọi mặt. Khi ngành Y tế phát
triển thì nhu cầu KCB của nhân dân sẽ càng cao và rất đa dạng
1.1.2. Một số mô hình và hoạt động khám chữa bệnh tự nguyện nhằm đáp
ứng nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện của nhân dân
1.1.2.1. Một số mô hình khám chữa bệnh theo yêu cầu
Tại khoa khám bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân
đăng ký KCB bằng thẻ ngân hàng với giá một thẻ là 30.000 đồng trở lên, bệnh
nhân và gia đình bệnh nhân có quyền lựa chọn bác sĩ khám cho mình mà không
cần phải xếp hàng chờ đợi lâu. Quản lý bệnh án điện tử minh bạch, mọi thắc
mắc đều được đáp ứng và giải thích nhanh chính xác. Mỗi lần khám bác sỹ,
bệnh nhân phải chi trả 50.000 đồng và giáo sư khám là 100.000 đồng. Khoa
khám chữa bệnh theo yêu cầu có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ khám chữa
bệnh với chất lượng cao, chăm sóc toàn diện [6].


4
Ở khoa KCB theo hẹn của bệnh viện Nhi đồng 1 - Thành phố Hồ Chí
Minh có hình thức KCB theo hẹn qua điện thoại nhằm đáp ứng nhu cầu của
những phụ huynh không có thời gian, nhà ở xa muốn có cuộc hẹn ngày giờ
khám cụ thể trước khi đưa trẻ đến bệnh viện tránh phải chờ đợi lâu, đỡ tốn thời
gian gây mệt mỏi cho trẻ và gia đình người bệnh” trung bình một ngày có hơn
400 lượt gia đình bệnh nhân yêu cầu.
Phòng khám chất lượng cao nội ngoại Nhi của bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh được mở với mục đích nâng cao chất lượng KCB, giảm
tải thời gian chờ đợi, nhằm đáp ứng nhu cầu KCBTN của gia đình bệnh nhân.
Một số bệnh ngoại Nhi được mổ và ra viện trong ngày, với phương thức dịch vụ
“một điểm dừng” của phòng khám dịch vụ 9 chất lượng cao, bệnh nhân sẽ được
khám theo yêu cầu, theo lịch hẹn, được tiếp đón, khám chữa bệnh, điều trị, phát

nhân viên và từ sự đóng góp, tài trợ của các tổ chức bên ngoài. Phần vốn đóng
góp của nhân viên được chia lời theo dạng cổ đông. Tất cả các đơn vị đầu tư
nâng cấp cơ sở hạ tầng đều có trang bị thêm máy móc thiết bị. Các máy móc
được mua chủ yếu là máy siêu âm, máy chụp X-quang, máy ECG và các thiết bị
máy móc khác theo yêu cầu chuyên môn của từng bệnh viện. Phần lớn các bệnh
viện (khoảng 89%) sử dụng quỹ phúc lợi của bệnh viện để mua sắm trang bị
máy móc, khoảng 44% bệnh viện có sử dụng thêm nguồn vốn từ cán bộ bệnh
viện [15].
Nhân lực: Phần lớn nhân viên tham gia vào hoạt động KCB ngoài giờ chính là
các bác sỹ, điều dưỡng và y công trong biên chế hay hợp đồng dài hạn của bệnh
viện. Rất ít bệnh viện sử dụng cán bộ của mình đã về hưu hoặc ký hợp đồng
ngắn hạn với các nhân viên để chỉ hoạt động cho khu vực “dịch vụ” [15].
1.2.

Đặc điểm về bệnh tật tai mũi họng
Bệnh lý TMH là những bệnh thông thường, hay mắc phải tại cộng đồng

nhưng lại đem đến nhiều khó chịu cho bệnh nhân. Các mặt bệnh TMH gồm có
các bệnh lý về từng chuyên khoa như mũi xoang, họng – thanh quản, các khối u
vùng đầu mặt cổ và chấn thương TMH, tai – tiền dình, đầu mặt cổ…Trong số
các bệnh nhân đến khám bệnh có đủ các lứa tuổi tuy nhiên số lượng trẻ em
chiếm khá đông. Trước đây bệnh lý TMH chủ yếu thiên về các bệnh nhiễm


6
khuẩn. Ngày nay bệnh lý khối u và chấn thương cũng tăng nhanh làm cho số
lượng bệnh nhân đến KCB ngày càng nhiều.
1.3.

Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dịch vụ khám chữa

7
định của mình. Trong khi đó, Chính phủ vẫn mở rộng phạm vi các hoạt động tự
chủ với việc điều chỉnh lại Nghị định 10 bằng Nghị định 43. Đây là những văn
bản pháp luật cho phép tạo cơ chế mới cho phép khai thác nguồn lực của xã hội
cho công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập. Cùng với việc sửa đổi
này, các bệnh viện có quyền tự chủ nhiều hơn trong vấn đề nhân sự (cán bộ hợp
đồng, đào tạo cán bộ, thành lập hay chấm dứt cơ sở cung cấp dịch vụ), lập ngân
sách (do đó ngân sách cố định được cấp bởi chính phủ và ngân sách còn lại được
đảm bảo bởi bệnh viện), quyết định cung cấp loại hình dịch vụ gì và quản lý
dịch vụ như thế nào (tăng lương và thưởng, quy chế thu và chi) Nghị định 10/43
chủ yếu áp dụng cho các cơ sở y tế công giúp tạo ra nguồn thu ổn định từ việc
thu viện phí (bệnh nhân trả tiền trực tiếp). Bệnh viện sử dụng nguồn thu này để
mua sắm trang thiết bị, nâng cấp cơ sở KCB chất lượng hơn nhằm đáp ứng tốt
hơn nhu cầu KCB của gia đình bệnh nhân.
Còn nghị định 85/ 2012/ NĐ – CP về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp Y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của
các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập.
1.4.

Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về nhu cầu khám chữa

bệnh tự nguyện
1.4.1. Trên thế giới
Năm 1996, nghiên cứu của Van der Stuyft, P, SC. Sorensen & E Delgado
về nhu cầu tìm kiếm dịch vụ KCB của người dân tại vùng nông thôn Guatemala
cho thấy: Qua phỏng vấn 324 bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị mắc bệnh như sốt, tiêu
chảy, ho, thiếu máu…có 63% - 83% bà mẹ tin tưởng vào chăm sóc tại nhà, tỷ lệ
sử dụng dịch vụ y tế (DVYT) là rất thấp (khoảng 15%), mặc dù các DVYT ở
đây dễ tiếp cận. Nghiên cứu này cho thấy các yếu tố liên quan đến sự lựa chọn
dịch vụ KCB phụ thuộc vào trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp, sự công bằng

sóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấy
rằng bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứu
chỉ phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này. Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờ
của các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong đó có 19% là
các chấn thương gãy xương [26].
Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng dịch vụ KCB có liên quan tới tình trạng
kinh tế cũng được nhiều tác giả đề cập đến. Năm 2009, Kristianson và cộng sự


9
đã tiến hành nghiên cứu tại khu vực Amazon của Peru với mục đích điều tra nhu
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) và sử dụng thuốc có liên quan
đến tình trạng kinh tế hộ gia đình tại 2 cộng đồng vùng Amazon của Peru và cho
thấy: những gia đình nghèo nhất ít tìm đến các dịch vụ KCB cũng như sử dụng
thuốc cho trẻ cả bệnh nhẹ cũng như bệnh nặng chứng tỏ rằng điều kiện về kinh tế
đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và ảnh hưởng đến nhu cầu KCB [24].
1.4.2. Ở Việt Nam
1.4.2.1. Thực trạng cung cấp và tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tự nguyện
Năm 2001, Sở Khoa học công nghệ & Môi trường và Sở Y tế Thành phố
Hồ Chí Minh đã triển khai một điều tra khảo sát nhằm xác định các loại hình
“dịch vụ” đang tồn tại trong các bệnh viện thành phố. Hầu hết các loại hình
khám chữa bệnh “dịch vụ” đầu tiên ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của người
bệnh, sự quá tải trong việc khám chữa bệnh ngoài giờ và tăng nguồn thu nhập
cho nhân viên y tế. Loại hình “dịch vụ” đầu tiên ra đời tại các các cơ sở y tế nhà
nước là KCB ngoài giờ. Thời điểm ra đời của các loại hình khám chữa bệnh
“dịch vụ” đầu tiên rất khác nhau, rải rác từ năm 1980 đến năm 1995. Vào thời
kỳ 90 - 95, hàng loạt các cơ sở y tế thành lập mới hoặc mở rộng các loại hoạt
động dịch vụ ngoài giờ. Có khoảng 65,3% các cơ sở y tế được khảo sát đã thành
lập các loại hình khám chữa bệnh “dịch vụ”. Tại thời điểm đó, hầu hết việc
thành lập các hình thức khám chữa bệnh trên chưa có một quy chế chính thức

với công suất sử dụng giường bệnh chung ở tuyến Trung ương là 116% năm
2009, 120% năm 2010 và 118% năm 2011. Đặc biệt là tình trạng quá tải ở các
bệnh viện trung ương: Bệnh viện K: 172%; Bệnh viện Bạch Mai: 168%; Bệnh
viện Chợ Rẫy 139%; Bệnh viện đa khoa Trung ương Quảng Nam 114%; Bệnh
viện Nhi Trung ương: 119%; Bệnh viện Bệnh nhiệt đới 124% [7].
Nghiên cứu mới đây của Lê Quang Cường và cộng sự cho thấy một số
nguyên nhân gây quá tải bệnh viện làm tăng nhu cầu KCB của người dân:
- Nhu cầu KCB của người dân ngày càng tăng trong khi chỉ tiêu giường bệnh
thấp và tăng không tương xứng với nhu cầu KCB.
- Chất lượng KCB tại tuyến dưới không đảm bảo dẫn tới mất lòng tin của
bệnh nhân và sự thiếu tuân thủ quy định chuyển tuyến, chuyển tuyến ngược:
80% bệnh nhân đến KCB tại tuyến trung ương là do họ tin tưởng vào dịch vụ ở
tuyến trung ương, tỉ lệ bệnh nhân vượt tuyến ở BV tuyến trung ương là 75%;


11
90% bệnh nhân KCB ở khoa khám bệnh BV Nhi trung ương có thể KCB tại
tuyến dưới; 56% bệnh nhân nội trú ở BV phụ sản là đẻ thường hoặc viêm nhiễm
nội khoa có thể chữa tại tuyến dưới, thậm chí tại trạm y tế xã, 58% bệnh nhân ở
BV tuyến tỉnh và 20,7% bệnh nhân ở BV huyện có thể xử lý tại cơ sở y tế tuyến
dưới [11].
- Chính sách giá viện phí và BHYT trong đó giá và cơ chế chi trả không phù
hợp. dẫn tới bệnh nhân có xu hướng bỏ tuyến.
- Nguồn lực đầu tư cho y tế chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu cầu khám,
chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Trong khi
cơ sở vật chất, nguồn lực phát triển một số bệnh viện còn nhiều khó khăn thì nhu
cầu KCB và ý thức của người dân với sức khỏe tăng cao, người dân thường lựa
chọn những bệnh viện tuyến Trung ương. Điều đó làm cho sự quá tải càng lớn
hơn.
- Do diễn biến phức tạp của bệnh dịch, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn và

bệnh viện thuộc tỉnh Lào Cai cho thấy không có sự khác nhau về thái độ phục vụ
và chăm sóc sức khỏe giữa người có thẻ BHYT và người phải trả viện phí. bệnh
nhân có BHYT vẫn mua thuốc bên ngoài (47%) và 50,8% số BN không từng
dùng thẻ BHYT để KCB [20].
1.5.

Những nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa
bệnh tự nguyện
Trong điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002, trẻ em dưới 5 tuổi là nhóm

có tỷ lệ ốm cao, đây cũng là đối tượng được quan tâm nhất trong sử dụng các
dịch vụ CSSK (59% là trẻ có độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi). Việc lựa chọn và nhu cầu
KCB lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng dịch vụ y tế, tình trạng bệnh của trẻ,
điều kiện kinh tế gia đình, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế và nhu cầu cần
thiết của gia đình bệnh nhân [2].
Nghiên cứu thực trạng sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ dưới 6 tuổi tại trạm
Y tế phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội của Trần Mạnh Tùng năm 2008 cho
kết quả trong số trẻ bị ốm thì nhóm trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 90,9%, các bệnh
về tiêu chảy và hô hấp chiếm đa số 53%. Sự lựa chọn dịch vụ Y tế tại trạm Y tế
phường 24,2%, tuyến trên 39,1%, đến các cơ sở Y tế tư nhân 23,7%. Lý do các
bậc cha mẹ không cho con KCB tại trạm là vì không tin tưởng vào trình độ


13
chuyên môn của cán bộ y tế, trạm không đủ thuốc, mức độ bệnh của trẻ nặng, tự
đưa trẻ đi KCB theo ý muốn và nhu cầu của gia đình [21].
Bùi Thùy Dương nghiên cứu nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ và
tại nhà của BN và GĐBN năm 2010 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã kết luận
trình độ học vấn của gia đình bệnh nhân chủ yếu là đại học và sau đại học
(54,8%-63,4%), công nhân viên chức (50,8-51,6%). Cả bệnh nhân và gia đình

đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Vào năm 1961, Hội Tai Mũi Họng Việt Nam được thành lập, sự kiện này
đã thúc đẩy quá trình phát triển của ngành Tai Mũi Họng.
Năm 1967, cùng sự lớn mạnh của Khoa Tai Mũi Họng, sự trưởng thành
của đội ngũ cán bộ chuyên môn, cộng với nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng
lớn của nhân dân. Khoa Tai Mũi Họng đã được Bộ Y Tế quyết định tự quản lý
về tổ chức, hành chính, chuyên môn và chỉ đạo tuyến về TMH. Thời gian này đã
hình thành và bước đầu phát triển một số phân môn chính như: Tai, ung thư,
thanh học, tai mũi họng nhi và TMH tổng hợp. Đây có thể coi là bước chuẩn bị
cho việc thành lập Viện Tai Mũi Họng sau này.
Ngày 14/7/1969, giữa lúc cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc đang diễn ra quyết liệt, Viện Tai Mũi
Họng đã được thành lập theo Quyết định số 111/CP ngày 14/07/1969 của Hội
đồng Chính phủ, một Viện chuyên khoa có giường bệnh đầu ngành cả nước,
hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y tế.
Trải qua 48 năm phát triển và trưởng thành, bệnh viện Tai Mũi Họng
Trung ương hiện là đơn vị đầu ngành về Tai Mũi Họng trong cả nước, Bệnh viện
đã xây dựng quy hoạch phát triển đến năm 2020, tầm nhìn 2030 để vươn tới tầm
cao mới và phấn đấu trở thành trung tâm có uy tín về Tai Mũi Họng trong khu
vực và trên thế giới.


15

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tổ chức của bệnh viện
1.6.2. Nhiệm vụ cụ thể của Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
- Duy trì và phát triển các kỹ thuật mũi nhọn của bệnh viện, mở rộng qui mô,
nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ trong
bệnh viện, chú trọng công tác phòng bệnh, giải quyết các vấn đề bệnh lý sớm tại
cộng đồng.

Những thành tựu cơ bản: Từ năm 2008 cho đến nay khoa khám bệnh đã triển
khai:
- Khám bệnh bằng nội soi góp phần chẩn đoán phát hiện sớm các khối u tại
vùng tai mũi họng;
- Ứng dụng laser trong điều trị bệnh lý tai mũi họng;
- Tăng cường công tác điều trị ngoại trú;
- Tham gia đào tạo Bác sỹ và Điều dưỡng chuyên khoa từ các tuyến có nhu
cầu;
- Nghiên cứu các đề tài cấp Bộ, cấp cơ sở và áp dụng các kỹ thuật trong công
tác khám, chữa bệnh;
- Hợp tác nghiên cứu khoa học của Bệnh viện và trường y Hà Nội;
- Số lượng bệnh nhân ngày một tăng, trung bình từ 600 - 800 lượt/ngày.


17
1.5.3.1. Cơ cấu tổ chức nhân sự:
Hiện nay, Khoa khám bệnh có 33 cán bộ công nhân viên. Trong đó có 9
bác sĩ: 2 bác sĩ có trình độ tiến sĩ, 4 thạc sĩ, 1 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 1 bác
sỹ chuyên khoa cấp I và 1 bác sỹ định hướng về Tai Mũi Họng. Khoa có 22 điều
dưỡng gồm có 4 đại học và 2 hộ lý, hiện có tất cả điều dưỡng đều học điều
dưỡng chuyên khoa tai mũi họng. Có 3 lãnh đạo khoa (trình độ chuyên khoa II).
Ngoài ra khoa khám bệnh còn ký hợp đồng với các GS, TS, BS đầu ngành
các khoa phòng trong viện, các chuyên khoa sâu niêm yết tên danh sách cụ thể
để cho bệnh nhân tự lựa chọn theo yêu cầu của mình.
1.5.3.2. Định hướng phát triển của khoa khám bệnh
- Xây dựng mô hình phòng khám theo yêu cầu một cách tiên tiến, hiện đại
nhất trong nước và khu vực đối với ngành Tai Mũi Họng
- Không ngừng nâng cao chất lượng KCB và CSSK với điều kiện y tế tốt
nhất.
- Đi đầu trong hoạt động nghiên cứu khoa học y học, đào tạo chuyển giao

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017 tại
khoa khám bệnh theo yêu cầu – Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu cụ thể như sau:
- Thu thập và xử lý số liệu: từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017.
- Phân tích số liệu và viết báo cáo: từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2017.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu


19
 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính theo công thức sau:
n=

Z2(1 – α/2)

p(1- p)
d2

Trong đó:
α: Mức ý nghĩa thống kê (Chọn α = 0,05  Z1-α/2 = 1,96)
p = 0,92: Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu đến khám vào thứ 7 và chủ nhật
trong nghiên cứu của Trần Thanh Long năm 2011 [16].
d = 0,03: Độ chính xác tuyệt đối
n: cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
Dựa vào các chỉ số và công thức trên đã tính được cỡ cỡ mẫu là 314.
Để dự phòng một tỷ lệ nhất định số người bệnh được chọn làm đối tượng
nghiên cứu từ chối hoặc không tiếp cận được, cỡ mẫu sẽ được tăng thêm 10%.

Loại
biến

Tính theo tuổi dương lịch

Liên
tục

− Nam
− Nữ

Nhị
phân

− Chưa có vợ/chồng
− Đang sống với
vợ/chồng
− Ly thân/ly dị
− Góa
− Tiểu học/Dưới tiểu

Định
danh
Thứ


20
Biến số

Chỉ số

Tỷ lệ đối tượng
có khoảng cách
Khoảng cách từ nhà
Khoảng cách từ nhà đến
Liên
từ nhà đến viện
đến viện
viện tính bằng km
tục


Thái độ phục vụ

Thủ tục khám bệnh

Thủ tục nhập viện

Thủ tục bảo hiểm y tế

Thời gian chờ đợi
khám bệnh và xét
nghiệm

Chỉ số
an ninh tại bệnh
viện
Tỷ lệ đối tượng
rất không hài
lòng đến rất hài
lòng về về trình
độ chuyên môn
tại bệnh viện
Tỷ lệ đối tượng
rất không hài
lòng đến rất hài
lòng về thái độ
của nhân viên y
tế tại bệnh viện
Tỷ lệ đối tượng
rất không hài

viện (từ rất không hài
lòng đến rất hài lòng)

Thứ
hạng

Mức độ hài lòng của bệnh
nhân về thái độ phục vụ
tại bệnh viện (từ rất
không hài lòng đến rất hài
lòng)

Thứ
hạng

Mức độ hài lòng của bệnh
nhân về thủ tục khám
bệnh tại bệnh viện (từ rất
không hài lòng đến rất hài
lòng)

Thứ
hạng

Mức độ hài lòng của bệnh
nhân về thủ tục nhập viện
tại bệnh viện (từ rất
không hài lòng đến rất hài
lòng)


biến

bệnh viện
Tỷ lệ đối tượng
Mức độ hài lòng của bệnh
rất không hài
nhân về viện phí tại bệnh
Thứ
Viện phí
lòng đến rất hài
viện (từ rất không hài
hạng
lòng về viện phí
lòng đến rất hài lòng)
tại bệnh viện
Mục tiêu 1: Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh theo yêu
cầu -Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017
Tỷ lệ bệnh nhân
Mức độ nhu cầu khám
rất không có nhu
bệnh vào buổi chiều các
Nhu cầu khám buổi
cầu đến rất có
Thứ
ngày trong tuần tại bệnh
chiều ngày thường
nhu cầu khám
hạng
viện (từ không nên đến
buổi chiều ngày

Nhu cầu đăng ký khám cầu đến rất có
khám bệnh qua điện thoại Thứ
qua điện thoại
nhu cầu đăng ký tại bệnh viện (từ không
hạng
khám bệnh qua
nên đến rất nên)
điện thoại
Tỷ lệ bệnh nhân
rất không có nhu Mức độ nhu cầu đăng ký
Nhu cầu đăng ký khám cầu đến rất có
khám bệnh qua Internet
Thứ
qua internet
nhu cầu đăng ký tại bệnh viện (từ không
hạng
khám bệnh qua
nên đến rất nên)
internet


23
Biến số

Chỉ số
Tỷ lệ bệnh nhân
rất có khả năng
đến rất có khả
năng chi trả viện
phí tăng thêm

cầu khám chữa bệnh
phân
chữa bệnh
Mối liên quan giữa
Trình độ học vấn ảnh
trình độ học vấn và
Danh
hưởng đến nhu cầu khám
nhu cầu khám chữa
mục
chữa bệnh
bệnh
Mối liên quan giữa
Nghề ghiệp ảnh hưởng
Danh
nghề nghiệp và nhu
đến nhu cầu khám chữa
mục
cầu khám chữa bệnh
bệnh
Mối liên quan giữa thu
nhập cá nhân và gia
Thu nhập ảnh hưởng đến
Liên
đình và nhu cầu khám
nhu cầu khám chữa bệnh
tục
chữa bệnh
Mối liên quan giữa
Thời gian làm việc ảnh

hay không có bảo hiểm
y tế và nhu cầu khám
chữa bệnh

Chỉ số

Định nghĩa biến số

Loại
biến

Tình trạng sức khỏe ảnh
hưởng đến nhu cầu khám
chữa bệnh

Thứ
hạng

Có hay không có bảo
hiểm y tế ảnh hưởng đến
nhu cầu khám chữa bệnh

Nhị
phân

2.2.4. Quy trình thu thập thông tin
- Công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi phỏng vấn thiết kế sẵn, gồm 2 phần
chính (phần A và phần B).
+ Phần A: gồm 13 câu hỏi, thu thập các thông tin chung của đối
tượng (tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo…)

Số liệu sau khi được thu thập sẽ được làm sạch và nhập vào máy tính
bằng phần mềm Epidata 3.1. Phần mềm thống kê Stata 12 được sử dụng trong
phân tích số liệu. Cả thống kê mô tả và suy luận được thực hiện. Mức ý nghĩa
thống kê α=0,05 được sử dụng trong thống kê suy luận.
− Các trắc nghiệm thống kê để đánh giá sự khác biệt giữa các tỷ lệ như khi
bình phương/Fisher's exact test được sử dụng.
− Để tìm mối tương quan giữa một số đặc điểm của người sử dụng dịch vụ với
nhu cầu sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ , tỷ suất chênh (OR).
2.2.7. Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự chấp thuận của Hội đồng khoa học Trường Đại học
Thăng Long. Trước khi tham gia vào nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiên
cứu sẽ được cung cấp thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và nội dung
nghiên cứu. Họ sẽ được thông báo là họ tự nguyện quyết định tham gia vào
nghiên cứu bằng cách ký nhận vào bản đồng ý tham gia nghiên cứu. Tất cả
những thông tin thu thập được từ các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật.
Không có câu trả lời nào là đúng hay sai và họ có quyền dừng sự tham gia hoặc
rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào. Việc từ chối tham gia hay rút khỏi nghiên
cứu sẽ không ảnh hưởng gì đến chất lượng khám và điều trị cho người bệnh.
Nghiên cứu chỉ nhằm thu thập thông tin về nhu cầu sử dụng dịch vụ loại
hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng như khả năng đáp ứng của bệnh viện. Từ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status