LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong đề tà là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công
trình nào khác.
Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thảo
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm mũi xoang (VMX) là một trong những bệnh hay gặp nhất trong chuyên
khoa Tai-Mũi-Họng, bệnh có thể xuất hiện ở cả người lớn và trẻ em, tiến triển kéo dài,
ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ và khả năng học tập, lao động. VMX còn có thể dẫn
đến những biến chứng nặng nề, gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh [6,7,8].
Theo một thống kê trong 5 năm tại viện Tai-Mũi-Họng Trung Ương [10], trong tổng
số các bệnh nhân đến khám chữa bệnh vì VMX, độ tuổi lao động từ 16-50 chiếm
gần 87%. Trên thế giới, VMX cũng là một bệnh rất phổ biến, được coi là có tỷ lệ
mắc cao hơn cả viêm khớp và cao huyết áp, Kaliner MA báo cáo năm 1997 rằng
VMX gặp ở gần 15 % dân số Mỹ (khoảng 30 triệu người). Tại châu Âu ước tính
khoảng 5% dân số bị bệnh viêm xoang [13,24].
Để chẩn đoán xác định bệnh VMX phải dựa vào lâm sàng, nội soi, cận lâm sàng.
Điều trị viêm mũi xoang có nhiều phương pháp tùy theo triệu chứng và mức độ
bệnh nặng nhẹ, cấp tính hay đã trở thành mãn tính, có biến chứng hay không.
Vấn đề chăm sóc tại chỗ cho bệnh nhân viêm mũi xoang, đặc biệt bằng
phương pháp Proetz có vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình phục hồi chức
năng mũi xoang của bệnh nhân ngày càng tốt hơn
trước và lỗ mũi sau:
- Thành trên:
Là một rãnh hẹp, cong xuống dưới, chia thành 3 đoạn. Đoạn này gồm mảnh
thủng xương sàng ở phía trong và phần ngang xương trán ở phía ngoài tạo thành trần
các xoang sàng. Theo nhiều tác giả, phần trần xoang sàng ở phía ngoài có thể dày
hơn ở giữa tới 10 lần [1,25].
- Thành ngoài
Thành ngoài là vách mũi-xoang, được tạo thành bởi xương hàm trên, xương
lệ, khối bên xương sàng, cánh trong xương bướm và mảnh đứng xương khẩu cái.
Khối bên xương sàng gồm nhiều nhóm xoang sàng, mặt ngoài là một phần của thành
hốc mắt, đây là vùng rất nhạy cảm trong phẫu thuật nội soi vì dễ bị tổn thương.
- Các cuốn mũi:
Có 3 cuốn mũi, cấu tạo giống nhau gồm có một cốt xương ở giữa, bên ngoài
phủ bởi niêm mạc đường hô hấp.
Cuốn mũi dưới là một xương độc lập dài khoảng 4cm, khớp với ngành lên
xương hàm trên và xương khẩu cái qua mỏm hàm.
Cuốn mũi giữa là một phần xương sàng, chân bám phía trước gắn với mái
trán- sàng qua rễ đứng theo bình diện đứng dọc, rễ này ra phía sau xoay ngang dần
theo bình diện đứng ngang rồi nằm ngang bám vào khối bên xương sàng gọi là mảnh
nền cuốn giữa. Mảnh nền cuốn giữa nằm cách gai mũi trước khoảng 5 - 6 cm
[10,31], là vách phân chia các xoang sàng trước, sau.
Cuốn mũi trên nằm ngay trên sau khối xương sàng, đuôi cuốn cố định vào thành
trước xoang bướm. Mảnh nền cuốn trên ngăn cách xoang sàng sau và xoang bướm.
- Các ngách mũi:
Tạo bởi các cuốn mũi và thành ngoài hốc mũi.
Ngách mũi dưới:
4
Lỗ lệ-mũi nằm ở 1/4 trước-trên, cách lỗ mũi trước khoảng 1,5 cm. Phần tư
4, 5, 6, đôi khi chân răng mọc hẳn vào trong xoang, đây là nguyên nhân của bệnh lý
viêm xoang do răng khi các răng này bị sâu [9].
Lỗ thông xoang hàm thực tế là một ống nhỏ, có thể coi là một phần của mê
đạo sàng. Lỗ rộng khoảng 2,5 mm, nằm ở 1/4 sau-trên, tức là ở góc cao của xoang,
đổ vào hốc mũi ở đầu dưới phễu sàng.
- Xoang trán
Xoang trán hình thành từ khi trẻ 2 tuổi nhưng đến 15-20 tuổi mới phát triển
toàn diện và có kích thước ổn định. Thực chất là một tế bào sàng trước phát triển
vào giữa hai bản của xương trán, tạo nên 2 xoang trán trái và phải được ngăn cách
bởi một vách xương. Xoang trán có hình dạng và kích thước khác nhau ở từng cá
thể, có thể rất nhỏ hoặc rất lớn chiếm gần toàn bộ xương trán.
1 Xoang trán
2 Ống trán mũi
3 Phễu trán
4. Rãnh bán nguyệt
5 Đê mũi
6 Mỏm móc
Hình 1.6. Lỗ thông xoang trán (Theo Legent)
- Xoang sàng:
Là một hệ thống các hốc xương nhỏ, gọi là các tế bào sàng, nằm trong khối
bên xương sàng. Thường có từ 5-15 tế bào sàng, mỗi tế bào có lỗ dẫn lưu riêng
đường kính khoảng 1-2mm [1,3,15].
Các xoang sàng được ngăn cách với hốc mắt bằng một vách xương rất mỏng
(xương giấy)
Về kinh điển, xoang sàng được chia thành sàng trước và sàng sau.
Xoang bướm:
-
Sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, luôn cân bằng với nhiệt độ cơ thể.
-
Làm nhẹ trọng lượng khối xương đầu mặt.
-
Đảm bảo sự cân bằng cần thiết giữa mặt và sọ, làm cho mặt được cử động
thuận lợi hơn.
-
Cộng hưởng âm thanh.
1.2. Bệnh viêm mũi xoang
1.2.1. Viêm mũi xoang là gì
Bình thường các xoang được bố trí cân đối và đối xứng hai bên hốc mũi giúp
cho sự trao đổi không khí với môi trường. Nhưng ở người có bất thường về giải
phẫu thường dẫn đến viêm mũi xoang.
7
Viêm mũi xoang là tình trạng viêm nhiễm niêm mạc lót ở trong xoang, gây
tắc các lỗ thông xoang, nhất là những xoang nhỏ như xoang sàng.
Có ba loại viêm mũi xoang:
- Viêm mũi xoang cấp: thời gian mắc dưới 4 tuần
- Viêm mũi xoang bán cấp: thời gian mắc 4-12 tuần
hồi tốt.
Khe giữa 2 bên: có tiết nhầy hoặc mủ. Đây là triệu chứng rất có giá trị trong
chẩn đoán viêm mũi xoang trước cấp.
Có thể thấy dị hình ở vách ngăn, khe giữa, cuốn giữa 2 bên.
Soi mũi sau: Tiết nhầy hoặc mủ từ khe trên chảy xuống cửa mũi, hoặc cửa
mũi sau có đọng mủ hoặc tiết nhầy bám. Đuôi cuốn mũi cũng nề đỏ và sưng to.
Viêm mũi xoang mạn tính
Viêm mũi xoang mạn tính là do viêm mũi xoang cấp tính tái diễn nhiều lần,
không được điều trị hoặc điều trị không đúng.
Viêm mũi xoang mạn tính thường gặp ở nhóm xoang sau hơn là nhóm xoang
trước, ít khi gặp một xoang đơn thuần mà thường là viêm nhiều xoang một lúc,
người ta gọi đó là viêm đa xoang.
- Triệu chứng toàn thân
Viêm mũi xoang mạn tính ít ảnh hưởng đến toàn trạng, không có biểu hiện
nhiễm trùng, trừ những đợt hồi viêm. Triệu chứng toàn thân thường không rõ rệt,
ngoài những biểu hiện: mệt mỏi, cơ thể suy nhược hoặc những rối loạn ở đường hô
hấp hay đường tiêu hoá do mủ xoang gây nên, nếu viêm mũi xoang kéo dài.
- Triệu chứng cơ năng
Chảy mũi: là triệu chứng chính, thường xuyên có, chảy một hoặc hai bên nhưng
thường là hai bên. Lúc đầu chảy mủ nhầy trắng, sau chảy đặc xanh hoặc vàng, mùi
tanh hoặc hôi thối do bội nhiễm.Mủ thường chảy ra cửa mũi sau xuống họng hoặc xì
ra cửa mũi trước.
Ngạt tắc mũi: tăng dần và ngày càng rõ rệt dẫn đến tắc hoàn toàn do mủ ứ
đọng, niêm mạc phù nề, cuốn giữa thoái hoá, cuốn dưới quá phát, hoặc do polype
thường ngạt cả hai bên, nhưng có thể 1 bên nếu viêm xoang do răng.
Rối loạn về ngửi: ngửi kém từng lúc, tăng dần hoặc mất ngửi hoàn toàn
Nhức đầu: âm ỉ hay thành cơn ở vùng trán, má 2 bên, hoặc đau nhức xung
quanh ổ mắt, sâu trong ổ mắt, đau vùng chẩm phía sau nếu là viêm xoang sau.
9
10
Phim tiêu chuẩn: Blondeau và Hirtz. Chụp Blondeau có giá trị chẩn đoán
viêm xoang hàm và xoang trán. Chụp phim Hirtz có giá trị chẩn đoán viêm xoang
sàng và xoang bướm.
Chụp CT Scan: rất có giá trị trong chẩn đoán khu trú viêm mũi xoang và
trong điều trị viêm mũi xoang.
- Nội soi chẩn đoán
Đây là biện pháp rất có giá trị trong chẩn đoán viêm mũi xoang hiện nay, nó
cho phép chẩn đoán chính xác các tổn thương ở khe giữa, kể trên mà bằng phương
pháp khám thông thường không thể thấy được.
1.2.4. Điều trị
- Nguyên tắc chung: Đảm bảo dẫn lưu và thông khí xoang tốt.
- Điều trị viêm mũi xoang cấp tính: chủ yếu là điều trị nội khoa
+ Tại chỗ
Làm sạch và thông thoáng hốc mũi: xì mũi, rửa mũi, hút dịch và mủ, đặt thuốc co
mạch…
Nhỏ thuốc: cần phối hợp các loại thuốc co mạch, sát khuẩn và chống phù nề,
liệu pháp coticoid tại chỗ kéo dài rất có tác dụng.
Xông hơi nước nóng: các loại thuốc có tinh dầu, bay hơi được.
Khí dung mũi xoang: thuốc kháng sinh kết hợp với coticoid.
+ Toàn thân
Liệu pháp kháng sinh có hiệu quả tốt đối với viêm mũi xoang, phải lựa chọn
kháng sinh dựa trên kháng sinh đồ.
Thuốc chống viêm và giảm phù nề
Thuốc giảm đau
Thuốc hạ sốt
Thuốc nâng cao thể trạng
- Điều trị viêm mũi xoang mạn tính: kết hợp điều trị nội khoa và ngoại khoa
1.3.4. Chuẩn bị dụng cụ
- Máy hút, dầu hút vô khuẩn, bát kền, dung dịch steranios 2%
1.3.5. Thuốc dùng
- kháng sinh – kháng viêm: Cortiphenicol
- Thuốc co mạch :Naphtazolin, cold B, otrivin 0,1% ( Dùng cho người lớn)
Otrivin 0,05% xylobalan 0,05%
1.3.6. Cách làm
Đặt đầu bệnh nhân ra ngoài cạnh bàn và ngửa hết mức về phía sau
Thầy thuốc ngồi về phía đầu bệnh nhân và kẹp đầu bệnh nhân vào đầu gối
của mình.
Hướng dẫn bệnh nhân nhịn thở nói “Kê, Kê” liên tục dài trong 30 giây
Bơm 2ml nước muối sinh lý 0,9% vào một bên mũi. Lỗ mũi bên kia được
đóng kín.
Đặt đầu hút, hút không khí trong mũi có thuốc ra. Hút khoảng 3 giây thì bỏ ra
3 giây và hút trở lại nhiều lần (Áp lực máy không quá 180mmHg)
Nghỉ vài phút cho bệnh nhân thở rồi tiếp tục làm như vậy sang mũi bên kia.
Hút xong nhỏ thuốc kháng sinh vào mũi cho bệnh nhân.
Sau khi nhỏ thuốc xong nằm với tư thế bằng từ 5 phút – 10 phút.
- Tư thế nhỏ thuốc
Xoang sau ( Xoang bướm, xoang sang sau) : Bệnh nhân ngửa đầu ra đằng sau
nhiều sao cho cằm và ống tai ngoài cùng nằm trên đường thẳng vuông góc với mặt đất.
Xoang hàm và xoang sang trước : Bệnh ngửa đầu ra đằng sau tối đa sao
cho xương móng và ống tai ngoài cùng nằm trên một đường thẳng vuông góc
với mặt đất.
1.3.7. Tai biến
Nhức đầu chóng mặt : Do áp lực 100mmHg – 120 mmHg
Chảy máu: Do niêm mạc mũi viêm, cuốn mũi nề.
+ Sau 3 ngày chăm sóc
+ Sau 5 ngày chăm sóc
14
- So sánh kết quả chăm sóc với chẩn đoán ban đầu theo thời gian:
+ Sau 1 ngày chăm sóc
+ Sau 3 ngày chăm sóc
+ sau 5 ngày chăm sóc
2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.3.1. Xây dựng bệnh án mẫu và thu thập số liệu theo các tiêu chí sau:
- Đặc điểm dịch tễ: ghi chép đầy đủ họ tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, số
điện thoại liên hệ, ngày vào viện, ngày phẫu thuật.
- Lý do vào viện: ngạt tắc mũi, chảy mũi, đau đầu, giảm thị lực, liệt vận nhãn.
+ Triệu chứng cơ năng:
• Đau đầu:
Vị trí: sau ổ mắt, vùng thái dương, vùng đỉnh, vùng chẩm, vùng trán…
Tính chất đau: đau ẩm ỉ liên tục hay đau thành cơn.
• Chảy mũi: đánh giá tính chất (1 bên hay 2 bên), vị trí (chảy mũi trước hay
sau), đặc điểm của dịch (dịch nhầy loãng, nhầy đặc, dịch mủ đặc bẩn).
• Ngạt tắc mũi: đánh giá tính chất (1 bên hay 2 bên), mức độ (từng lúc hay liên tục).
• Mất ngửi: giảm hay mất ngửi hoàn toàn.
+ Triệu chứng thực thể:
• Đánh giá vùng ngách, khe
Tình trạng dịch tiết: dịch nhầy loãng, nhầy đặc, dịch mủ đặc bẩn.
Tình trạng niêm mạc: phù nề ít, phù nề mọng, bình thường.
• Đánh giá toàn bộ hốc mũi,vách ngăn, khe giữa, khe trên có gì bất thường hay không.
2.3.2. Phương pháp đánh giá kết quả sau chăm sóc
- Thời gian theo dõi và khám
- BN được chăm sóc và so sánh trong 1,3,5 ngày liên tục
tình trạng thực thể dựa vào 4 yếu tố sau:
+ Xuất tiết: Dịch xuất tiết nhầy trong, nhầy loãng, mủ nhầy hoặc mủ đặc ứ
đọng trong hốc mũi.
+ Niêm mạc : Tình trạng niêm mạc hốc mũi và các xoang..........
+ Sự thông thoáng của hốc xoang
+ Sự thông thoáng của vùng Phức hợp lỗ ngách (PHLN) và các lỗ thông xoang,
- Tiêu chuẩn phân loại tình trạng thực thể sau chăm sóc:
Tốt: Hốc mũi sạch, không có hoặc chỉ có ít xuất tiết nhầy loãng. Niêm mạc
hốc hồng đều, nhẵn bóng, sạch. Ngách giữa và xoang sàng thông thoáng, không bị
dính tắc, đường dẫn lưu rộng. Lỗ thông xoang hàm thông thoáng bình thường, dẫn
lưu tốt.
Khá: Hốc mũi có xuất tiết nhầy, niêm mạc xơ hoá dày, màu trắng nhạt, Ngách
giữa và vùng các xoang thông thoáng, không bị dính tắc.
Trung bình: Hốc mũi có mủ nhầy đặc, niêm mạc phù nề mọng, nhiều chỗ
viêm đỏ, dễ chảy máu, nhưng không gây bịt tắc các đường dẫn lưu.
Kém: Hốc mũi có nhiều mủ nhầy đặc hoặc đặc bẩn, niêm mạc thoái hoá. Vùng
khe giữa và lỗ thông xoang bít tắc gây cản trở dẫn lưu của các xoang.
- Các triệu chứng thực thể gồm: tình trạng hốc mũi (1), tình trạng dịch trong
mũi (2), tình trạng cuốn giữa (3), tình trạng mỏm móc (4), Tình trạng bóng sàng (5),
tình trạng niêm mạc khe giữa (6). Trước chăm sóc được coi là 3 điểm (điểm tối đa),
sau chăm sóc bệnh nhân sẽ tự đánh giá, cho điểm từng triệu chứng so với trước
chăm sóc.
Kết quả được chia thành 4 loại:
+ Triệu chứng hết hẳn hoặc gần như hết (10-12 điểm) :
tốt.
+ Triệu chứng giảm rõ rệt (7-9 điểm) :
khá.
+ Triệu chứng có giảm (4-6 điểm) :
trung bình.
+ Triệu chứng giảm không rõ ràng hoặc không giảm (1-3 điểm): kém.
18
3.2. Đặc điểm triệu chứng cơ năng
3.2.1. Nhận xét chung
Các triệu chứng cơ năng thường gặp nằm trong 4 hội chứng lớn về mũixoang, đó là ngạt tắc mũi, chảy mũi, nhức đầu và mất, giảm ngửi. Phân bố chung
các triệu chứng cơ năng được trình bày ở bảng 3.2.
Biểu đồ 3.3. Phân bố các triệu chứng cơ năng
Nhận xét:
Hai triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là chảy mũi và ngạt tắc mũi, chiếm
94,0% các trường hợp. Đau nhức các vùng xoang chỉ gặp ở khoảng 64,0% các
trường hợp.
3.3. Triệu chứng thực thể
3.3.1. Tình trạng hốc mũi
Biểu đồ 3.4. Tình trạng chung của hốc mũi
Nhận xét:
Dựa vào biểu đồ 3.4 ta thấy có 74,0% các trường hợp bệnh nhân có tình trạng
hốc mũi phù nề nhiều và có nhiều dịch nhầy.
19
3.3.2. Tình trạng cuốn giữa, mỏm móc và bóng sàng
Bảng 3.1. Tình trạng cuốn giữa, mỏm móc và bóng sàng
Bình thường
Phù nề mọng
50
100
Mỏm móc
10
20,0
31
62,0
9
18,0
50
100
Bóng sàng
21
42,0
21
3.4. Chẩn đoán
Biểu đồ 3.6. Chẩn đoán bệnh nhân khi vào viện
Nhận xét :
Biểu đồ 3.6 cho thấy tỷ lệ viêm mũi xoang mạn tính chiếm 38,0%, viêm mũi
xoang cấp tính là 36,0%.
3.5. Đánh giá kết quả sau chăm sóc tại chỗ bệnh viêm mũi xoang
3.5.1. Đánh giá các triệu chứng cơ năng sau chăm sóc tại chỗ
Sự tiến triển của các triệu chứng cơ năng được người bệnh tự đánh giá, so
sánh trước và sau mổ dựa trên 4 triệu chứng chính : ngạt tắc mũi, chảy mũi trước,
chảy mũi sau và đau nhức các vùng xoang. Tiến triển của từng triệu chứng được xếp
thành 4 loại sau đó được tổng hợp lại thành đánh giá về sự tiến triển chung của các
triệu chứng cơ năng cũng theo 4 mức độ : tốt, khá, trung bình và kém.
Bảng 3.2. Các triệu chứng cơ năng sau chăm sóc tại chỗ
Thời gian CS
tốt
Khá
trung bình
kém
Tổng
Nhận xét:
Sau 1 ngày
SL
%
2
4,0
8
8,0
0
0
50
100
p
%
30
60,0
16
32,0
4
8,0
0
0
50
100
p
trung bình
kém
Tổng
Cấp tính
SL
%
10
55,6
8
44,4
0
0,0
0
0,0
18
100
Bán cấp
SL
%
5
38,5
8
61,5
0
0,0
0
0,0
13
So sánh các triệu chứng thực thể với chẩn đoán ban đầu
Bảng 3.5. So sánh các triệu chứng thực thể sau 1 ngày chăm sóc với
chẩn đoán ban đầu
Chẩn đoán
tốt
Khá
trung bình
kém
Tổng
Cấp tính
SL
%
0
0,0
2
11,1
10
55,6
6
33,3
18
100
Bán cấp
SL
%
0
33,3%, khá là 11,1%, tốt không có.
VMX bán cấp có tiến triển chủ yếu là kém đạt 46,2%, trung bình 38,5%, khá
là 15,4%, tốt không có.
VMX mạn tính có tiến triển kém và trung bình cao nhất đều đạt 47,4%, khá
5,3%, tốt và kém không có. P>0,05
Bảng 3.6. So sánh các triệu chứng thực thể sau 3 ngày chăm sóc
với chẩn đoán ban đầu
Chẩn đoán
tốt
Khá
trung bình
kém
Tổng
Nhận xét:
Cấp tính
SL
%
2
11,1
11
61,1
5
27,8
0
0,0
18
100
Bán cấp
Bảng 3.6 cho thấy, các triệu chứng thực thể sau 3 ngày chăm sóc đối với bệnh
nhân: VMX cấp tính có tiến triển chủ yếu là khá, chiếm 61,1%, tiến triển tốt là
11,1%, trung bình 27,8%%, kém không có.
VMX bán cấp có triệu chứng chủ yếu là khá đạt 46,2%, tốt 38,5%, trung bình
có 15,8% và kém không còn.
25