HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
ON TH THANH THUí
GIá TRị DI SảN VĂN HóA VớI PHáT TRIểN
DU LịCH ở THủ ĐÔ Hà NộI HIệN NAY
(Qua nghiờn cu trng hp Vn Miu - Quc T Giỏm)
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: VN HểA HC
H NI - 2018
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
ON TH THANH THUí
GIá TRị DI SảN VĂN HóA VớI PHáT TRIểN
DU LịCH ở THủ ĐÔ Hà NộI HIệN NAY
(Qua nghiờn cu trng hp Vn Miu - Quc T Giỏm)
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: VN HểA HC
Mó s: 62 31 06 40
Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS. NGUYN DUY BC
2. TS. NGUYN VN LU
GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN MIẾU- QUỐC TỬ GIÁM
2.1. Khái lược về di sản Văn Miếu - Quốc Tử Giám
2.2. Các loại hình di sản văn hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
2.3. Những giá trị của di sản văn hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Chương 3. NHẬN DIỆN KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ VĂN
MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ
NỘI HIỆN NAY
3.1. Các giá trị của di sản văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám và sự
hình thành sản phẩm du lịch
3.2. Thực trạng xây dựng và khai thác điểm đến du lịch tại Văn Miếu
- Quốc Tử Giám
3.3. Đóng góp của điểm đến du lịch Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối
với phát triển du lịch Thủ đô Hà Nội
3.4. Đánh giá chung
Chương 4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM VỚI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH HIỆN NAY
45
51
63
78
78
99
109
119
125
XH
Ban chấp hành Trung ương
(4 mục tiêu: nguồn lực, bên liên quan, thị trường, lợi
ích)
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Chủ biên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Di sản văn hóa
Đảng Cộng sản Việt Nam
Tổng sản phẩm quốc nội
Giá trị di sản
Giá trị văn hóa
Giá trị di sản văn hóa
Giá trị di sản văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Khoa học xã hội
Kinh tế
Kinh tế thị trường
Kinh tế - xã hội
Mối quan hệ
Toàn cầu hóa
Ủy ban nhân dân
(United Nations Educatinal Scientific and Cultural
organization) Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên Hợp quốc
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Việt Nam
Xã hội
Thống kê lượng khách nhóm du lịch khám phá,
thưởng ngoạn các giá trị văn hóa tại Văn Miếu - Quốc
Tử Giám giai đoạn 2012 – 2017
Bảng 3.2. Thống kê lượng khách du lịch nhóm tham quan khảo
sát, nghiên cứu khoa học tại Văn Miếu - Quốc Tử
Giám giai đoạn năm 2012 – 2017
78
86
Bảng 3.3. Lượng khách du lịch nhóm tham dự các hoạt động
văn hóa -
xã hội, vui chơi giải trí tại Văn Miếu -
Quốc Tử Giám từ năm 2012 – 2017
89
Bảng 3.4. Thống kê lượng khách du lịch về thực hành nghi lễ
tâm linh tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám giai đoạn năm
2012 – 2017
93
Bảng 3.5. Lượng khách nhóm du lịch tổng hợp đáp ứng nhiều
nhu cầu
Đánh giá sản phẩm du lịch tham dự các hoạt động
văn hóa - xã hội, vui chơi giải trí tại Văn Miếu - Quốc
Tử Giám
Biểu đồ 3.4.
Đánh giá sản phẩm du lịch thực hành nghi lễ tâm linh
tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Biểu đồ 3.5.
111
Lượng khách du lịch quốc tế tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám giai đoạn 2012 – 2017
Biểu đồ 3.9.
110
Lượng khách du lịch nội địa tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám giai đoạn 2012 – 2017
Biểu đồ 3.8.
98
Lượng khách tham quan Văn Miếu - Quốc Tử Giám
giai đoạn 2012 – 2017
Biểu đồ 3.7.
Thăng Long - Hà Nội, mảnh đất địa linh, nhân kiệt, từ lâu đã được biết
đến như một địa chỉ du lịch nổi tiếng ở trong và ngoài nước. Trải qua một
nghìn năm phát triển, Thủ đô Hà Nội vẫn giữ trong mình những giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc. Những công trình kiến trúc cổ, khu phố
cổ, những công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng cùng với lối sống, phong
tục tập quán… là những di sản văn hóa vô giá của Thủ đô Hà Nội nói riêng và
dân tộc Việt Nam nói chung.
Với tiềm năng du lịch đặc sắc đó, với các giá trị văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể của Thủ đô Hà Nội đã trở thành một biểu tượng của văn hóa
Việt Nam. Thủ đô Hà Nội đã và đang là điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách.
Trong các điểm du lịch của Hà Nội hiện nay, có thể nói Văn Miếu - Quốc Tử
Giám là điểm đến trải nghiệm văn hóa đã thu hút khách tham quan ngày một
đông. Hầu như không ai đến Hà Nội mà không tìm đến Văn Miếu - Quốc Tử
Giám. Những năm gần đây, một hiện tượng mới của khách viếng thăm di tích
này, đó là các gia đình và các em học sinh phổ thông đến đây rất đông mỗi khi
chuẩn bị kỳ thi vào đại học hay những kỳ thi khác để cầu mong cho sự thành
công. Ngoài ra, khách du lịch trong nước và quốc tế luôn coi đây là một điểm
du lịch cần phải đến để tìm hiểu nền giáo dục truyền thống cũng như các giá trị
văn hóa khác của Việt Nam. Như vậy, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để duy
trì và khai thác hợp lý giá trị di sản văn hóa của Văn Miếu – Quốc Tử Giám và
biến các giá trị đó trở thành nguồn lực cho sự phát triển du lịch bền vững ở Hà
Nội đang là một vấn đề đặt ra một cách nghiêm túc. Do vậy, việc nghiên cứu
các GTVH của di tích này với việc phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội nói
chung là đề tài mà luận án: "Giá trị di sản văn hóa với phát triển du
lịch ở Thủ đô Hà Nội hiện nay (Qua nghiên cứu trường hợp Văn Miếu Quốc Tử Giám )" quan tâm phân tích, đánh giá.
2
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
phát triển du lịch ở Thủ đô Hà Nội.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Thực hiện đề tài luận án: "Giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch ở
Thủ đô Hà Nội hiện nay" (Qua nghiên cứu trường hợp VMQTG), NCS dựa
trên cơ sở phương pháp luận của CNDVBC và DVLS của học thuyết mác xít
về MQH biện chứng giữa vật chất và tinh thần, giữa kinh tế và văn hóa trong
"đời sống hiện thực". Đồng thời NCS còn vận dụng quan điểm của ĐCSVN
trong Văn kiện Hội nghị BCHTW lần thứ Năm, khóa VIII, Văn kiện Hội nghị
ban chấp hành Trung ương lần thứ Chín khóa XI về vai trò của văn hóa với
phát triển KT - XH ở nước ta hiện nay: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực hay "nguồn lực nội sinh quan trọng nhất"
của phát triển đất nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho luận án này là: Những giá trị nổi bật
của DSVH VMQTG là gì? Việc khai thác và phát huy GTDSVH VMQTG với
phát triển du lịch ở VMQTG và Thủ đô Hà Nội như thế nào? Những vấn đề đặt
ra từ việc phát huy GTDSVH VMQTG với phát triển du lịch hiện nay?
Nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu trên và thực hiện được các nhiệm
vụ nghiên cứu như đã nêu ra ở mục 2.2, NCS sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học sau đây:
- Phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn hóa học: Văn
hóa học là một khoa học chuyên ngành không chuyên ngành (non disciplinary
discipline) nằm trên giao điểm của các khoa học xã hội và nhân văn. Hơn nữa,
đề tài luận án lại nghiên cứu vấn đề nằm trong đường giáp ranh giữa văn hóa,
kinh tế và xã hội nên vận dụng phương pháp liên ngành trong văn hóa học là
cần thiết. Phương pháp này cho phép luận án sử dụng các khái niệm, phạm
4
5
tượng phỏng vấn được lựa chọn có chủ đích nhằm cố gắng đảm bảo tính đại
diện của đối tượng phỏng vấn trong liên quan tới tính đa dạng của các bên có
liên quan và tính đa dạng trong loại hình di sản hiện có ở điểm di sản văn hóa
VMQTG, cụ thể bao gồm thành viên ban quản lý di tích; những người làm
công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực di sản; những người nghiên cứu về
văn hóa; hướng dẫn viên du lịch; học sinh; sinh viên; du khách tham quan; …
Phần phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu các vấn đề: Thông tin
cơ bản về di tích, các giá trị di sản, loại hình du lịch…; Xác định các bên có
liên quan và đặc điểm mối quan hệ giữa họ; Giá trị của di sản văn hóa
VMQTG; Khai thác điểm đến du lịch tại VMQTG; Vai trò của di sản; Các biện
pháp tuyên truyền, quảng bá và phát huy di sản…; Các yếu tố tác động đến
mối quan hệ này,…
Phần thực hiện các bảng hỏi được thực hiện nhằm tìm hiểu các vấn đề:
Thông qua các bảng hỏi với nhiều nhóm khách thể có liên quan đến di tích
VMQTG (bao gồm các cá nhân là học sinh, sinh viên, công chức, viên chức,
lực lượng vũ trang, cán bộ quản lý văn hóa, các nhà chuyên môn am hiểu vấn
đề…) mà đề tài luận án nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích và tổng hợp trên cơ sở
các tài liệu đã có và tài liệu điền dã, tài liệu điều tra với số liệu thống kê, luận
án phân tích vai trò tác động của giá trị di sản văn hóa VMQTG với phát triển
du lịch ở Thủ đô Hà Nội hiện nay. Từ đó nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong
một chỉnh thể, rút ra những kết luận, tổng kết, đánh giá vấn đề nghiên cứu.
Dưới cái nhìn biện chứng và từ nhiều chiều cạnh khác nhau mà phương
pháp liên/ đa ngành và các phương pháp nghiên cứu khác mang lại, luận án sẽ
tìm ra được những điểm mạnh cần phát huy và chỉ ra được những hạn chế, bất
cập trong việc phát huy vai trò các GTDS VMQTG với sự phát triển du lịch ở
Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các phương hướng, giải
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về giá trị di sản văn hóa với
phát triển du lịch
Xung quanh chủ đề này có rất nhiều vấn đề đặt ra như: Giá trị di sản văn
hóa, vai trò của giá trị di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội nói chung
và phát triển du lịch nói riêng. Phương thức phát triển du lịch trên cơ sở các giá
trị di sản văn hóa, vai trò của các chủ thể của các di sản văn hóa, chiến lược
phát triển du lịch gắn với di sản văn hóa của quốc gia... Đây là những vấn đề
rất rộng và phức tạp. Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận án, NCS chỉ
khái quát một số công trình liên quan hoặc gần với nội dung đề tài như một sự
điểm xuyết.
1.1.1.1. Các công trình của tác giả nước ngoài
Di sản văn hóa như là một nguồn lực của sự phát triển: Trong bài viết
"The "Vicious circle" of tourism development in heritage cities" (Vòng luẩn
quẩn" của phát triển du lịch tại các thành phố di sản) của tác giả Antonio Paplo
Rusco [163] giới thiệu một công cụ phân tích, vòng khép kín phát triển du lịch,
quy định cụ thể các mô hình tiến hóa của một quá trình. Bài viết mô tả các
động thái không gian dẫn đến khả năng suy giảm của một số di sản văn hóa với
du lịch, đưa ra các chính sách thích hợp để ngăn chặn sự suy giảm ấy.
Trường hợp của Venice minh họa vòng tròn khép kín hoạt động trong
thực tế và gợi ý mô hình chính sách. Vì vậy, nó là cần thiết để mở rộng
phân tích theo hai hướng: nghiên cứu các tính chất lâu dài của một
trạng thái cân bằng trong khu vực và các quá trình thay thế chất lượng
trong trung tâm thành phố. Phát triển đó đòi hỏi phải xây dựng mô
Golinelli "Cultural Heritage and Value Creation: Towards New Pathways" (Di
sản văn hóa và việc tạo ra giá trị: hướng tới những con đường mới) [166].
Bằng tư duy hệ thống, khám phá những quan điểm mới, trong đó văn hóa và du
lịch được tích hợp hài hòa, và di sản văn hóa được hiểu cả hai như là một
9
phần thiết yếu của bối cảnh XH và KT, là một biểu hiện bản sắc của cộng
đồng. Với cách tiếp cận đa ngành, chặt chẽ về phương pháp, với sự đóng góp
của UNESCO, cuốn sách có thể coi là một tài liệu tham khảo cho việc sử dụng
di sản văn hóa, làm sáng tỏ mối quan hệ phức tạp của văn hóa và du lịch mà từ
lâu các học giả cho phép sự phát triển con đường mới tạo giá trị.
Công trình khoa học về: "Managing Quality Cultural Tourism" (Quản lý
chất lượng du lịch văn hóa) của Andrew Wheatcroft [161]. Tác giả bàn về phát
huy chất lượng du lịch văn hóa tức là một cách nhìn thẩm định bên cạnh tìm
hiểu phải làm thế nào để phát huy giá trị du lịch văn hóa nhằm đáp ứng tốt nhất
nhu cầu của du khách. Để phát huy giá trị di sản quan trọng, cần sử dụng một
phương pháp tiếp thị để xác định nhu cầu của các vấn đề liên quan.
Nghiên cứu này đặc biệt hướng tới giúp các chuyên gia của ngành giải
trí, du lịch và văn hóa, cung cấp kiến thức về du lịch văn hóa và tập trung vào
một số vấn đề quan trọng liên quan đến giá trị di sản - giáo dục, giải trí và bảo
tồn, nghiên cứu cách thích nghi đáp ứng nhu cầu của du khách, các diễn giả và
địa điểm văn hóa. Nghiên cứu chỉ ra rằng du lịch văn hóa chất lượng là một
công cụ không thể thiếu cho tất cả mọi thứ tham gia vào du lịch di sản.
Những vấn đề đặt ra với công trình nghiên cứu về "Quản lý du lịch tại các
di sản thế giới" của Arthur Pederson [78] nhằm phát triển du lịch bền vững các di
sản văn hóa, đã hướng dẫn phát huy di sản theo các nguyên tắc tạo ra và duy trì
việc làm, thu nhập và phát triển của địa phương; bảo đảm tất cả các hoạt động
được phép tại khu di sản phù hợp với bối cảnh tự nhiên và lịch sử của khu vực; tạo
cơ hội cho công tác nghiên cứu có lợi cho xã hội. Giáo dục du khách và cộng
viên, phát triển sản phẩm du lịch… Từ các nhân tố được xác định này sẽ lập ra
các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả như: số lượng du khách, sự thỏa mãn của du
khách, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cộng đồng…Với công cụ phát huy di sản
nhằm đánh giá điểm thu hút như: thu thập dữ liệu du khách, kiểm tra định
lượng hành vi du khách, đa dạng hóa và phát triển sản phẩm mới.
Quan tâm về mô hình phát triển, nghiên cứu của Huibin (2013) và các
cộng sự về "Conceptuabizing a sustainable development model for cultural
heritage tourism in Asia - Theoritical and empirical researches in Ubban
11
management" (Khái niệm mô hình phát triển bền vững cho du lịch văn hóa ở
Châu Á - các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong quản lý đô thị)
[168]. Đề cập đến trong quá trình phát triển du lịch tại các di sản luôn đối mặt
với nhiều áp lực xã hội và môi trường. Vì thế, phải làm thế nào để phát triển du
lịch bền vững tại các di sản trở nên cấp bách. Với mô hình 4DGPM mà tác giả
đưa ra, được thiết lập trong đó có bốn mục tiêu chính được hướng tới như: mục
tiêu nguồn lực là phải bảo tồn, kế thừa và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; mục
tiêu các bên có liên quan gồm chính quyền địa phương hướng dẫn và thúc đẩy
phát triển du lịch, các nhà đầu tư, các tổ chức phi chính phủ..; mục tiêu thị
trường là phải phát triển thị trường mới và thâm nhập thị trường có tiềm năng;
mục tiêu lợi ích để phát triển du lịch cần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện
đại, có sự tham gia của cộng đồng.
1.1.1.2. Các công trình của tác giả trong nước
Công trình: "Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân
tộc" của Hoàng Vinh [155] gồm 3 chương và phần phụ lục đề cập đến những
vấn đề lý luận về di sản văn hóa dân tộc, về vai trò, chức năng của di sản văn
hóa đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa của dân tộc. Căn cứ
những đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn để tiến hành phân loại và bước đầu mô tả
thực trạng vốn di sản văn hóa dân tộc. Qua đó làm nổi bật những hạn chế,
chức bộ máy hành chính và ngân sách hoạt động, khai thác các giá trị của tài
sản văn hóa trên cơ sở đưa thâm nhập vào đời sống hiện đại của cộng đồng,
hoạt động bảo tồn và khai thác tài sản văn hóa trong bối cảnh mở rộng của văn
hóa toàn nhân loại…
Tác giả Hồ Sỹ Quý trong cuốn: "Về giá trị và giá trị châu Á" [84] cho
rằng: Giá trị với đặc trưng nổi bật là đề cao các giá trị cần cù, hiếu học, tôn
trọng các giá trị gia đình và cộng đồng, đã có vai trò tích cực đối với sự phát
triển thần kỳ của nhiều nước trong những thập niên vừa qua. Mặt khác, trước
những thách thức của quá trình TCH và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu các
giá trị sẽ giúp các quốc gia có thể nhận thấy rõ hơn vai trò của bản sắc văn hóa
dân tộc trong quá trình phát triển. Tác giả luận án đã tiếp cận quan niệm
13
về giá trị, về những giá trị truyền thống của nền văn hóa Việt Nam làm cơ sở
tri thức cho việc nghiên cứu trong luận án.
Công trình: "Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam" của tác giả
Ngô Đức Thịnh [110] đã xác nhận và phân tích sâu sắc những giá trị của văn
hóa truyền thống Việt Nam. NCS tiếp thu hệ thống các lý thuyết về văn hóa và
hệ giá trị văn hóa Việt Nam; các giá trị văn hóa thể hiện trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống dân tộc như: thích ứng, khai thác hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, trong đời sống vật chất thỏa mãn nhu cầu, trong cách thức
tổ chức và ứng xử xã hội, trong sáng tạo văn hóa nghệ thuật, trong đời sống
tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, trong giáo dục đào tạo, trong giao lưu văn hóa…
Trong lĩnh vực: "Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể" tác giả Ngô
Đức Thịnh [109] cho rằng: Văn hóa phi vật thể là một cách phân loại, chỉ ra
các dạng chính thức của văn hóa phi vật thể, các đặc trưng của văn hóa phi vật
thể và việc sưu tầm bảo tồn chúng. Qua đó, tác giả muốn gửi thông điệp rằng:
Văn hóa phi vật thể là văn hóa trải dài trong cả không gian và thời gian, chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Trong giai đoạn hiện nay với sự giao thoa, giao
của môi trường văn hóa trong sự tương tác với môi trường tự nhiên. Đó là các
tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể, là các điều kiện chính trị - kinh tế xã hội…tạo nên những nguồn lực cho phát triển du lịch. Đồng thời những thực
thể văn hóa được tạo ra trong du lịch như văn hóa tổ chức, kinh doanh du lịch,
những mô hình, phong cách văn hóa, phẩm chất và năng lực quản lý lãnh đạo
trong doanh nghiệp du lịch, văn hóa giao tiếp, ứng xử trong du lịch…gắn với
những bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước… Đây là những thực thể văn
hóa được tạo sinh từ môi trường du lịch, do du lịch quyết định, thể hiện đặc
điểm, tính chất, trình độ của một nền du lịch văn hóa.
Có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về việc biến các giá trị văn
hóa, giá trị di sản thành nguồn lực cho phát triển du lịch. Các bài viết " Du lịch
và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc" của Lê Hồng Lý [63] và
15
"Khai thác di sản văn hóa như là một tài nguyên du lịch" của Nguyễn Thị
Chiến [19] đã khẳng định di sản văn hóa là nguồn lực chính hình thành nên sản
phẩm du lịch và hoạt động du lịch, góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và
phát huy giá trị di sản. Trong bài "Quản lý di sản văn hóa gắn với phát triển du
lịch" tác giả Trịnh Ngọc Chung [21] cho rằng:
Trước đây người ta chỉ chú ý nhiều tới tiềm năng du lịch ở khía cạnh
những điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu, hệ thống cơ sở vật chất và
hạ tầng kỹ thuật du lịch mà chưa đánh giá đúng mức tiềm năng văn
hóa trong phát triển du lịch, đặc biệt là vai trò, ý nghĩa của di tích
lịch sử - văn hóa…Nhưng thực tế cho thấy, muốn phát triển du lịch
trước hết cần có tiềm năng du lịch thật đa dạng và các sản phẩm du
lịch thật độc đáo có giá trị cao. Phải có những điều kiện như thế thì
du lịch mới có sức hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế.
Tiềm năng và sản phẩm du lịch được cấu thành từ nhiều yếu tố, trong
đó quan trọng nhất bao giờ cũng phải là di sản văn hóa với tư cách là
loại sản phẩm du lịch độc đáo có sức hấp dẫn cao. Bởi vì bản thân di
hướng chính trong phát triển du lịch vùng duyên hải Nam Trung bộ là tập trung
vào khai thác các giá trị của các di sản văn hóa, đặc biệt phát huy GTDSVH
đồng thời cần quan tâm đến việc bảo tồn.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng:
Hội An là một trong những trường hợp thành công nhất ở Việt Nam
trong việc đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các di sản văn hóa và nâng cao
chất lượng sống của người dân bằng định hướng phát triển du lịch. Lý
do của thành công này là ở chỗ Hội An có một hệ thống các chính sách
liên kết chặt chẽ giữa hoạt động quản lý di sản văn hóa với phát triển du
lịch…Một cách trực tiếp, du lịch đã đóng góp cho việc bảo tồn các di
sản văn hóa ở Hội An bằng cách dùng một phần thu nhập như là quỹ hỗ
trợ về tài chính. Một cách gián tiếp, bằng cách thúc đẩy sự phát triển
kinh tế địa phương, cung cấp việc làm cho người dân, nâng cao thu
nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống…là những việc mà nhờ đó,
nâng cao được nhận thức của người dân về giá trị và
17
tầm quan trọng của việc bảo tồn các di sản quý giá, du lịch đã đóng
giúp đỡ cộng đồng sở tại có nhiều phương tiện và động lực hơn để tự
bảo vệ các di sản văn hóa. Vì thế trong tương lai, khi Hội An không
thể hoàn toàn dựa vào nguồn kinh phí tài trợ và bảo vệ từ phía Chính
phủ thì du lịch được coi là một công cụ hứa hẹn nhất trong việc đảm
bảo quản lý bền vững các di sản văn hóa [42].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thống Nhất trong bài viết: "Khai thác hợp lý
các di sản văn hóa thế giới nhằm phát triển du lịch miền Trung Việt Nam" [76], đã
hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch di sản văn hóa thế giới, xác định
đặc điểm của di sản văn hóa thế giới và đưa ra cơ sở lý luận về khai thác hợp lý
các giá trị di sản văn hóa thế giới nhằm phát triển du lịch. Qua đây, NCS đã tiếp
thu kinh nghiệm về xác định mô hình khai thác hợp lý các giá trị di sản văn hóa,