Nguồn lực phát triển du lịch sinh thái tại một số đảo Quảng Ninh (nghiên cứu trường hợp đảo Cô Tô - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===  ===

ĐÀM THU HUYỀN

NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI TẠI MỘT SỐ ĐẢO QUẢNG NINH
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẢO CÔ TÔ ) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC


1.1.3.4. Nguyên tắc chỉ đạo cho các nhà quản lý khu bảo tồn thiên
nhiên 20
1.1.4. Quan điểm về phát triển du lich bền vững 21
1.2.Cơ sở thực tiễn về du lịch sinh thái 22

iv
1.2.1. Du lịch sinh thái trên thế giới 22
1.2.2. Du lịch sinh thái tại Việt Nam 23
1.3. Du lịch thiên nhiên và du lịch sinh thái 24
1.4. Phát triển du lịch sinh thái trên lãnh thổ biển đảo 26
CHƢƠNG 2. NHỮNG NGUỒN LỰC CƠ BẢN CHO PHÁT TRIỂN DU
LỊCH SINH THÁI Ở CÔ TÔ 30
2.1. Nguồn lực phát triển du lịch sinh thái tại các đảo Quảng Ninh 30
2.2. Những nguồn lực cho phát triển du lịch sinh thái tại Cô Tô. 38
2.2.1. Lịch sử hình thành đảo Cô Tô 38
2.2.2. Nguồn lực tài nguyên 41
2.3.2.1. Vị trí địa lý 41
2.2.2.2. Khí hậu, thời tiết 42
2.2.3. Nguồn lực về kinh tế, xã hội 51
2.2.3.1. Dân số và nguồn nhân lực 51
2.2.3.2. Kinh tế 53
2.2.3.3. Văn hoá, giáo dục và an ninh quốc phòng 56
2.3. Những thuận lợi và khó khăn cho phát triển du lịch sinh thái tại
Cô Tô 60
2.3.1. Thuận lợi 60
2.3.2. Khó khăn 62
2.4. Đánh giá về thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô.64
2.4.1. Lượng khách, doanh thu 64
2.4.2. Các tuyến điểm du lịch sinh thái chính tại Cô Tô 65
2.4.3. Phương thức tổ chức và sản phẩm tiêu biểu 65


vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Chỉ tiêu đánh giá sinh khí hậu 46
Bảng 2.2: Tình hình dân số Cô Tô từ năm 1999- 2008 46
Bảng 2.3: Thống kê các dân tộc huyện Cô Tô 47
Bảng 2.4: Sản lƣợng khai thác hải sản các loại năm 2008 huyện Cô Tô 47
Bảng 2.5: Sản lƣợng ngƣ nghiệp huyện Cô Tô 55

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có bƣớc phát triển mạnh
mẽ, tiềm năng của các tài nguyên du lịch đƣợc khơi dậy với những nét đặc
sắc, phong phú và đa dạng, giúp chúng ta có điều kiện phát triển nhiều loại
hình du lịch khác nhau, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái- một loại hình
du lịch thiên nhiên có trách nhiệm, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi
trƣờng tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời
đem lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển du
lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Việt Nam nằm bên bờ tây của biển Đông, một vùng biển lớn và thuộc
loại quan trọng nhất của khu vực châu Á- Thái Bình Dƣơng cũng nhƣ của thế
giới. Từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo gắn bó chặt chẽ với mọi
hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam. Vùng biển và ven biển
nƣớc ta có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc
phòng nên từ lâu Đảng và nhà nƣớc đã rất quan tâm đến phát triển kinh tế
biển, vùng ven biển và hải đảo, đặc biệt là du lịch tại đây bởi du lịch hiện
đang đƣợc coi là ngành kinh tế mũi nhọn cho sự phát triển của đất nƣớc.

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Mặc dù tiềm năng du lịch tại Cô Tô là rất lớn nhƣng tình hình phát triển
du lịch tại đây mới đang ở dạng phôi thai do cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn
cộng với sự quan tâm của cơ quan chính quyền địa phƣơng tại đây chƣa đƣợc
chú trọng nên cho đến nay, dƣới góc độ khoa học, nghiên cứu nguồn lực phát
triển du lịch sinh thái tại một số đảo Quảng Ninh mà trong đó điển hình là đảo
Cô Tô là một đề tài hoàn toàn mới.

3
Thứ nhất là những công trình liên quan đến du lịch sinh thái gắn với phát
triển bền vững tại khu vực các biển đảo:
Một đề tài khoa học cấp bộ thuộc viện nghiên cứu phát triển Du lịch, chủ
nhiệm đề tài: Thạc sĩ, kiến trúc sƣ Nguyễn Thu Hạnh về “ Cơ sở khoa học tổ
chức không gian kiến trúc cảnh quan các khu du lịch đảo ven bờ Đông Bắc
trên quan điểm phát triển bền vững”. Đề tài đƣợc nghiên cứu nhằm đƣa ra
những định hƣớng về chính sách và giải pháp tổ chức kiến trúc cảnh quan hợp
lý phục vụ cho phát triển du lịch mang tính bền vững ở khía cạnh cảnh quan
môi trƣờng.
Đề tài khoa học cấp bộ của tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Hoa thuộc viện nghiên
cứu phát triển du lịch về “ Cơ sở khoa học xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi
trƣờng cho hoạt động du lịch biển Việt Nam”. Đề tài bƣớc đầu đề xuất và xác
lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi
trƣờng cho hoạt động du lịch biển Việt Nam.
Thứ hai là những công trình nghiên cứu về sự phát triển du lịch trên đảo
Cô Tô:
Luận văn thạc sĩ khoa học Bùi Thị Minh Nguyệt thuộc khoa Địa Lý, Đại
học Khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội “Đánh giá tổng hợp điều
kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển bền vững huyện Cô Tô, tỉnh Quảng
Ninh”. Luận văn bƣớc đầu đánh giá đƣợc tiềm năng phát triển các ngành kinh
tế trong đó, tiềm năng phát triển du lịch- dịch vụ là rất lớn từ đó đề xuất đƣợc

mà vẫn đảm bảo tính bền vững cho tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng trên
đảo Cô Tô. Trƣớc thực tế này đòi hỏi cần nghiên cứu phát triển loại hình du
lịch sinh thái để ứng dụng vào hoạt động thực tiễn.
5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là loại hình du
lịch sinh thái và các nguồn lực để phát triển du lịch sinh thái tại các đảo
Quảng Ninh trong đó nghiên cứu trƣờng hợp điển hình là đảo Cô Tô.
Về không gian: Nghiên cứu đƣợc giới hạn trong phạm vi một số đảo
thuộc huyện Cô Tô trong đó trọng tâm là đảo Cô Tô lớn và các đảo vệ tinh
nhƣ Cô Tô con, đảo Thanh Lam. Tên đề tài mặc dù là nghiên cứu trƣờng hợp
cụ thể là đảo Cô Tô, tuy nhiên, hệ thống quần đảo Cô Tô thuộc huyện Cô Tô
bao gồm đảo Cô Tô lớn, đảo Thanh Lam, đảo Cô Tô con vốn là một thực thể
không thể tách rời cả về không gian địa lý cũng nhƣ về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội. Thị trấn Cô Tô hay là đảo Cô Tô chính là đại diện tiêu biểu
cho cả huyện đảo Cô Tô nên một số số liệu nghiên cứu là của toàn huyện Cô
Tô. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu trƣờng hợp điển hình là đảo Cô Tô nhƣng
những thực thể không thể tách rời nhƣ đảo Thanh Lam và đảo Cô Tô con
cũng đƣợc tác giả đƣa vào không gian và đối tƣợng nghiên cứu của mình.
Về thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu tài liệu: Các báo cáo của uỷ ban nhân dân huyện
Cô Tô từ năm 2006.
+ Thời gian nghiên cứu thực địa: Các chuyến khảo sát thực địa đƣợc tiến
hành từ năm 2008 đến năm 2009.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về du lịch sinh thái

các quan điểm về phát triển bền vững, các tài liệu liên quan đến đảo Cô Tô.
Sau đó tiến hành phân tích dữ liệu, đánh giá tổng hợp rồi đƣa ra những kết
luận có căn cứ.
Dữ liệu thứ cấp đƣợc thu thập từ các nguồn:

7
+ Sách, giáo trình
+ Các công trình khoa học gồm báo cáo lý luận, luận văn…
+ Các báo, tạp chí chuyên ngành, các thông tin trên Internet
+ Các văn bản pháp luật nhƣ luật du lịch
+ Các báo cáo tổng kết của chính quyền địa phƣơng.
- Phương pháp điền dã
Phƣơng pháp điền dã là một trong những phƣơng pháp quan trọng góp
phần làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực. Trực tiếp khảo sát tại
đảo Cô Tô và các đảo thuộc huyện Cô Tô giúp tác giả đánh giá đƣợc tiềm
năng cũng nhƣ nguồn lực phát triển du lịch sinh thái đảo Cô Tô đồng thời đƣa
ra những kiến nghị, đề xuất hợp lý và khả thi.
Khảo sát thực địa đƣợc tiến hành làm hai đợt . Đợt 1 từ 10/07/2009 đến
13/07/2009, đợt 2 từ ngày 08/09/2009 đến ngày 11/09/2009.
- Phương pháp điều tra xã hội học
Luận văn thực hiện phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập
đƣợc những số liệu sơ cấp, đánh giá đƣợc nhu cầu của du khách và tâm lý sẵn
sàng tham gia hoạt động du lịch của ngƣời dân địa phƣơng. Ngoài ra luận văn
còn tiến hành phƣơng pháp phỏng vấn và quan sát tham dự bằng cách quan
sát trực tiếp cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng, hoạt động của khách du
lịch và cách thức thực hiện của nhân viên tại nhà khách uỷ ban nhân dân
huyện Cô Tô.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trong quá trình thực hiện, luận văn đã áp dụng phƣơng pháp lấy ý kiến
chuyên gia bằng cách tham khảo ý kiến của một số chuyên gia, các nhà khoa

9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

1.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của du lịch sinh thái
Trong thời gian qua, Du lịch sinh thái đã đƣợc phát triển nhanh chóng
trên phạm vi toàn cầu, nó nhƣ một hiện tƣợng và xu thế phát triển ngày càng
chiếm đƣợc sự quan tâm của nhiều ngƣời bởi đó là loại hình du lịch thiên
nhiên có trach nhiệm, hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn môi trƣờng tự nhiên, các
giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời còn đem lại những
nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển của du lịch nói
riêng và phát triển kinh tế- xã hội nói chung.
Lúc đầu du lịch sinh thái chỉ đƣợc hiểu là du lịch về với thiên nhiên.
Du lịch thiên nhiên là các hoạt động du lịch trực tiếp phụ thuộc vào việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên bao gồm các yếu tố cảnh quan nhƣ khí hậu, địa
hình, thuỷ văn, thực vật và động vật. Mục đích của các chuyến đi về với thiên
nhiên là tận hƣởng giá trị trong lành của miền thiên nhiên hoang sơ hơn nơi
du khách sống, tiếp theo là tìm hiểu các giá trị của thiên nhiên, sự phong phú
đa dạng của thiên nhiên.
Khi số lƣợng du khách gia tăng, du lịch không còn là một ngành công
nghiệp “không khói” nữa. Du lịch thiên nhiên là lĩnh vực đang nhanh chóng
trở nên lớn mạnh trong nền kinh tế du lịch. Giá trị toàn cầu của du lịch thiên
nhiên trong du lịch quốc tế lên đến khoảng 45 nghìn tỷ đô la Mỹ. Nguồn thu
này chứng tỏ du lịch thiên nhiên là một động lực rất lớn cho các khu bảo tồn ở
nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của số lƣợng khách,
những ảnh hƣởng tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trƣờng ngày càng rõ


11
tự cho mình là các khách du lịch thiên nhiên, họ không phải là khách du lịch
sinh thái, vì sự đến thăm của họ đã cơ bản dẫn đến sự phá hoại tài nguyên
thiên nhiên và phá hoại môi trƣờng.
Khumbu, Nêpal là một minh hoạ khác về những gì không phải là du
lịch sinh thái. Một điều tra thực tiễn ở đây cho thấy nhiều khách phƣơng tây
cho rằng du lịch đã cải thiện đời sống vật chất cho nhân dân địa phƣơng,
nhƣng cũng gây ra sự mất đi nhiều việc làm truyền thống, gây đồng hoá và
mất trật tự xã hội. Rõ ràng, du lịch sinh thái là một thuật ngữ rộng, có nội
dung rất phức tạp.
Du lịch sinh thái “đã vƣợt quá một định nghĩa thông thƣờng bởi vì nó
có tham vọng mô tả một hành động, đƣa ra một trƣờng phái triết học và phổ
biến một mô hình phát triển. Du lịch thiên nhiên bị bó chặt trong hành động
và động cơ thúc đẩy của cá nhân (du khách) trong khi du lịch sinh thái là một
khái niệm rộng lớn dựa trên một phƣơng thức tiếp cận của nƣớc chủ nhà hoặc
vùng chủ nhà đƣợc thiết lập để phấn đấu đạt đƣợc các mục tiêu xa hơn, mục
đích cá nhân. Có một sự thống nhất chung là du lịch sinh thái là một hình thức
du lịch đến các khu thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn, đóng góp
cho phát triển cộng đồng địa phƣơng và dẫn tới kết quả là hiểu biết và đánh
giá kết quả sâu sắc hơn đối với môi trƣờng văn hoá và tự nhiên. Tuy nhiên
bảo tồn là mục đích đầu tiên của du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái đƣợc Chƣơng trình Du lịch Sinh thái của IUCN định
nghĩa là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trƣờng tại
những vùng còn tƣơng đối nguyên sơ, để thƣởng thức và hiểu biết thiên nhiên
(có kèm theo các đặc trƣng văn hoá- quá khứ cũng nhƣ hiện tại) có hỗ trợ đối
với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát
triển của nhân dân địa phƣơng.

12

lịch sinh thái ra đời nhƣ một công cụ bảo tồn thiên nhiên. Cần đền bù cho
những thiệt hại (giảm thu nhập) của ngƣời dân địa phƣơng khi họ tình nguyện
không khai thác tiếp các sản phẩm từ rừng bằng việc thu hút họ vào các hoạt
động du lịch. Về mặt lý thuyết, quan điểm này đƣợc sự ủng hộ rộng rãi của
mọi ngƣời. Song trên thực tế hầu nhƣ ít nơi thực hiện đƣợc. Trong hoàn cảnh
của nƣớc ta hiện nay, vấn đề này càng khó thực hiện. Tình trạng chung của
các doanh nghiệp lữ hành (kể cả nhà nƣớc và tƣ nhân) đều thi nhau hạ giá sản
phẩm để thu hút khách. Do vậy, hầu nhƣ không doanh nghiệp nào sẵn sàng
chia sẻ bớt phần lợi nhuận nhỏ bé của mình cho cộng đồng địa phƣơng và cho
việc bảo tồn. Chính điều này đã làm du lịch sinh thái đi vào chỗ bế tắc. Hình
ảnh khu thiên nhiên, khu bảo tồn quốc gia, vƣờn quốc gia của Việt Nam dƣới
tác động của du lịch trong những năm qua là những minh chứng rõ nét. Một
trong những lý do cơ bản làm cho thắng cảnh Hƣơng Sơn chƣa đƣợc công
nhận là di sản thế giới chính là không có một chính sách và hành động bảo vệ
môi trƣờng nghiêm túc. Tất cả mọi thành phần kinh tế đến đây kinh doanh chỉ
tìm cách tăng doanh thu, giảm chi và thờ ơ hoặc bất lực, đành làm ngơ trƣớc
thảm hoạ môi trƣờng. Một nguy cơ đang tiềm ẩn có thể cảnh báo trƣớc là
vƣờn Quốc gia và đảo Cát Bà. Với con tàu thuỷ cao tốc Thuỷ Bắc - Lim
Bang, với nguồn điện quốc gia và con đƣờng bộ nối ra đảo đã đƣợc hoàn
thành thì rất có thể Cát Bà sẽ trở thành một công viên Thống Nhất hay công
viên Tuổi Trẻ nhƣ ở Hà Nội hiện nay. Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm thế nào
để không những không giảm mà còn phải tăng lợi nhuận cho các doanh
nghiệp lữ hành đồng thời vẫn tạo ra nguồn tài chính cho việc bảo vệ và tôn
tạo môi trƣờng.
Song song với việc đóng góp tài chính cho việc bảo vệ môi trƣờng, du
lịch sinh thái cần tạo ra công ăn việc làm cho chính ngƣời dân địa phƣơng.

14
Thực tế cũng chỉ ra rằng, nhận thức vấn đề này tuy đã khó song thực thi nó
còn khó hơn nhiều. Lý do ngƣời dân địa phƣơng ít đƣợc tham gia vào hoạt

từ những góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế: Du lịch sinh thái là
việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn đƣợc môi
trƣờng và cải thiện phúc lợi cho ngƣời dân địa phƣơng.
Tại hội thảo quốc gia về “ Xây dựng chiến lƣợc phát triển Du lịch sinh thái
ở Việt Nam” năm 1999 đã đƣa ra định nghĩa về Du lịch sinh thái: Du lịch sinh
thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo
dục môi trƣờng, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng.
1.1.2.2. Nguồn lực phát triển du lịch sinh thái
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ, nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực,
đƣờng lối chính sách, vốn và thị trƣờng… có thể đƣợc khai thác nhằm phục
vụ cho phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Không những thế, nguồn
lực còn bao hàm cả các yếu tố nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài.
Nguồn lực không phải là bất biến mà nó thay đổi theo không gian và thời
gian. Con nguời có thể thay đổi nguồn lực theo hƣớng có lợi cho mình.
Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi ngành kinh
tế của mỗi quốc gia.
Qua khái niệm nguồn lực đƣa ra ở trên, nguồn lực để phát triển kinh tế nói
chung, nguồn lực để phát triển du lịch sinh thái nói riêng bao gồm các yếu tố
thành phần nhƣ sau

16
- Nguồn lực tài nguyên: là sự giàu có và đa dạng về tài nguyên tự nhiên.
Bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên nƣớc,
tài nguyên khí hậu, vị trí địa lý phục vụ cho phát triển du lịch sinh thái.
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc
phát triển du lịch sinh thái. Do đó, vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việc bảo
vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang đƣợc đặt ra nhằm đảm bảo những

nguyên tắc này đƣợc định hƣớng vào các đối tƣợng chủ yếu là du khách, nhà
cung ứng du lịch và các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên. Dƣới đây là
các nguyên tắc cơ bản đó.
1.1.3.1. Nguyên tắc chỉ đạo cho khách du lịch sinh thái
Khách du lịch sinh thái khác với các khách du lịch thông thƣờng, họ là
những ngƣời quan tâm hơn cả đến các giá trị tự nhiên và giá trị nhân văn ở
những khu vực thiên nhiên hoang dã, vì vậy các nguyên tắc chỉ đạo dành cho
khách du lịch sinh thái nhƣ sau:
Không lại quá gần động vật hoang dã và không cho chúng ăn. Động
vật hoang dã có thể có hai loại phản ứng khi thấy ngƣời tiếp cận. Hoặc chúng
hoảng sợ, bỏ chạy và rời bỏ nơi ở cũ để đi tìm chỗ mới, điều này có thể dẫn
đến những nguy hiểm cho chúng nhƣ bị tấn công khi xâm phạm lãnh thổ kẻ
khác, bị đói vì không tìm thấy thức ăn … Hoặc chúng có thể tấn công bạn
theo bản năng để tự vệ. Hoặc chúng có thể ăn phải những thức ăn lạ sẽ bị sinh
bệnh, ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ.
Không thu thập động thực vật được bảo vệ và bị đe doạ. Hiện nay có
nhiều loài động thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng. Có thể bạn có ý định rất
tốt muốn cƣu mang một con vật hoang dã, tạo cho nó một trƣờng sống tốt ở
nhà mình. Song nơi ở thoải mái truyền thống của chúng là trong thiên nhiên.

18
Chúng rất có thể không thích nghi với cuộc sống ở nhà bạn và do vậy chúng
có thể bị chết hay trở nên vô sinh. Thực vật cũng vậy, các rạn san hô dƣới đáy
biển hay các loài phong lan trên rừng cũng góp phần làm tăng sự đa dạng sinh
học của một hệ sinh thái, chỉ vì những hành động vô thức của khách du lịch
cũng gây nên những tác động không nhỏ đến môi trƣờng sinh thái.
Không mua động thực vật được bảo vệ và bị đe doạ hoặc các sản phẩm
được làm từ chúng. Ngƣời dân địa phƣơng có thể chƣa nhận thức đƣợc đúng
đắn giá trị về mặt khoa học của các loài này. Hoặc có thể do cuộc sống của họ
quá thấp. Nếu bạn mua những thứ này là bạn đang khuuyến khích ngƣời dân

Sống gần gũi với thiên nhiên và tiếp thu lối sống thiên nhiên thông qua
kinh nghiệm của chuyến đi. Sống hoà mình vào thiên nhiên là một trong
những mục tiêu của du lịch sinh thái. Có những điều thực hiện rất dễ dàng
trong điều kiện bình thƣờng thì lại rất khó khi đi du lịch trong thiên nhiên. Vì
vậy qua chuyến du lịch bạn sẽ học đƣợc nhiều kỹ năng để tự lực và tăng khả
năng sáng tạo khi thực hiện công việc thƣờng ngày
1.1.3.2. Nguyên tắc chỉ đạo cho các nhà điều hành du lịch sinh thái và
các hướng dẫn viên du lịch
Lập kế hoạch chuyến đi nhằm nâng cấp từ du lịch về với thiên nhiên
thông thƣờng thành du lịch có tính giáo dục và bảo vệ môi trƣờng.
Chọn những nơi sẵn sàng tiếp nhận du lịch sinh thái
Lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, tổ chức bảo tồn phi chính phủ
cũng nhƣ cộng đồng địa phƣơng trong giai đoạn quy hoạch
Không chấp nhận tổ chức cho nhóm du lịch lớn hơn 20 ngƣời.
Tổ chức định hƣớng cho khách du lịch trƣớc chuyến du lịch.
Thu nạp hƣớng dẫn viên có hiểu biết và thực hành về du lịch sinh thái

20
Bố trí các hƣớng dẫn là ngƣời địa phƣơng quen thuộc với tự nhiên và
văn hoá của nơi du lịch
Chọn nơi ăn ở do ngƣời địa phƣơng quản lý và giới thiệu các loại lƣu
niệm có ý nghĩa môi trƣờng cho khách du lịch, khuyến khích du khách tiếp
xúc với dân địa phƣơng
Thu thập các ý kiến nhận xét của cộng đồng địa phƣơng cũng nhƣ du
khách để kịp thời rút kinh nghiệm cho các chuyến du lịch sau.
1.1.3.3. Nguyên tắc chỉ đạo cho chủ nhà trọ
Chọn nơi thích hợp để làm nơi ăn nghỉ cho khách du lịch sinh thái.
Làm giảm tới mức thấp nhất những tác động lên thiên nhiên và văn hoá
địa phƣơng khi lập kế hoạch xây dựng khu ăn nghỉ.
Hãy bám sát với các thông tin về ảnh hƣởng của khu ăn nghỉ với môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status