BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
**********************
Trần Thị Thu Nhung
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA GIA ĐÌNH TRẺ
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
(QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP PHƢỜNG TÂN MAI,
QUẬN HOÀNG MAI VÀ THỊ TRẤN TRÂU QUỲ,
HUYỆN GIA LÂM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2016
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................ 3
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ ........................................................................... 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ............................................................................................. 6
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 7
Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI
QUÁT VỀ GIA ĐÌNH TRẺ Ở ĐỊA BÀN KHẢO SÁT .................... 14
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ....................................................................... 14
:
Bảng
BĐ
:
Biểu đồ
CLB
:
Câu lạc bộ
ĐT
:
Đô thị
ĐTH
:
Đô thị hóa
ĐTN
:
Nghiên cứu sinh
Nxb
:
Nhà xuất bản
PL
:
Phụ lục
SP
:
Số phiếu
STT
:
Số thứ tự
THCS
:
Văn hóa gia đình
4
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ
B2.1.
Cách chi tiêu tài chính trong gia đình trẻ .................................................... 56
B2.2.
Ngƣời thực hiện các công việc nhà trong gia đình trẻ ................................ 60
B2.3.
Ngƣời thực hiện các công việc nhà trong gia đình trẻ ................................ 62
B2.4.
Quan điểm về quan hệ tình dục hiện nay của vợ/chồng trong gia đình trẻ ......... 66
B2.5.
Cách thức tổ chức bữa ăn của gia đình trẻ .................................................. 68
B2.6.
B2.22. Cách giải quyết mâu thuẫn với bố mẹ đẻ và bố mẹ chồng/vợ .................... 91
B2.23. Ứng xử của ông bà (cha mẹ) với con, cháu................................................. 93
B2.24. Thái độ đối với anh chị em ruột .................................................................. 94
B2.25. Việc tổ chức cúng lễ tổ tiên nhân các dịp lễ tết trong năm ......................... 97
B2.26. Thành phần tham gia cỗ giỗ của gia đình trẻ .............................................. 98
5
B3.1.
Tƣơng quan giữa nghề nghiệp với ngƣời thực hiện các công việc
trong gia đình của các gia đình trẻ hiện nay.............................................. 108
B3.2.
Tƣơng quan giữa nghề nghiệp gia đình trẻ với ngƣời thực hiện các
công việc trong gia đình ............................................................................ 109
B3.3.
Tƣơng quan giữa nghề nghiệp và mức độ quan tâm đến nhau trong các
dịp lễ của các cặp vợ/chồng ...................................................................... 110
B3.4.
Tƣơng quan nghề nghiệp và các hoạt động cúng lễ diễn ra trong các
gia đình trẻ hiện nay .................................................................................. 112
B3.5.
Ngƣời đứng tên giấy tờ sở hữu, quyền sử dụng các tài sản trong gia
đình trẻ ...................................................................................................... 58
BĐ2.6.
Vai trò của quan hệ tình dục đối với hạnh phúc gia đình trẻ ................... 64
BĐ2.7.
Vai trò của quan hệ tình dục đối với hạnh phúc gia đình ......................... 65
BĐ2.8.
Đánh giá về tầm quan trọng của các tiêu chuẩn trƣờng học cho con ....... 80
BĐ2.9.
Quan điểm của cha mẹ về việc học thêm của các con ............................. 81
BĐ2.10. Việc lập bàn thờ tổ tiên............................................................................. 95
BĐ2.11. Vị trí đặt bàn thờ trong nhà ...................................................................... 96
BĐ2.12. Tỷ lệ làm giỗ tại nhà của gia đình trẻ ....................................................... 97
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 . Lý do khoa học
Gia đình luôn là yếu tố quan trọng tạo nên những giá trị vô cùng to lớn của
gìn tổ ấm.
Tuy nhiên nghiên cứu đến văn hóa ứng xử của GĐT trong quá trình đô thị
hóa ở Hà Nội hiện nay vẫn chƣa có một công trình nào đề cập một cách toàn diện
vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn. Hà Nội đã đƣợc mở rộng về mặt
hành chính, ngày càng nhiều khu đô thị mọc lên, đô thị hóa nhanh tất yếu dẫn đến
sự biến đổi văn hóa, đạo đức, lối sống của xã hội trong đó có gia đình trẻ. Vì vậy
vấn đề gia đình, đặc biệt là ứng xử của GĐT trong quá trình đô thị hóa cần thiết
phải đƣợc nghiên cứu.
1.2. Lý do thực tiễn
Hiện nay Hà Nội đã có 12 quận trung tâm và nhiều khu đô thị trong đó
không ít các khu đô thị mới đƣợc mọc lên. Xu thế đô thị hóa ở Hà Nội đang diễn ra
nhanh chóng, nhiều khu vực nông thôn ngoại thành chuyển sang đô thị (phƣờng,
quận) nội thành, nhiều làng, xã chuyển thành thị trấn, thị tứ ngoại thành. Tình trạng
di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng nhiều để kiếm việc làm, học tập và công
tác tại các cơ quan nhà nƣớc, các doanh nghiệp...
Nhƣ đã trình bày ở trên, do điều kiện hình thành GĐT (tuổi kết hôn, việc
làm, thu nhập, điều kiện nhà ở, việc sinh sản và nuôi dƣỡng con cái…) và do môi
trƣờng văn hóa đô thị nên văn hóa ứng xử của các GĐT đang diễn ra rất phong phú
và đa dạng, tích cực xen lẫn tiêu cực. Phân tích và giải thích các hiện tƣợng ấy trong
văn hóa ứng xử của GĐT hiện nay để tìm đến các giải pháp phù hợp là một yêu cầu
thực tiễn đang đặt ra.
Văn hóa ứng xử của GĐT ở phƣờng Tân Mai, quận Hoàng Mai và thị trấn
Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội cũng đang nằm trong bối cảnh chung của văn
hóa ứng xử của GĐT Hà Nội hiện nay. Bởi phƣờng Tân Mai và thị trấn Trâu Quỳ
mới đƣợc chuyển đổi từ vùng nông thôn, làng, xã của quận Hoàng Mai và huyện
Gia Lâm từ cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ này. Tất nhiên văn hóa
ứng xử của GĐT ở hai địa bàn khảo sát trên vừa có những vấn đề chung của văn
hóa ứng xử của GĐT ở Hà Nội vừa có những yếu tố đặc thù. Song nghiên cứu văn
10
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: luận án giới hạn nghiên cứu ứng xử đối với các GĐT đã
ra ở riêng (không sống chung cùng bố mẹ) tập trung ở khu vực đang trong quá trình
đô thị hóa ở Hà Nội. Luận án sẽ khái quát kết quả quan sát, điều tra, phỏng vấn nội
dung văn hóa ứng xử trong GĐT ở 2 địa bàn: phƣờng Tân Mai, quận Hoàng Mai và
thị trấn Trâu Quỳ huyện Gia Lâm, Hà Nội. Quá trình đô thị hóa ở một phƣờng nội
thành và một thị trấn ngoại thành Hà Nội có những điểm giống và khác nhau, vì vậy
đây sẽ là 2 địa điểm khảo sát khách quan nhằm đánh giá về biểu hiện ứng xử của
GĐT một cách xác thực nhất.
- Phạm vi thời gian: luận án nghiên cứu văn hóa ứng xử của GĐT của hai địa
bàn trên ở Hà Nội kể từ sau năm 2005 đến nay. Dấu mốc này đánh dấu việc kể từ
ngày 1/4/2005, xã Trâu Quỳ trở thành thị trấn thuộc huyện Gia Lâm. Việc trở thành
thị trấn thuộc huyện ngoại thành Hà Nội đã tạo ra bƣớc thay đổi mới cho riêng Trâu
Quỳ. Trong khi phƣờng Tân Mai chịu sự tác động của quá trình đô thị hóa sớm hơn
vì đây là phƣờng thuộc một quận của Hà Nội từ trƣớc đó.
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Văn hóa ứng xử của GĐT ở đô thị tại Hà Nội hiện nay nhƣ thế nào và các
nguyên nhân của hiện trạng ấy.
- Văn hóa ứng xử của GĐT ở các phƣờng, thị trấn đang đô thị hóa Hà Nội
phải chăng là hệ quả tất yếu của những chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội và xu hƣớng hội nhập thế giới, của quá trình đô thị hóa hiện nay.
- GĐT trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội cần khắc phục các hạn chế nhƣ
thế nào để có đƣợc văn hóa ứng xử phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên/đa ngành. Văn hóa học - bộ môn khoa học
nằm trên giao điểm của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, hay nói cách khác
của vấn đề nghiên cứu.
Việc phỏng vấn sẽ tập trung vào một số đối tƣợng sau:
+ Phỏng vấn các nhà quản lý địa phƣơng cụ thể ở đây là nơi cƣ trú nhƣ các
cán bộ cấp phƣờng nơi đƣợc điều tra, cán bộ tổ dân phố, cụm dân cƣ, các ban quản
lý khu chung cƣ… Họ sẽ cung cấp các thông tin cần thiết khách quan về các cách
ứng xử trong gia đình của các GĐT, cho biết cách phối hợp của các tổ chức trong
việc định hƣớng lối sống, xây dựng cách ứng xử đẹp trong gia đình.
12
+ Phỏng vấn các thành viên của GĐT để thu nhận các quan điểm, các biểu
hiện trong văn hóa ứng xử GĐT hiện nay.
+ Phỏng vấn các đối tƣợng khác có liên quan đến GĐT nhƣ anh em, họ hàng,
hàng xóm…
- Phương pháp đối chiếu và so sánh
So sánh các biểu hiện ứng xử của GĐT thuộc các ngành nghề khác nhau:
giữa GĐT công nhân, nông dân, cán bộ công chức viên chức nhà nƣớc, kinh doanh
buôn bán tự do.
So sánh giữa gia đình truyền thống và GĐT hiện nay
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, xử lý thông tin
Luận án có kế thừa các nguồn tƣ liệu của các nhà nghiên cứu từ trƣớc để làm
cơ sở trong việc giải quyết vấn đề nghiên cứu của luận án nhƣ các quan điểm về gia
đình, văn hóa gia đình, ứng xử trong gia đình.
Ngay cả các tƣ liệu về Hà Nội, đặc biệt các vấn đề về đô thị hóa ở Hà Nội
hiện nay cũng đƣợc chúng tôi kế thừa và chọn lọc để lý giải nguyên nhân, tác động
đến văn hóa ứng xử trong GĐT ở các phƣờng, thị trấn đang đô thị hóa ở Hà Nội
hiện nay.
Tuy nhiên, để giải quyết tốt đối tƣợng nghiên cứu của luận án, việc kế thừa
các nguồn tƣ liệu này sẽ phải thực hiện trên cơ sở phân tích, tổng hợp, đối chiếu so
Chƣơng 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT
VỀ GIA ĐÌNH TRẺ Ở ĐỊA BÀN KHẢO SÁT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình
Trong lịch sử nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình trên thế giới, các
nhà nghiên cứu đã ít nhiều bàn luận song nội dung chính là hƣớng đến những vấn
đề về gia đình nói chung. Có thể nói Morgan là ngƣời đầu tiên nghiên cứu về gia
đình trong đó tập trung nghiên cứu về các hình thức gia đình cũng là một chiều cạnh
của văn hóa gia đình. Điều này đƣợc đề cập trong cuốn Nguồn gốc của gia đình,
của chế độ tư hữu và của nhà nước của Ph.Ăngghen, ông đã dẫn ý kiến của Morgan
về bốn hình thức gia đình chính từng tồn tại trong lịch sử nhân loại, đó là: gia đình
huyết tộc, gia đình Punanuan, gia đình đối ngẫu, gia đình một vợ một chồng [13].
Theo Morgan, hình thức gia đình một vợ một chồng là đỉnh cao của sự biến đổi,
phát triển gia đình trong lịch sử và hình thức này dựa trên những điều kiện kinh tế
nhất định. Tuy nhiên, quan điểm của Morgan và Ph.Ăngghen theo các nhà nghiên
cứu hiện nay chƣa hoàn toàn chính xác. Nghiên cứu về gia đình, văn hóa gia đình
dƣới góc độ về giới có tác giả Randall Collin đã đề cập đến vấn đề giới và giải thích
vì sao có sự phân biệt giữa nam và nữ trong công trình nghiên cứu Sociology of
marriage and the Family: Gender, Love and Property [115]. Tác giả xem xét sự
khác biệt giữa nam và nữ và vị trí của họ trong sự phân tầng hai chiều: chiều giai
cấp và chiều địa vị. Ông cho rằng sự khác biệt giới bắt nguồn từ việc phụ nữ thƣờng
tham gia vào việc sản xuất và tiêu dùng văn hóa trong khi nam giới tập trung nhiều
hơn vào lĩnh vực sản xuất vật chất và các quan hệ quyền lực của nó. Ở châu Á,
trong một nghiên cứu của tác giả Junko Kuninobu với chủ đề Japan-Gender Roles
in Mating and Marriage (Nhật Bản-vai trò nam nữ trong hôn nhân và gia đình)
cũng đã đề cập đến tình trạng thay đổi trong các giá trị gia đình ở Nhật Bản hiện
nay. Nếu trƣớc kia ngƣời phụ nữ Nhật chỉ đóng vai trò thứ yếu trong gia đình, đặc
cũng làm việc nhƣ vậy và cũng lớn hơn rất nhiều so với những phụ nữ chuyên ở nhà
16
làm việc nội trợ. Năm sau đó tác giả Paula England và Kathryl Edin trong cuốn
Unmarried couples with children (Những cặp tình nhân có con khi chƣa kết hôn) đã
đề cập đến tình trạng các ông bố bà mẹ sinh con mà chƣa kết hôn hoặc sinh con
trong tình thế chƣa sẵn sàng về tâm lý, điều kiện kinh tế và chƣa có kỹ năng để
chăm sóc đứa trẻ, điều này ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển toàn diện của đứa trẻ
sinh ra. Điều này cho thấy mặc dù Mỹ rất coi trọng tự do cá nhân, có xu hƣớng tiếp
cận các giá trị mới rất nhanh, song các giá trị gia đình truyền thống vẫn luôn đƣợc các
tác giả, giới nghiên cứu và các nhà quản lý xã hội coi trọng [114]. Năm 2010, tác giả
Martine Segalen đã cho ra đời cuốn sách Sociologie de la famille đề cập đến những
biến đổi của quan hệ thân tộc, biến đổi của gia đình, các chức năng của gia đình và
mối quan hệ giữa gia đình và vấn đề nhà nƣớc. Công trình nghiên cứu này cho thấy
những cách nhìn phong phú về gia đình, ở Pháp và ở châu Âu dƣới con mắt của một
nhà xã hội học [113].
Bàn đến văn hóa gia đình ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ 17 đã có một số tác giả
dành sự quan tâm dƣới góc nhìn phong tục, phong hóa, đạo đức trong gia đình.
Những thập niên gần đây vấn đề gia đình và văn hóa gia đình nhận đƣợc sự quan
tâm đặc biệt của nhà nƣớc, của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học. Sự
xuất hiện của các cơ quan khoa học về gia đình và trẻ em, nhiều chƣơng trình, đề tài
khoa học cấp nhà nƣớc, cấp viện nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình đã
phần nào thể hiện sự quan tâm của xã hội dành cho gia đình nói chung và văn hóa
gia đình nói riêng. Những công trình nghiên cứu về văn hóa gia đình tiêu biểu có
Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội tác giả Lê Minh (chủ biên) [65]. Các tác
giả trong công trình này đã bàn đến khái niệm, cơ cấu và chức năng của văn hóa gia
đình. Tác giả Vũ Ngọc Khánh với cuốn Văn hóa gia đình Việt Nam [56] đã trình
bày quan niệm của mình về văn hóa gia đình và đặc trƣng của văn hóa gia đình Việt
năm 1986. Tác giả nhận định “Sự biến đổi đó không có nghĩa là hoàn toàn khƣớc từ
văn hóa gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh
và điều kiện xã hội mới” [47, tr.126]. Năm 2011, chứng kiến nhiều biến đổi về gia
đình nói chung và văn hóa gia đình nói riêng, nhóm tác giả Trần Đức Ngôn, Bùi
Xuân Đính, Nguyễn Việt Hƣơng, Lê Thị Hiền đã cho ra đời công trình nghiên cứu
Văn hóa gia đình Việt Nam trong thời đại hiện nay. Cuốn sách đề cập đến bốn nội
dung chính từ một số vấn đề lý luận chung về gia đình và văn hóa gia đình đến văn
18
hóa gia đình truyền thống ở Việt Nam, từ đó so sánh phân tích sự biến đổi của văn
hóa gia đình truyền thống ở Việt Nam hiện nay. Cuối cùng nhóm tác giả đã chỉ ra
hƣớng xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam trong thời đại hiện nay. Công trình
nghiên cứu này có phạm vi rất rộng bao gồm cả gia đình ở Bắc bộ, Trung bộ, Tây
Nguyên, Nam bộ. Gần đây nhất, đầu năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Nguyệt đã tiến
hành nghiên cứu về văn hóa gia đình trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa
học Sự biến đổi văn hóa gia đình ở vùng tái định cư huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Tác giả tập trung nghiên cứu rất kỹ về sự biến đổi văn hóa gia đình tại một khu vực
sau khi tái định cƣ với 4 nội dung cơ bản: biến đổi trong quan niệm hôn nhân gia
đình, biến đổi trong ứng xử gia đình, biến đổi trong giáo dục gia đình và biến đổi
trong nghi lễ, tôn giáo tín ngƣỡng. Tác giả nhận định: “Bên cạnh những giá trị mới
tốt đẹp, củng cố VHGĐ hiện đại, đã xuất hiện những biểu hiện văn hóa làm lỏng lẻo
các mối quan hệ gia đình. Đó là nhận thức về tình dục, ứng xử của trẻ em, các hành
vi lệch chuẩn, sự ích kỷ trong lối sống… đã dẫn đến tình trạng ly hôn, bạo lực gia
đình là những vấn đề gây nhức nhối đối với mỗi ngƣời dân nơi đây” [67].
Qua các công trình nghiên cứu trên đây về gia đình và văn hóa gia đình,
chúng ta nhận thấy các nhà nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc cũng đã dành
nhiều sự quan tâm cho vấn đề này. Theo diễn trình lịch sử, các công trình nghiên
cứu về gia đình và văn hóa gia đình vẫn đƣợc tiếp nối đến tận hôm nay. Bởi lẽ văn
yếu xoay quanh ứng xử của hai vợ chồng, chƣa đề cập đến ứng xử trong các mối
quan hệ khác. Trong cuốn Cách ứng xử, sắp xếp cuộc sống và quản lý kinh tế gia
đình, tác giả Lý Hồng Đào, Đinh Thị Hòa cho rằng để có một gia đình hạnh phúc,
đòi hỏi các thành viên trong gia đình phải biết cách ứng xử, sắp xếp các công việc,
nhất là vấn đề kinh tế một cách khoa học. Họ phải biết giải quyết tốt mối quan hệ
mẹ chồng nàng dâu, sắp xếp việc nhà một cách khoa học, quản lý kinh tế gia đình
hiệu quả, thậm chí cũng cần phải biết tham gia thị trƣờng chứng khoán nhằm đem
lại lợi ích kinh tế cho gia đình…[30]. Năm 2005, cuốn sách Mái ấm gia đình-văn
hóa ứng xử trong gia đình [66] của nhóm tác giả Lê Minh, Lê Thu Trang, Trần Thị
Thu Nam đã đề cập từ những vấn đề chung của gia đình đến các vấn đề cụ thể về
cách ứng xử, các kỹ năng cần thiết trong ứng xử gia đình.
Bƣớc sang thế kỷ 21, đất nƣớc có nhiều sự thay đổi, trong đó phải kể đến quá
trình đô thị hóa tăng nhanh. Đô thị hóa tác động đến mọi mặt của đời sống con
20
ngƣời, trong đó tác động đến đời sống gia đình. Chính vì vậy có nhiều nhà nghiên
cứu đã bàn đến câu chuyện sự tác động của nền kinh tế thị trƣờng, của quá trình đô
thị hóa đến gia đình và ứng xử trong gia đình. Trong bài viết “Một số biến đổi trong
quan hệ ứng xử và sử dụng thời gian của người dân vùng chuyển đổi từ xã lên
phường (Nghiên cứu trường hợp tại phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội)”
của tác giả Nguyễn Đình Tuấn năm 2007, chúng ta thấy rõ sự tác động ảnh hƣởng
của quá trình đô thị hóa đến sự thay đổi trong quan hệ ứng xử [97]. Có hai sự biến
đổi chính đƣợc đề cập là biến đổi trong quan hệ ứng xử và biến đổi trong sử dụng
quỹ thời gian rỗi. Năm 2008 tác giả Nguyễn Thanh Tuấn đã đề cập đến những vấn
đề về ứng xử nói chung và văn hóa ứng xử nói riêng trong cuốn Văn hóa ứng xử
Việt Nam hiện nay [98]. Tác giả cho rằng: “Việc điều tiết quá trình hình thành văn
hóa ứng xử mới là phức tạp và rất khó khăn, do đó đòi hỏi phải gắn liền với cuộc
vận động các phong trào văn hóa, đặc biệt phải đƣợc lồng ghép vào các chủ trƣơng,
cứu về GĐT từ trƣớc tới nay có rất ít công trình đề cập, mặc dù ngay từ những năm
90 của thế kỷ trƣớc đã có những tác giả nhận ra vai trò của mô hình gia đình này.
Năm 1990, trong bài viết “Một số suy nghĩ bước đầu về GĐT ở Việt Nam”,
tác giả Phan Thị Hƣơng đã phần nào giúp chúng ta hình dung ra tên gọi của một
kiểu gia đình đóng vai trò rất lớn vào việc tạo dựng hạnh phúc của con ngƣời và xã
hội: GĐT. Bằng việc trích dẫn các con số đáng lo ngại về tình hình gia đình lúc đó,
tác giả đã khiến chúng ta không khỏi giật mình về tình hình khó khăn của vấn đề gia
đình. Tác giả cho rằng có 4 nguyên nhân chính gây nên khó khăn của GĐT và đã
đƣa ra đƣợc các kiến nghị cần thiết để phần nào khắc phục những khó khăn của
GĐT [51]. Dƣơng Tự Đam là một trong số ít tác giả dành sự quan tâm cho đối
tƣợng gia đình đặc biệt này. Trong cuốn GĐT và việc hình thành nhân cách thanh
niên, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận bao gồm các quan điểm về gia đình,
chức năng xã hội hóa và ảnh hƣởng về giá trị gia đình trong các thành viên. Tác giả
cho thấy sự cần thiết của việc “bố mẹ trẻ gƣơng mẫu, tổ chức xây dựng GĐT tốt và
hòa thuận, thực hiện một gia đình dân chủ, bình đẳng có văn hóa, một gia đình cơ
cấu nhỏ, hạnh phúc và thịnh vƣợng” [21]. Có thể nói công trình nghiên cứu này tuy
mới chỉ tập trung đến vấn đề giáo dục trong GĐT song đã mở ra một hƣớng nghiên
cứu mới về một đối tƣợng gia đình rất cần đƣợc nghiên cứu, đó là GĐT.
Trong các báo và tạp chí đã có nhiều bài viết liên quan đến GĐT nhƣ “Mô
hình câu lạc bộ GĐT thực hiện kế hoạch hóa gia đình và nâng cao thu nhập” của
22
tác giả Hoa Quỳnh [84]. Bài viết đã khẳng định vai trò của tổ chức Đoàn Thanh
niên trong việc định hƣớng xây dựng, thành lập đƣợc nhiều mô hình hay nhƣ Câu
lạc bộ GĐT thực hiện KHHGĐ và nâng cao thu nhập, qua khảo sát các thành viên
khi tham gia CLB này đều đƣợc nâng cao về nhận thức cũng nhƣ kỹ năng về
KHHGĐ và làm kinh tế giúp cải thiện điều kiện sống của các GĐT. Bài viết “Mâu
thuẫn, xung đột trong GĐT qua một cuộc khảo sát” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh,
GĐT hiện nay lại tập trung vào việc đƣa ra các tình huống khó xử và cách hóa giải
các tình huống đó. Trong khi đó quá trình đô thị hóa gắn với công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nƣớc ta hiện nay, đặc biệt ở vùng ven đô đang đặt ra nhiều vấn đề đối với
văn hóa ứng xử của gia đình trẻ cần thiết phải đƣợc nghiên cứu. Liệu các khuôn
mẫu ứng xử trong gia đình trẻ hiện nay đã hoàn toàn tích cực chƣa? Có gì hạn chế
trong các biểu hiện văn hóa ứng xử của các gia đình trẻ hiện nay không? Việc đƣa
ra các giải pháp nhằm giúp các GĐT giải quyết khó khăn hay những vấn đề lý
thuyết còn thiếu khi nghiên cứu về GĐT cũng chính là những vẫn đề còn bỏ ngỏ
của các công trình nghiên cứu về GĐT hiện nay. Làm thế nào để có những biện
pháp thiết thực, hiệu quả tác động đến nhận thức, hành động của các thành viên
trong GĐT, nhất là đôi vợ chồng trẻ trong quá trình đô thị hóa mạnh nhƣ Hà Nội
hiện nay nhằm tạo dựng gia đình toàn diện trong tƣơng lai là vấn đề cần thiết phải
bàn luận tiếp.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Khái niệm gia đình, gia đình truyền thống, gia đình trẻ
*Khái niệm gia đình
Gia đình chính là một thiết chế xã hội - văn hóa đặc thù đã tồn tại trong xã
hội loài ngƣời từ rất lâu. Gia đình không bao giờ mất đi, nó có thể biến đổi theo thời
gian, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố song vai trò của nó đối với sự phát triển của
xã hội là không thể phủ nhận đƣợc.
Chính vì gia đình có vai trò rất quan trọng đối với xã hội nên trong lịch sử
nghiên cứu, khái niệm gia đình đƣợc rất nhiều các học giả, các nhà quản lý xã hội
đề cập tới.
Xét theo quan điểm xã hội học, gia đình đƣợc định nghĩa với tƣ cách là một
nhóm xã hội có những tiêu chí nhất định. Theo tác giả Lê Ngọc Văn, yếu tố liên kết
trong gia đình rất quan trọng, ông cho rằng: Trong tâm thức của ngƣời Việt, gia
24
25
công nhận. Quan hệ hôn nhân là quan hệ cơ bản của gia đình, tạo nên các mối
quan hệ khác.
- Quan hệ huyết thống: là quan hệ sinh học xã hội giữa cha mẹ và con cái
nảy sinh từ quan hệ hôn nhân, mối quan hệ này tạo nên sự gắn bó giữa cha mẹ và
con cái, giữa anh chị em với nhau.
- Quan hệ pháp lý và tình cảm: là các mối quan hệ đƣợc pháp luật thừa nhận,
công nhận tạo nên trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi thành viên trong gia đình. Đó là
các quyền lợi nghĩa vụ về vật chất và tinh thần.
* Gia đình truyền thống
Trƣớc khi nói đến khái niệm gia đình truyền thống chúng ta cần hiểu khái
niệm truyền thống nhƣ sau: Truyền thống là quá trình chuyển giao từ thế hệ này
sang thế hệ khác những yếu tố xã hội và văn hóa, những tƣ tƣởng, chuẩn mực xã
hội, phong tục, tập quán, nghi lễ… và đƣợc duy trì trong các tầng lớp xã hội và giai
cấp trong một thời gian dài. Truyền thống là cốt lõi, là bộ phận bền vững nhất của
văn hóa tộc ngƣời [95, tr.630].
Trong quá trình phát triển, gia đình Việt Nam chịu sự chi phối của các điều
kiện kinh tế, chính trị xã hội và văn hóa của mỗi thời kỳ. Cụm từ gia đình truyền
thống đã đƣợc rất nhiều các học giả trong nƣớc nhắc đến song việc xác định thế nào
là gia đình truyền thống Việt Nam lại có nhiều ý kiến khác nhau. Cũng có thể cho
rằng gia đình truyền thống gắn với loại hình gia đình trƣớc năm 1945, gia đình gắn
với xã hội nông thôn nông nghiệp thuần tuý, chịu sự tác động ảnh hƣởng của tƣ
tƣởng phong kiến, của nho giáo. Nhƣng cũng có ý kiến cho rằng cho đến khi Việt
Nam thực hiện công cuộc đổi toàn diện, sau năm 1986, gia đình truyền thống Việt
Nam mới có bƣớc thay đổi thực sự.
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, khái niệm gia đình truyền thống mà
luận án sử dụng chính là gia đình truyền thống Việt Nam trƣớc năm 1986. Đó là