VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THU LAN
THỰC HIỆN CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG NAFTA
CỦA MEXICO VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THU LAN
THỰC HIỆN CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG NAFTA
CỦA MEXICO VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Ngành
: Kinh tế quốc tế
Mã số
: 9310106
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
hơn về hướng nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và tính khoa học của Luận án, và
thực sự tôi đã học được rất nhiều trong quá trình nghiên cứu luận án tiến sĩ này.
Xin cám ơn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Viện Công nhân và Công
đoàn đã ủng hộ và tạo điều kiện để tôi tham gia chương trình nghiên cứu sinh tại
Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).
Cám ơn gia đình và các bạn cùng khóa đã động viên, khích lệ và cùng với tôi
trong quá trình học để hoàn thành Luận án này.
Hà Nội, ngày …. tháng …. năm 2019
Tác giả luận án
Phạm Thị Thu Lan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN............................................................................................................................. 7
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc..................................................................................... 7
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc................................................................................... 18
1.3. Nhận định tình hình nghiên cứu...................................................................................... 21
Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CAM KẾT LAO ĐỘNG
TRONG HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO................................................................ 24
2.1. Cam kết về lao động và đặc điểm của tiêu chuẩn lao động theo cam kết
trong các hiệp định thƣơng mại tự do................................................................................... 24
2.1.1. Các khái niệm.................................................................................................................. 24
2.1.2. Nội dung cam kết về lao động trong hiệp định thương mại tự do..............26
2.1.3. Đặc điểm của tiêu chuẩn lao động theo cam kết trong hiệp định
thương mại tự do........................................................................................................................ 28
2.2. Tiêu chuẩn lao động với lợi thế so sánh quốc gia..................................................... 33
2.2.1. Mối quan hệ giữa tiêu chuẩn lao động và hiệu quả kinh tế........................... 33
3.4.3. Đối mặt với nhiều khiếu nại quốc tế: thách thức lợi ích quốc gia...............96
3.4.4. Đối mặt với sức ép xuyên quốc gia về tiêu chuẩn lao động: ảnh
hưởng uy tín và hình ảnh trên trường quốc tế.............................................................. 100
3.4.5. Thực hiện tiêu chuẩn lao động không tốt: nguy cơ bất ổn xã hội và
chính trị....................................................................................................................................... 102
3.4.6. Đàm phán lại NAFTA: ảnh hưởng tới tương lai phát triển của Mexico 103
3.5. Một số lý do Mexico vẫn cạnh tranh bằng tiêu chuẩn lao động thấp.........104
Chƣơng 4: HÀM Ý VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG THỰC
HIỆN CAM KẾT LAO ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƢƠNG
MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI............................................................................................. 111
4.1. Bối cảnh Việt Nam so sánh với Mexico...................................................................... 111
4.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay..................................................... 111
4.1.2 Cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới . 113
4.1.3. Thực tiễn thực hiện cam kết lao động của Việt Nam.................................... 116
4.1.4. Những thách thức thực hiện cam kết lao động của Việt Nam....................124
4.1.5. Điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Mexico liên quan
tới thực hiện cam kết về lao động..................................................................................... 129
4.2. Một số bài học kinh nghiệm Mexico............................................................................ 132
4.2.1. Bài học về thực hiện cam kết lao động............................................................... 132
4.2.2. Hàm ý và gợi mở cho Việt Nam từ kinh nghiệm Mexico............................136
4.3. Một số khuyến nghị.............................................................................................................. 142
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 148
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN........................................................................................................................ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................... 151
Asian Nations
Comprehensive
and
Progressive
Trans-Parcific
Partnership
Industry 4.0
Tiếng Việt
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu
Á – Thái Bình Dương
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á
Hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương toàn diện và tiến
bộ
Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư
European
Vietnam
Free Hiệp định thương mại tự do
Trade Agreement
Việt Nam – Liên minh châu Âu
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
Gross Domestic Products
Tổng sản phẩm quốc nội
International
Labour Tổ chức Lao động Quốc tế
Human Rights
quyền con người
United States
Mỹ
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Các cấp thương lượng tập thể................................................................ 29
Hình 2.2: Số lượng FTA có và không có quy định về lao động.............................52
Hình 2.3: Tỷ lệ FTA có quy định về lao động trong tổng số FTA.......................... 53
Hình 2.4: Các cơ chế thực hiện cam kết về lao động trong các FTA.....................53
Hình 3.1: Các mốc đàm phán NAFTA-NAALC.................................................... 71
Hình 3.2: Quy trình giải quyết khiếu nại của Hiệp định NAFTA..........................74
Hình 3.3: Tăng trưởng kinh tế Mexico, giai đoạn 1990 – 2011.............................85
Hình 3.4: Xu hướng năng suất lao động của Mexico năm 2001 đến 2016............86
Hình 3.5: Dòng FDI đầu tư vào Mexico và tỷ lệ % trong GDP............................. 87
Hình 3.6: Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Mexico..................................................... 87
Hình 3.7: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Canada với Mexico.............................88
Hình 3.8: Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Mexico.......................................... 88
Hình 3.9: So sánh xuất khẩu giữa Mexico và Mỹ.................................................. 89
Hình 3.10: Thị phần trong tổng thương mại của Mexico với Mỹ..........................89
Hình 3.11: Chỉ số năng suất lao động và lương thực tế ở Mexico.........................90
Hình 4.1: Tiền lương cơ bản của lao động trong các ngành nghề........................125
DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 2.1: Thang đánh giá mức độ đảm bảo quyền lao động đối với các quốc gia
Bên cạnh việc tuân thủ cam kết về lao động trong FTA, thực hiện TCLĐ cũng
xuất phát yêu cầu nội tại của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mặc
dù vượt qua ngưỡng các quốc gia có thu nhập thấp, song Việt Nam vẫn thuộc nhóm
nước thu nhập trung bình thấp. Nhiều hộ dân đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập
vẫn nằm cận nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn; tỷ lệ tái nghèo còn
cao. Hơn nữa, đói nghèo còn đồng nghĩa với tình trạng bị khước từ các quyền cơ
bản của con người, bị đẩy ra lề xã hội, không được đảm bảo các quyền như: quyền
được hưởng mức sống phù hợp, đặc biệt về thực phẩm, quần áo và nhà ở, quyền an
sinh xã hội, tiếp cận các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin,
quyền được đối thoại, thương lượng và tham gia quyết định các vấn đề liên quan tới
việc làm, tiền lương, điều kiện làm việc… Thực hiện đầy đủ TCLĐ sẽ giúp Việt
Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và đóng góp cho phát triển toàn diện,
cân bằng và tăng trưởng bao trùm. Xuất phát từ cả yêu cầu của hội nhập quốc tế và
nhu cầu phát triển trong nước, luận án giúp Việt Nam hình dung và lựa chọn hướng
đi phù hợp trong giai đoạn hội nhập tới.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu kinh nghiệm một nước đang phát
triển đầu tiên trên thế giới tham gia FTA có cam kết về lao động để rút ra bài học
cho Việt Nam trong thực hiện cam kết về lao động trong CPTPP và EVFTA.
Nhiệm vụ nghiên cứu : Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là: (i) hệ thống hóa
cơ sở lý luận về thực hiện cam kết lao động trong FTA, làm rõ tiêu chuẩn lao động
và lợi thế so sánh trong khuôn khổ cam kết FTA, những cơ hội và thách thức đặt ra
đối với các quốc gia đang phát triển; (ii) phân tích và đánh giá thực hiện cam kết về
lao động trong NAFTA của Mexico, làm rõ những thành công và hạn chế của việc
thực hiện và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng này; (iii) so sánh sự tương đồng và
2
khác biệt giữa Việt Nam và Mexico, từ đó rút ra các bài học và khuyến nghị cho
3
đề nội bộ quốc gia), bởi vì mỗi TCLĐ là một nội dung rất rộng, bao trùm mọi khía
cạnh của việc thực hiện liên quan tới quan điểm thực hiện, sự tranh luận và đấu
tranh giữa các đảng phái và các bên quan hệ lao động, sự thay đổi thể chế chính trị,
quá trình xây dựng pháp luật trong nước và quá trình thực thi TCLĐ liên quan tới
hòa giải, trọng tài, tòa án, thanh tra lao động,…xử lý các vụ việc phát sinh, khiếu
nại, khiếu kiện trong nước,…, chưa nói tới tham nhũng và xét xử không công bằng,
vì vậy nếu đi sâu phân tích, có thể vượt ra ngoài phạm vi đề tài luận án (tức là ngoài
khuôn khổ NAFTA).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau để làm rõ các
vấn đề nghiên cứu trong phạm vi Luận án.
Phương pháp nghiên cứu kinh tế học: Luận án dựa vào các lý thuyết về tự do
thương mại của Adam Smith, David Ricardo, Heckscher – Ohlin, các lý thuyết kinh
tế như: kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô,…, dựa trên các quy luật kinh tế như
quy luật cung – cầu, cạnh tranh, phân phối thu nhập theo lao động, chi phí cơ hội và
hiệu quả, sự chuyên môn hóa, các nhóm lao động và lợi ích từ thương mại,… để
phân tích.
Phương pháp hồi cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp: Luận án phân tích
tư liệu từ đa dạng các nguồn tài liệu tin cậy của các học giả có uy tín; kế thừa các
nghiên cứu đã có; so sánh, đánh giá, hệ thống hóa các luận điểm và vấn đề về
Mexico, đúc kết thực tiễn Mexico để rút ra các kết luận của Luận án.
Phương pháp phân tích, so sánh: Luận án đánh giá thực tiễn Mexico, so sánh
với bối cảnh Việt Nam, phân tích xu hướng phát triển, các vấn đề và đúc kết bài học
đối với Việt Nam trong lựa chọn con đường phát triển và thực hiện cam kết về lao
động trong FTA.
Phương pháp khảo sát và phương pháp chuyên gia: Luận án đánh giá tình
đang phát triển trong bối cảnh tham gia FTA nếu không chuyển đổi sang thực hiện
TCLĐ cao.
Luận án phân tích và chứng minh thực trạng thực hiện cam kết về lao động
của Mexico trong NAFTA; đánh giá những mặt được và chưa được; tìm hiểu các lý
do mà Mexico (và một số nước khác) vẫn còn cạnh tranh bằng TCLĐ thấp.
Từ thực tiễn thực hiện cam kết về lao động trong NAFTA của Mexico, trên
quan điểm thực hiện cam kết trong các FTA thế hệ mới của Việt Nam, Luận án phân
tích thực tiễn lao động ở Việt Nam, so sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt
Nam và Mexico, rút ra bài học để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết về lao
5
động nhằm tạo lợi thế so sánh cho nền kinh tế quốc gia trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế với các yếu tố cạnh tranh thay đổi, không chỉ cạnh tranh bằng giá mà
còn cạnh tranh bằng đảm bảo TCLĐ.
Để phát huy lợi thế của tiêu chuẩn lao động cao cho phát triển kinh tế, Luận án
đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp trước mắt, thiết thực và có tính khả thi cao
để Việt Nam chuyển đổi sang áp dụng tiêu chuẩn lao động cao một cách bền vững.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án có ý nghĩa lý luận, làm rõ mối quan hệ giữa TCLĐ và hiệu quả kinh
tế, mối quan hệ giữa TCLĐ và lợi thế cạnh tranh, tầm quan trọng của TCLĐ trong
nền kinh tế toàn cầu thông qua hội nhập FTA, tầm quan trọng của lựa chọn quan
điểm và mô hình phát triển trong giai đoạn hiện nay và sự cần thiết chuyển từ cạnh
tranh bằng TCLĐ thấp sang cạnh tranh bằng TCLĐ cao.
Luận án có ý nghĩa thực tiễn, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước
trong việc hoạch định chính sách liên quan tới lĩnh vực lao động và kinh tế, mô hình
phát triển để hội nhập hiệu quả hơn trong nền kinh tế toàn cầu. Luận án giúp các
bên hình dung những cơ hội và thách thức đặt ra của việc tham gia các FTA có cam
kết về lao động, lựa chọn cách thức thực hiện cam kết về lao động để tận dụng tối
với tư cách là tổ chức xác lập ra các TCLĐ quốc tế và các ấn phẩm xuất bản của
ILO về tất cả các TCLĐ quốc tế được xác lập từ khi ILO ra đời (1919) cho đến nay
[110]. [244], [245], [246]. Có rất nhiều các nghiên cứu về việc thực hiện các TCLĐ,
trong đó đề cập đầy đủ các khía cạnh như: việc sửa đổi pháp luật lao động quốc gia
cho phù hợp với TCLĐ [170], [87]; các nước có xu hướng phê chuẩn những TCLĐ
đã tương thích với pháp luật trong nước [87], [88]; và ngay cả như vậy, các nghiên
cứu đều khẳng định: giữa phê chuẩn với thực tiễn thực hiện vẫn còn là một khoảng
cách [151], [174]; trong đó lý do chính được nêu ra là: (i) do thiếu ý chí chính trị
của các quốc gia liên quan [107], [97], đặc biệt tại các nước đang phát triển [198];
hoặc (ii) do lo ngại ảnh hưởng tới thu hút đầu tư [174]; hay (iii) lo ngại ảnh hưởng
tới chủ quyền quốc gia [134]. Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, việc thực thi
TCLĐ chỉ mang tính chiếu lệ và các vi phạm TCLĐ diễn ra khá phổ biến trên phạm
vi toàn thế giới [118].
Nguồn tài liệu về Mexico liên quan tới thực hiện TCLĐ ở Mexico khá nhiều
[240], [242], [243], [249], [255], [257], [260], [262],… Nội dung các cam kết về
7
lao động trong NAFTA chủ yếu dựa vào các TCLĐ quốc tế. Các cam kết về lao
động và cơ chế thực thi các cam kết có thể được phân tích từ chính nội dung của
NAFTA [145].
Các nghiên cứu về lý thuyết tự do thương mại của Adam Smith, Ricarrdo,
Heckscher-Ohlin đều khẳng định vai trò của TCLĐ trong việc tạo ra lợi thế so sánh
quốc gia liên quan tới năng suất lao động, nguồn lao động, số lượng và chất lượng
lao động, môi trường và hiệu quả áp dụng TCLĐ,… [43], [108], [220], [267]. Nhiều
nghiên cứu thực nghiệm phân tích về TCLĐ thấp và TCLĐ cao tác động tới quốc
gia, đem lại cả lợi ích cũng như bất lợi cho quốc gia như thế nào [33], [39], [43],
[55], [97], [159], [177], [246], ví dụ TCLĐ thấp giúp thu hút đầu tư nhưng lại cản
trở xuất khẩu do đòi hỏi của khách hàng hiện nay về việc thực hiện trách nhiệm xã
cạnh tranh công bằng. Không thể cạnh tranh giữa hàng hóa sản xuất trong điều kiện
lao động thấp với hàng hóa cạnh tranh trong điều kiện lao động cao. Quan điểm thứ
hai xuất phát từ khía cạnh xã hội cho rằng: phát triển kinh tế là vì con người; con
người sản xuất ra của cải vật chất phải được bảo vệ chống lại sự lạm dụng về điều
kiện làm việc và sự bóc lột về tiền lương. Quá trình toàn cầu hóa phải bền vững về
mặt xã hội và phải bảo đảm tự do hóa thương mại đóng góp cải thiện và nâng cao
TCLĐ chứ không bào mòn đi các TCLĐ [109].
Các nhóm ủng hộ gắn lao động với thương mại thường là những người hoạt
động trong lĩnh vực lao động, xã hội và công đoàn ở các nước phát triển trước đây
cho đến ngày nay, và cả ở các nước đang phát triển hiện nay. Mong muốn của họ là
thực hiện TCLĐ sẽ là liều thuốc bảo vệ “sức khỏe cho người lao động và thúc đẩy
phát triển xã hội. Ý tưởng gắn lao động với thương mại đầu tiên được đề xuất dưới
dạng “Điều khoản xã hội trong khung hiệp định của Tổ chức Thương mại Quốc tế
(WTO) với mong muốn sử dụng cơ chế thực thi chặt chẽ của WTO để thúc đẩy
TCLĐ. Nhiều nghiên cứu khẳng định điều này này, trong đó có nghiên cứu của
Elliott và Freeman [84], Robert và Gerado [165], Robert và Makua [166]. Các nước
phát triển ủng hộ điều này vì mong muốn tạo ra một sân chơi bình đẳng trong nền
kinh tế toàn cầu, ngăn chặn cạnh tranh không bình đẳng bằng TCLĐ thấp, thể hiện ở
các nghiên cứu của Aleo [30], Anurradha và Dutta [31], và Busse[56].
Tuy nhiên, WTO không đạt được đồng thuận về vấn đề này bởi có quá nhiều ý
kiến khác nhau[128]. Vì vậy, các nước chuyển hướng sang đàm phán các FTA song
9
phương và khu vực, và cuối cùng, ý tưởng này đã thành công thông qua FTA đầu
tiên có cam kết về lao động là NAFTA năm 1994.
Ngược với quan điểm ủng hộ, xuất phát từ khía cạnh hiệu quả kinh tế, các nhà
kinh tế học và giới sử dụng lao động phản đối gắn lao động với thương mại vì lo
ngại điều này làm cản trở thương mại. Rất nhiều nghiên cứu đề cập tới luận điểm
tiêu phát triển bền vững [39], [89].
Nghiên cứu về thực hiện cam kết lao động trong FTA
Có hai bước thực hiện cam kết về lao động trong FTA nối tiếp nhau: (1) sửa đổi
pháp luật lao động quốc gia cho phù hợp với TCLĐ đã cam kết trong FTA; và (2) thực
hiện các TCLĐ trong thực tiễn một cách hiệu quả, không để xảy ra vi phạm. Tuy nhiên,
nhiều nước đang phát triển thường chậm chạp trong việc sửa đổi pháp luật, kéo theo
việc chậm chạp trong thực thi các TCLĐ sau khi FTA có hiệu lực [109]. Cho nên, từ thế
hệ FTA đầu tiên có cam kết về lao động là NAFTA, qua nhiều thế hệ FTA, cho đến nay,
là FTA “thế hệ mới , có 3 hình thức buộc các nước phải thực hiện:
Thứ nhất, áp đặt điều iện trước hi phê chuẩn : thường xảy ra đối với các hiệp
định ký với Mỹ và liên quan tới việc sửa đổi pháp luật [109]. Do đặc điểm chính trị
nước Mỹ, các hiệp định phải qua một quy trình phê chuẩn trước khi thực hiện. Việc
phê chuẩn này thường gặp khó khăn do áp lực của các tổ chức xã hội dân sự. Vì
vậy, để được phê chuẩn, Mỹ yêu cầu các nước muốn tham gia FTA với Mỹ phải tiến
hành một số cải cách pháp luật lao động trong nước trước, làm cơ sở để phê chuẩn
FTA. Thông thường các nước đang phát triển muốn tham gia FTA với Mỹ đều phải
chấp nhận điều này [109]. Cách áp đặt điều kiện thực thi này đến nay khá thông
dụng trong quan hệ thương mại của Mỹ với các nước đang phát triển như: FTA với
Morocco năm 2006, FTA với Pêru năm 2009, với Colombia năm 2012 và với
Panama năm 2013 [109]. Morocco buộc phải tăng cường các quy định kiểm soát
hành vi phân biệt đối xử đối với công đoàn; Peru buộc phải mở rộng thẩm quyền
của thanh tra lao động được quyền xử phạt các trường hợp sử dụng lao động hợp
đồng phụ hay thuê ngoài lao động không đúng quy định pháp luật; Panama buộc
phải cải cách pháp luật lao động cho phép quyền tự do hiệp hội và tăng cường bảo
vệ người lao động có hợp đồng ngắn hạn [109].
Trong nhiều trường hợp, các TCLĐ được cải thiện ở các nước đang phát triển
là do tác động của xã hội dân sự. Điều này xảy ra đối với hầu như tất cả các hiệp
định của Mỹ [109].
n x hội n sự – diễn đàn mở - cũng được tổ chức để tham vấn ý kiến rộng rãi về thực
hiện các cam kết. Thêm nữa, Ủy ban châu Âu có áo cáo h ng n m về việc thực hiện
và kết quả của hiệp định [109].
Thứ ba, thông qua cơ chế hiếu nại. Cơ chế khiếu nại được áp dụng trong các
trường hợp như Guatemala, Bahrain, Cộng hòa Dominica và Honduras,… (xem phụ
lục 4.1). Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có khiếu nại nào đi đến bước cuối cùng của
quy trình giải quyết tranh chấp là đưa ra phán quyết của trọng tài với trừng phạt
thương mại [109].
12
NAFTA là FTA thế hệ đầu tiên có cam kết về lao động nên các vi phạm về
thương mại và vi phạm về lao động có cơ chế thực thi riêng, khác với các FTA thế
hệ mới hiện nay có cùng cơ chế thực thi như nhau đối với các vi phạm về thương
mại và lao động. Điều này cho thấy tầm quan trọng của các TCLĐ trong nền kinh tế
toàn cầu hiện nay. Trong khuôn khổ NAFTA giải quyết các vi phạm về lao động, đa
số các khiếu nại đối với Mexico đều liên quan tới quyền tự do hiệp hội, cụ thể là
việc thành lập công đoàn ở Mexico; có rất ít các khiếu nại về TCLĐ cụ thể như an
toàn vệ sinh lao động, điều kiện làm việc tối thiểu hay các lý do khác. Cùng với các
thông tin khác, luận án sẽ nghiên cứu tình huống của một số khiếu nại cụ thể để
đánh giá tác động của quá trình khiếu nại đối với Mexico cũng như đánh giá việc
thực hiện cam kết về lao động trong NAFTA của Mexico [109].
Nghiên cứu về tình hình thực hiện tiêu chuẩn lao động ở Mexico
Tình hình ở Mexico cho thấy mặc dù quy định pháp luật Mexico khá tốt và
tương thích với các TCLĐ theo cam kết trong NAFTA, song trong thực tiễn, có
nhiều vấn đề nảy sinh liên quan tới thực hiện TCLĐ. Sự vi phạm TCLĐ về tự do
hiệp hội và thương lượng tập thể khá nghiêm trọng, với nhiều vụ việc cản trở quyền
thành lập công đoàn, cản trở thương lượng tập thể, đe dọa cán bộ công đoàn, dùng
bạo lực tấn công công đoàn, thậm chí nhiều đoàn viên công đoàn và cán bộ công
vấn đề lao động khẳng định tự do hóa thương mại làm tăng hay giảm việc làm ở cấp
độ toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia còn tùy thuộc vào việc quốc gia đó tham
gia FTA có tận dụng được lợi thế xuất khẩu hay cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài
hay không [109]. Xét từ góc độ ngành nghề, về lý thuyết, khi thuế quan về 0 và các
rào cản xuất khẩu được dỡ bỏ, việc làm các ngành xuất khẩu thường gia tăng, trong
khi việc làm các ngành nhập khẩu thường bị ảnh hưởng. ILO phối hợp với Liên
minh châu Âu tiến hành một nghiên cứu đánh giá toàn diện kèm theo các bằng
chứng về tác động của thương mại đối với việc làm, tiến hành trong giai đoạn 20112013 và kết quả cũng đa dạng, tăng và giảm, ở các nước khác nhau và các ngành
nghề khác nhau [109].
Đối với trường hợp Mexico trong NAFTA, tác giả luận án nhận thấy các
nghiên cứu khác nhau cũng cho các kết quả khác nhau, tùy vào ngành nghề, lĩnh
vực nghiên cứu hay mục tiêu nghiên cứu. Nghiên cứu của Samira và Faina cho thấy
việc làm ở Mexico giảm do tác động của NAFTA [171] song nghiên cứu của
McBridge và Ủy ban tư vấn lao động phía Mỹ lại cho thấy kết quả ngược lại, tức là
việc làm tổng thể tăng, nhưng khẳng định việc làm giảm trong ngành này và tăng
14
trong ngành khác, và tỷ lệ việc làm tạo ra mới cao hơn tỷ lệ việc làm mất đi [131],
[139]. Tuy nhiên, trong ngành nông nghiệp, đa số các nghiên cứu đều khẳng định
việc làm nông nghiệp của Mexico giảm do không cạnh tranh được với nông nghiệp
được bao cấp của Mỹ [57], [135], [165]. Tuy nhiên, xét giữa được và mất về tổng
thể, đa số các nghiên cứu đểu khẳng định: đối với Mexico dưới thời NAFTA, xét về
khía cạnh kinh tế, tác động tích cực nhiều hơn tác động tiêu cực [32], [92], [165],
[240], đặc biệt nhấn mạnh tới tác động cải cách kinh tế và sửa đổi pháp luật tăng
tính cạnh tranh cho nền kinh tế, tăng năng suất, giúp Mexico xích gần hơn với trình
độ phát triển của Mỹ và Ca-na-đa [32], [162], [240].
Bên cạnh các đánh giá tích cực, cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy các tác
động tiêu cực của tự do hóa thương mại ở Mexico như gia tăng bất bình đẳng [133],