ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SỬ
----------
ĐOÀN THỊ KIM ANH
Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển
các loại hình du lịch ở Thành phố Cam Ranh –
tỉnh Khánh Hòa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tất
yếu của xã hội. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch không những là ngành
kinh tế mũi nhọn mà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các
miền trong một nước. Du lịch ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể
thiếu trong đời sống xã hội, làm cho đời sống xã hội ngày một phong phú hơn,
lý thú, và bổ ích hơn. Về phương diện kinh tế, nó đóng góp không nhỏ trong thu
nhập kinh tế quốc dân, góp phần phát triển kinh tế ở vùng chậm phát triển, giúp
xóa đói, giảm nghèo các vùng sâu vùng xa. Về phương diện xã hội, du lịch có
vai trò trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì vậy mà
du lịch trở thành ngành kinh tế không thể thiếu trong chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia.
Trên thế giới, du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói” được
nhiều nước quan tâm và được xem là ngành kinh tế đóng góp rất lớn vào thu
của quê hương Cam Ranh, cũng muốn góp một phần công sức của mình cho sự
phát triển của du lịch địa phương, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tiềm năng, thực
trạng và giải pháp phát triển các loại hình du lịch ở Thành phố Cam Ranh –
tỉnh Khánh Hòa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
3
2. Lịch sử vấn đề
Trong thời gian gần đây, khi mà du lịch có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế thì du lịch trên phạm vi cả nước
được quan tâm nghiên cứu hơn. Trong số đó tiêu biểu là công trình nghiên cứu của
Nguyễn Trần Cầu, Phạm Trung Lương “Đánh giá tài nguyên và tổ chúc lãnh thổ du
lịch Việt Nam ”. Công trình đã dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận chung của tổ
chức lãnh thổ du lịch bằng việc nghiên cứu các vấn đề như: Tổ chức lãnh thổ du
lịch, phân vùng du lịch, hệ thống phạm vi trong phân vùng, phạm vi phân vùng du
lịch, xây dựng các tuyến điểm du lịch.
Xét trên phạm vi tỉnh Khánh Hòa cho đến nay những công trình nghiên cứu về
du lịch có nhiều nhưng chỉ tập trung phát triển nghiên cứu ở các di tích trong tỉnh
Khánh Hòa, còn các công trình nghiên cứu về du lịch ở các địa phương khác thì ít
được quan tâm. Xin được nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biêu đã được thực
hiện:
- “Việt Nam Non Nước Xanh Biếc” của Hoàng Thiếu Sơn và Tạ Thị Bảo Kim
(2008) . Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu về các tiềm năng của du lịch
tỉnh Khánh Hòa, trong đó có các điểm du lịch ở Thành phố Cam Ranh như: Vịnh
Cam Ranh, Chùa Từ Vân...
- Cuốn: “Địa Danh Khánh Hòa Xưa và Nay” của Ngô Văn Ban (2010), tác giả
đã giới thiệu một số địa danh nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa . Trong đó có vài nét về
lịch sử hình thành và các điểm du lịch ở Cam Ranh như: Nhà Lao Cam Ranh, Chùa
Từ Vân, Bãi Dài, Đá Bạc, Bán Đảo Cam Ranh…
Ranh phục vụ cho du lịch.
4.2. Phạm vị nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này tôi xác định phạm vi nghiên cứu về mặt không gian là
Thành phố Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa. Về mặt thời gian là hiện trạng khai
thác, tiềm năng du lịch của địa bàn Cam Ranh từ 2001 – 2010.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
-
Tư liệu thành văn
+ Sách chuyên ngành
+ Các bài viết về du lịch được đăng tải trên tạp chí.
5
- Tài liệu thực địa: Thông qua việc tiếp xúc với thực tế, khảo sát, chụp ảnh,
phỏng vấn, chúng tôi đánh giá chính xác và sâu sắc hơn những vấn đề có liên quan
đến đề tài.
- Tài liệu trên Internet.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nội dung nghiên cứu, những phương pháp chủ
yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài là:
5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu,
nội dung của phương pháp này chủ yếu là thu thập các thông tin, sau đó xử lý và
phân tích các thông tin đó để tìm ra các thông tin cần thiết phục vụ cho việc
khác trong nước) và liên kết với các tuyến du lịch quốc tế dựa trên hệ thống các
bản đồ
5.2.4 Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống cho phép tìm kiếm và nêu bật
được các đối tượng nghiên cứu, thu thập và phân tích các thông tin ban đầu,
vạch ra các hướng nghiên cứu.
Trong nội dung nghiên cứu cụ thể của đề tài, phương pháp phân tích hệ
thống được áp dụng nhằm mục đích nghiên cứu tác động qua lại giữa các yếu tố
ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói chung và ảnh hưởng đến quá trình dự
báo, định hướng qui hoạch phát triển du lịch ở Cam Ranh.
6. Đóng góp đề tài
Thành phố Cam Ranh vốn là vùng đất giàu tiềm năng về du lịch, đặc biệt là du
lịch biển, nhưng chưa được đầu tư nhiều để khai thác đúng mức. Thực hiện đề tài
này, chúng tôi đánh giá tiềm năng, thực trạng du lịch ở TP Cam Ranh và đưa ra một
số giải pháp để phát triển du lịch tại TP Cam Ranh trong tương lai. Kết quả nghiên
cứu là tư liệu cần thiết cho nhưng ai quan tâm.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu
gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch
Chương 2:Thực trạng phát triển du lịch tại TP Cam Ranh- tỉnh Khánh Hòa giai
đoạn (2001- 2010)
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch tại TP Cam Ranh- tỉnh Khánh Hòa
7
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch
1.1. Một số khái niệm chung
+ Du lịch môi trường
+ Du lịch đặc thù
+ Du lịch xanh
+ Du lịch thám hiểm
+ Du lịch bản xứ
+ Du lịch có trách nhiệm
+ Du lịch nhạy cảm
+ Du lịch nhà tranh
+ Du lịch bền vững
- Du lịch văn hóa
Phân loại căn cứ vào phạm vi lãnh thổ:
- Du lịch quốc tế
- Du lịch nội điạ
Phân loại căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách
- Du lịch chữa bệnh
- Du lịch nghỉ ngơi giải trí
- Du lịch thể thao
- Du lịch công vụ
- Du lịch tôn giáo
- Du lịch khám phá
- Du lịch thăm hỏi
- Du lịch quá cảnh
Phân loại căn cứ vào phương tiện giao thông
- Du lịch bằng xe đạp
- Du lịch tàu hỏa
- Du lịch tàu biển
- Du lịch ô tô
- Du lịch hàng không
Phân loại căn cứ theo phương tiện lưu trú
- Du lịch ở khách sạn
Sự phát triển du lịch còn tạo điều kiện tăng cường thu hút vốn đầu tư (trong và
ngoài nước), tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng
thị trường (qua việc quảng bá sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước thông qua
khách du lịch).
10
Đồng thời, hoạt động du lịch góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của một vùng lãnh thổ, ngành, thành phần kinh tế, góp phàn cân bằng cán
cân thanh toán quốc tế,…
1.2.2 Vai trò của du lịch đối với xã hội
Đối với xã hội, hoạt động du lịch có những tác động tích cực như nâng cao
sức khỏe và sự hiểu biết của dân chúng, tăng thêm sự đoàn kết và thân ái giữa
các cộng đồng dân cư, giáo dục tinh thần yêu nước, giáo dục ý thức bảo tồn các
giá trị văn hóa bản địa,…
Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tiêu cực như tạo ra các xung đột xã
hội (do sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ chính trị giữa du khách và
dân cư bản địa), các giá trị văn hóa bản địa bị thương mại hóa, ảnh hưởng văn
hóa lai căng,…
1.3. Những yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch
1.3.1. Nguồn tài nguyên
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du
lịch. Tài nguyên nghĩa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được khai thác
và ohục vụ cho mục đích phát triển nào đó của con người. Theo Buchvakop –
Nhà địa lý học người Bungari “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và
những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên cùng cảnh quan nhân văn có
thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham
quan của khách du lịch”. Xét dưới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân
thành hai bộ phận hợp thành: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
gia đó để đưa ra chính sách phù hợp.
Những biện pháp để thúc đẩy du lịch Việt Nam được Đảng và Nhà nước đề
ra ở Đại Hội VIII:
“Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam tương xứng với
tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, du lịch môi trường
sinh thái. Xây dựng các chương trình và điểm hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử
và danh lam thắng cảnh. Huy động nguồn nhân lực của nhân dân tham gia kinh
doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng ở những khu du lịch, tập trung ở
những trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hoá và chất lượng dịch vụ với các
loại khách khác nhau .Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước đầu tư vào
khách sạn, chuyển các nhà nghỉ, nhà khách từ cơ chế bao cấp sang kinh doanh
khách sạn và du lịch.”
Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực của thủ tục visa trên lượng du khách,
chính phủ Việt Nam đã sớm có sáng kiến về visa như từ tháng 1/2004 bãi bỏ thị
nhập cảnh cho du khách Nhật đến Việt Nam từ 15 ngày trở xuống.Tháng
12
7/2004, sáng kiến này cũng được áp dụng với du khách Hàn Quốc. Các nước
Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Inđonesa, Philippines, Singapore và Lào
cũng có các thỏa hiệp visa với Viêt Nam.
Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch Việt Nam là chính sách dài hạn của
Tổng cuc Du lịch Viêt Nam. Từ năm 1995, chính phủ đã chuẩn bị kế hoạch lớn
thời kì 1995 – 2010 nhằm phát triển du lịch, biến du lịch thành cánh tay đắc lực
mang lại ngoại tệ và công ăn việc làm cho người dân đồng thời giới thiệu phong
cảnh, văn hoá và con người Việt Nam với du khách nước ngoài. Năm 2000 kế
hoạch được bổ sung và chỉnh sửa. Theo kế hoạch, kỹ nghệ du lịch Việt Nam sẽ
thu hút đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng và phục vụ du khách đi kèm với việc
phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc Việt Nam.
Trung Quốc và Việt Nam và gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thế giới.
Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch. Nhật Bản là đất
nước giàu và đẹp nhưng luôn phải hứng chịu những trận động đất, gây khó khă
cho phát triển du lịch, có chăng chỉ phát triển du lich bị động. Vào những ngày
cuới năm 2004, một trận sóng thần lớn nhất từ trước tới nay xảy ra ở Đông Nam
Á, Nam Á đã gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển du lịch. Điều đáng nói là sóng thần đã làm cho nhiều du khách bị thiệt
mạng, cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch bi huỷ hoại nặng nề. Bên cạnh đó
là sự phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh như tả lỵ, dịch hạch sốt rét.
Từ những ví dụ trên cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của an ninh
chính trị, an toàn xã hội cho khách du lịch, và là nhân tố quan trọng tạo nên sự
thành bại của ngành du lịch
1.3.4 Yếu tố kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát
triển du lịch là điều kiện kinh tế chung. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đê cho
sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch. Theo ý kiến của các chuyên gia
kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có
thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn
số của cải vật chất cần thiết cho du lịch.
Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có ý nghĩa quan
trọng với phát triển du lịch. Đây là cơ sở cung ứng nhiều hàng hoá nhất cho du
lịch. Ngành công nghiệp dệt cung cấp cho các xí nghiệp du lịch các loại vải để
trang bị phòng khách, các loại khăn trải bàn, ga giường. Ngành công nghiệp chế
biến gỗ trang bị đồ gỗ cho các văn phòng, cơ sở lưu trú.
Khi nói đến nền kinh tế của đất nước, không thể không nói đến giao thông
vận tải. Từ xa xưa, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính
cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Giao thông vận tải ảnh
14
nghệ, ngành sản xuất đồ dùng thì hoạt động kinh doanh của nó liệu có tồn tại
không? Từ những ví dụ trên chúng ta khẳng định điều kiện kinh tế là một trong
những nhân tố tiên quyết quyết định sự thành bại tong kinh doanh khách sạn.
15
Ngành du lịch chỉ phát triển khi có khách du lịch. Nhân tố hình thành nên
khách du lịch bao gồm thời gian rỗi, đông cơ – nhu cầu đi du lich, khả năng tài
chính. Chúng ta thấy rằng khả năng tài chính của cá nhân mỗi du khách đóng vai
trò rất quan trong trong việc thúc đẩy bước chân của du khach tham gia cuộc hành
trình. Nếu như sau thế chiến II, mục tiêu của con người là kiến thiết lại nền kinh tế
đã bị kiệt quệ với nhu cầu chính là cơm ăn, áo mặc, nhà ở. Do đời sống còn thiếu
thốn nên nhu cầu du lịch xuất hiện. Trong những năm gần đây, có sư bùng nổ về
du lịch thế giới, người ta ước tính rằng có khoảng 3 tỷ lượt khách du lich nội địa
và 750 triệu lượt khách du lịch quốc tề. Điều này co nghĩa là khi nền kinh tế phát
triển, đời sống con người được nâng cao, các nhu cầu hàng ngày được đáp ứng thì
con người xuất hiện những nhu cầu cao hơn trong đó có nhu cầu du lịch. Như vậy
điều kiện kinh tế phát triển là cơ sở để ngành du lịch khai thác kinh doanh các
nguồn khách khác nhau.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giữa kinh tế và du lịch luôn có mối quan hệ
nghịch thuận tức là hoăc là kìm hãm, hoăc là thúc đẩy nhau phát triển. Cuộc
khủng hoảng kinh tế xuất phát từ Mỹ lan sang hầu hết các quốc gia trên thế giới
đã kiến cho nhiều ngành kinh tế rơi vào hoàn cảnh “đêm tối không có đường ra”,
trong đó có ngành du lịch. Cuôc khủng hoảng kinh tê khiến không ít doanh nghiệp
du lịch phá sản, nhiều điểm du lịch, khu du lịch, các cơ sở lưu trú vắng khách.
Nguồn thu từ du lịch thấp. Hậu quả là lương người lao động thấp, chán nản, bỏ
việc, mức sống của con người giảm. Vì thế nhu cầu du lịch của con người chạy về
theo hướng số không.
Ngày nay, xu thế thế giới là toàn cầu hóa. Từng dòng tư bản và trí thức có
tư xây dựng. Đó là cơ sở để chúng ta có cơ sở và đảm bảo khả năng khai thác và
đón tiếp nguồn khách quốc tế tới tham quan.
Điều kiện kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển du lịch.
Điều này cũng đòi hỏi ngành du lịch trong qua trình phát triển của mình phải
quảng bá, góp phần xây dựng kinh tế. Có như vậy mối quan hệ tác động qua lại
lẫn nhau mới bền vững.
1.3.5 Yếu tố văn hóa
Trình độ văn hoá cao tạo điều kiên cho việc phát triển du lịch. Phần lớn
những người tham gia vào cuộc hành trình du lịch là những người có trình độ văn
hoá nhất định, nhất là những người đi du lịch nước ngoài. Bởi vì họ có sở thích
(nhu cầu) đối với việc tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, bản sắc
văn hoá dân tộc hay nói đúng hơn tài nguyên, điểm du lịch tác động đến họ theo
một quá trình: Thông tin đến Tiếp xúc đến Nhận thức đến Đánh giá. Phải có trình
độ văn hoá thì mới hiểu hết giá trị của chuyến tham quan du lịch. Trong các nước
17
mà nhân dân có trình độ văn hoá cao thì số người đi du lịch ra ngoài tăng lên
không ngừng với cường độ cao. Bên cạnh độ, trình độ của người dân nước sở tại,
nơi đón khách cũng phải chú ý. Trình độ văn hóa thấp ảnh hưởng đến phát triển
du lịch: Ăn xin, cướp giật, ép khách mua hàng.
Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người
thông qua trí tuệ của mình đưa ra những biện pháp, cách thức để phát triển du lich.
Một quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch nhưng nếu không biết sử dụng trí óc
của con người để phát huy hết giá trị của tài nguyên đó thì coi như “muối bỏ bể”.
Ngược lai có những quốc gia nghèo về tài nguyên du lịch nhưng biết phát huy hợp
lí sẽ thu hút được lượng khách du lịch rất lớn và ngành du lịch sẽ phát triển bền
vững.
Ngày 17/5/1958, theo Nghị định số 216-BNV/NĐ giải thể Nha Đại diện hành
chánh Suối Dầu, xác nhập vào địa hạt Cam Lâm lập thành một quận mới gọi là quận
Cam Lâm, gồm cả vùng bán đảo Cam Ranh và Vịnh Cam Ranh.
Ngày 06/4/1960, theo Sắc lệnh số 84-BNV tách các xã Cam Thọ, Cam Ly, hai
thôn Ma Dú và Sông Cạn (xã Cam Lục), thôn Trại Láng (xã Cam Lương) và một
phần đất thôn Hòa Diêm (xã Cam Lộc) thuộc quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa sáp
nhập vào quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận.
Tháng 10/1965, theo Sắc lệnh số 209-NV, lấy 08 xã của quận Cam Lâm là
Suối Vĩnh, Suối Hòa, Suối Hải, Cam Phúc, Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam
Lộc, thêm núi Hòn Rồng thuộc ấp Văn Thủy Hạ (xã Cam Phú) giáp đường xe lửa
xuyên việt, cùng các phần đất đã sáp nhập vào quận Du Long (tỉnh Ninh Thuận)
trước đó là các thôn Hòa Diêm, Trại Láng, Ma Dú, Sông Cạn, Mỹ Thanh thành lập
thị xã Cam Ranh trực thuộc chính quyền Trung ương Sài Gòn.
Ngày 06/7/1966, theo Nghị định số 620 BNV/NC/NĐ đổi các xã thuộc thị xã
Cam Ranh thành khu phố.
Ngày 20/02/1968 theo Sắc lệnh số 17-SL/NV lấy thêm xã Cam Sơn và một
phần Cam Phú, Cam Thượng của quận Cam Lâm sáp nhập vào thị xã Cam Ranh.
Ngày 07/11/1970 theo Nghị định số 1048-NĐ/NV, thị xã Cam Ranh được chia
tách thành 2 quận là quận Bắc (gồm các khu phố Suối Hòa, Suối Vĩnh, Suối Hải,
Suối Cam) và quận Nam (gồm các khu phố Cam Phúc, Cam Bình, Cam Ranh, Cam
Phú, Cam Lộc, Cam Sơn, Cam Thịnh).
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Cam Ranh là một trong những vị
trí bị quân đội Hoa Kỳ xâm chiếm đầu tiên. Từ năm 1965 - 1972, Mỹ đã xây dựng
Cam Ranh thành một căn cứ quân sự được bảo vệ với tinh thần “bất khả xâm
phạm” làm căn cứ tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế
hành lang phía Tây Thái Bình Dương. Tháng 3/1967, ngụy quyền Sài Gòn đã ký
hiệp định bán đứt cho Mỹ vùng bán đảo và vịnh Cam Ranh trong 99 năm và Mỹ đã
biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á.
Trong chiến dịch Mùa Xuân 1975, ngày 02/4/1975, thành phố Nha Trang được
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cam Ranh tọa lạc ở vị trí địa đầu phía Nam của tỉnh Khánh Hòa,
phía Bắc giáp Thành phố Nha Trang, huyện Cam Lâm và huyện Diên Khánh, phía
Tây giáp huyện Khánh Sơn, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Đông giáp biển.
Thành phố Cam Ranh có 6 xã, 9 phường với diện tích tự nhiên gần 326 km2, có
chiều dài bờ biển trên 25km, chiều ngang rộng nhất 31km, hẹp nhất 3,5km, dân số
trên 130.930 người, mật độ bình quân 400 người/km2, cách Nha Trang khoảng
60km về phía Bắc, cách Phan Rang 40km về phía Nam. Các cơ quan hành chính của
21
Thành phố nằm ngay quốc lộ 1 và ngã ba tỉnh lộ 9 đi Khánh Sơn. Ngoài ra, Cam
Ranh còn có hệ thống giao thông rất thuận lợi: Quốc lộ 1a đi ngang qua trên 40 km,
tỉnh lộ 9, tỉnh lộ 3, tuyến đường sắt Bắc- Nam, ga xe lửa, cảng biển, sân bay quốc tế
Cam Ranh đang từng bước xây dựng và nâng cấp góp phần để Cam Ranh cất cánh
trong thời gian không xa.
Cam Ranh nằm trải dài trên Quốc lộ 1A, nơi có tuyến đường bộ ra Bắc vào
Nam lên Tây Nguyên; cùng với đó là tuyến đường tỉnh lộ, đặc biệt là Đại lộ Nguyễn
Tất Thành nối liền Cam Ranh với Nha Trang và nhiều tuyến đường nội thị khác khá
hoàn thiện. Ngoài ra còn có tuyến đường thuỷ, đường hàng không, đường sắt khá
phong phú và đa dạng. Đi kèm với hệ thống tuyến đường là các cơ sở hạ tầng, bến
cảng, nhà ga, sân bay… cũng rất phong phú và khá thuận lợi trong việc đi lại. Sân
bay Cam Ranh, cảng Cam Ranh là hai thành phần cơ bản trong hệ thống cơ sở hạ
tầng đã được quốc tế biết đến. Tất cả những yếu tố trên đã cất thành nên một mạng
lưới giao thông của thành phố Cam Ranh hết sức đa dạng. Điều đó đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đi lại một cách dễ dàng- người đi lại sẽ có nhiều phương án để
lựa chọn mỗi khi muốn đến nơi này. những vấn đề trên đã chứng minh, thành phố
Cam Ranh đã có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong việc giao thông đi lại- là
Cam Ranh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa
mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12. Thời tiết ở đây quanh chan hoà, trong lành và
dễ chịu. Mùa nắng thời tiết không quá nóng còn mùa mưa không quá lạnh.
2.1.2.4 Nước
Bán đảo Cam Ranh có đường bờ biển kéo dài trên 25 km với nhiều bãi, vũng,
vịnh đẹp và nổi tiếng trên thế giới như vịnh Cam Ranh, có hai suối nước nóng, hệ
thống sông suối không nhiều nhưng phân bố khá đều về không gian, cung cấp và dự
trữ một lượng nước phong phú và dồi dào cho nhu cầu sinh hoạt, tưới tiêu trong sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp hàng năm. Ngoài ra, còn là điều kiện để đánh bắt,
nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch biển đảo mang lại nguồn thu nhập cho nhân
dân.
2.1.2.5 Sinh vật
Diện tích đất còn rừng ở Cam Ranh hiện nay chỉ chiếm khoảng 4,9% diện tích
đất tự nhiên, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển. Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng
nghèo, rừng non, rừng khoang nuôi tái sinh, với độ che phủ thấp và phân bố chủ yếu
ở các vùng núi phía Tây.
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.4.1 Về kinh tế
Nằm giữa thành phố Nha Trang và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (Ninh
Thuận), nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước (đường sắt - đường
23
biển - đường bộ - đường hàng không), Cam Ranh hội đủ những điều kiện thuận lợi
cho việc giao lưu trong nước và quốc tế, phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm, trở thành một trung tâm kinh tế năng động phía Nam của
tỉnh Khánh Hòa và của cả vùng duyên hải Nam Trung bộ.
Án ngữ phía đông và phía Nam của thành phố là vịnh Cam Ranh, vũng Bình
Ba nước sâu, kín gió, kín sóng rất thuận tiện cho xây dựng cảng neo đậu tàu thuyền
phường, khu vui chơi giải trí cho thiếu nhi, trung tâm thương mại, cơ quan làm việc
nhà ở … ngày càng khang trang sạch đẹp, làm cho bộ mặt đô thị Cam Ranh không
ngừng đổi mới, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đời sống sinh hoạt của nhân dân. Mặt bằng
dân trí được nâng cao, số học sinh trong độ tuổi đi học ra lớp ngày càng tăng, chất
lượng dạy và học ngày một tốt hơn. Song song với nâng cao chất lượng đào tạo toàn
diện trong các trường học phổ thông, chương trình xóa mù chữ - phổ cập tiểu học –
phổ cập trung học cơ sở cũng được triển khai thực hiện có hiệu quả. Đến nay 100%
xã phường được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ - phổ cập tiểu học và
18% xã phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS. Ngành Giáo dục thành phố 5
năm liền đạt danh hiệu xuất sắc toàn diện. Mạng lưới Y tế từng bước được đầu tư về
cơ sở vật chất và trang thiết bị. Đến nay 92% trạm Y tế xã phường có bác sỹ, các
thôn khóm đều có nhân viên Y tế cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng khám
chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và thực hiện có hiệu quả các
chương trình Y tế quốc gia. Ngành Y tế Cam Ranh nhiều năm liền dẫn đầu toàn
Tỉnh, được nhà nước phong tặng huân chương lao động hạng ba.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành
phố được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu. Toàn thành phố đã có 26/27 xã phường phát
động xây dựng 80 làng, khu phố văn hóa, chiếm hơn 74% số thôn khóm hiện có.
Thông qua qui ước xây dựng làng, khu phố văn hóa đã khơi dậy và phát huy các giá
trị truyền thống của dân tộc và địa phương, thể hiện qua phong trào đền ơn đáp
nghĩa, đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi
các tệ nạn xã hội. Các bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình đối tượng chính sách, hộ
nghèo khó khăn được quan tâm chăm sóc ổn định cuộc sống. Cuộc vận động xây
dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo được được các tổ chức, cá nhân
hưởng ứng tích cực với số tiền đóng góp hơn 3 tỷ đồng. Bằng nguồn huy động tại
địa phương và Tỉnh hỗ trợ thêm, những năm qua thành phố đã xây dựng mới và sửa
chữa 258 căn nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết giúp các đối tượng có nơi ở ổn định,
giảm bớt khó khăn trong cuộc sống. Hệ thống Truyền thanh - Tiếp hình, phát hành
báo chí đã đến tận cơ sở cung cấp thông tin có định hướng cho nhân dân. Hệ thống
bưu chính viễn thông, đặc biệt là bưu điện văn hóa xã phát triển tận địa bàn dân cư