Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch biển ở quảng ngãi - Pdf 56

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
-----



-----

NGUYỄN THỊ MỸ TUYẾT

TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở
QUẢNG NGÃI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước thì du
lịch không chỉ là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn là đòn
bẩy, thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân, tạo
động lực cho sự tích lũy của nền kinh tế, là phương tiện quan trọng để thực hiện
chính sách mở cửa và là cầu nối với thế giới bên ngoài, tăng cường tình hữu
nghị, hòa bình và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới.

cách có hiệu quả. Các dự án khu du lịch hầu như chỉ được triển khai trên giấy
mà không được thực hiện trong thực tiễn. Một số dự án khác thì khai thác một
cách hời hợt vừa không mang lại hiệu quả kinh tế vừa làm nguồn tài nguyên
dần mai một.
Bên cạnh những ưu đãi của thiên nhiên cho khu vực duyên hải Nam
Trung Bộ nói chung và Quảng Ngãi nói riêng thì thiên nhiên cũng rất khắc
nghiệt với nơi này. Mỗi năm vào mùa mưa bão, Quảng Ngãi trở thành nơi gánh
chịu bão nặng nề nhất. Biển cho Quảng Ngãi nguồn lợi dồi dào, những bãi biển
trãi dài hàng cây số… Nhưng cũng chính biển đã gây ra bao mất mát, bao hậu
quả khôn lường.
Tôi được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đầy nắng gió này, chứng kiến
bao sự đổi thay của quê hương sau nhiều năm phát triển đổi mới đi lên. Là một
người con của đất mẹ Quảng Ngãi như tôi không tránh khỏi những boăn khoăn
trăn trở.
Hơn nữa, sau những năm tháng chúng tôi được học tập ở giảng đường đại
học. Được tiếp thu vô vàng kiến thức quý báu từ thầy cô, chúng tôi mong muốn
biến quá trình đào tạo đó thành quá trình tự đào tạo. Để tăng cường kỹ năng làm

3


việc độc lập của mình, cũng như có cơ hội được cọ xát thực tế nhằm tích lũy
kinh nghiệm trong quá trình làm việc sau này.
Xuất phát từ những lý do trên và yêu cầu thực tiễn đặt ra, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch biển ở
Quảng Ngãi” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Liên quan đến đề tài của chúng tôi đã có các công trình nghiên cứu tiêu
biểu như:
-

Trung Bộ. Từ đó rút ra những bài học thực tiễn nhằm định hướng phát triển bền
vững cho du lịch biển đảo Quảng Ngãi và các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung
Bộ.
-

“Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi”, luận án tiến sĩ

của tác giả Trần Đăng (2002). Ông đã dành phần lớn dung lượng của luận án để
nói về lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn (Quảng Ngãi). Luận án đã chỉ ra
được những nét đẹp truyền thống của lễ khao lề thế lính Hoàng sa. Đồng thời
khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của lễ này đối với sự phát triển du
lịch của Lý Sơn nói riêng và Quảng Ngãi nói chung.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây mặc dù chưa đề cập
nhiều đến tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch biển Quảng
Ngãi. Tuy nhiên đó là nguồn tài liệu vô cùng quý giá cho chúng tôi trong quá
trình thực hiện khóa luận.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Quảng Ngãi với những tiềm năng vốn có của mình trong thời gian gần
đây đã có nhiều sự đầu tư và nổ lực để khai thác nguồn tài nguyên đó song vẫn
chưa tương xứng với tiềm năng của vùng, đó là một sự lãng phí và mất mát lớn
cho địa phương. Nghiên cứu đề tài này tôi nhằm mục đích tìm hiểu, phân tích,
đánh giá các tiềm năng phát triển du lịch biển đảo tại Quảng Ngãi. Đồng thời,
trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm góp phần thúc
đẩy du lịch của quê hương ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

5.1. Nguồn tư liệu
Do đề tài tìm hiểu về một vấn đề còn quá mới mẽ nên việc tìm kiếm tài
liệu về vấn đề này còn rất hạn chế, việc tìm hiểu nguồn tư liệu còn gặp nhiều
khó khăn. Để thực hiện đề tài trên đây tôi chủ yếu dựa vào các tư liệu, tài liệu
và các trang web điện tử:
-

-

Nguồn tư liệu thành văn:
+

Các bài viết trong sách báo.

+

Sách chuyên ngành.

+

Tạp chí du lịch.

+

Khóa luận tốt nghiệp.

Tài liệu điền dã:
+

Khảo sát.

5.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Do lãnh thổ du lịch được phân bố trong không gian rộng lớn và gồm
nhiều thành phần khác nhau do vậy việc thực hiện không thể bao quát hết toàn
vẹn lãnh thổ, phương pháp này sẽ bổ trợ cho việc nghiên cứu có kết quả hơn.
Phương pháp biểu đồ, bản đồ giúp cụ thể hóa số liệu và cho thấy được
mức độ phát triển của du lịch biển đảo Quảng Ngãi theo thời gian, không gian
phát triển như thế nào.
5.2.5. Phương pháp chuyên gia

7


Việc tranh tham khảo ý kiến của lãnh đạo, chính quyền, cán bộ chuyên
ngành du lịch, cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch là những kinh nghiệm
quý báu để vận dụng vào nghiên cứu. Công việc này rút ngắn quá trình điều tra
phức tạp, đồng thời bổ sung cho phương pháp điều tra cộng đồng.
6. Đóng góp của đề tài
Là một sinh viên mới nghiên cứu, tham vọng của chúng tôi không có gì
lớn. Chỉ muốn đánh giá một vài tiềm năng, thực trạng du lịch biển ở một số
điểm du lịch ở Quảng Ngãi và đề xuất một số giải pháp.
Đồng thời hoàn thiện khả năng tự học trong thời gian học tập ở nhà
trường.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu cần thiết cho những ai quan
tâm.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch biển
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng du lịch biển tại Quảng Ngãi
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác du lịch

9


Định nghĩa về du lịch của Michael Coltman lại nêu khá đầy đủ về các
thành phần liên quan tới hoạt động du lịch: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác
của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà
cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch.”
Tại Hội nghị quốc tế và thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào
tháng 6/1991, du lịch được định nghĩa là: “hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một
khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định
trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm
tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [11;18]. Định nghĩa trên đây đã nêu rõ quy
định về địa điểm, thời gian, mục đích của hoạt động du lịch.
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều ý kiến rất khác nhau
xung quanh vấn đề này. Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng thì “du” có nghĩa là
đi chơi, “lịch” là lịch lãm, từng trải, hiểu biết, như vậy du lịch được hiểu là việc
đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức.
Theo pháp lệnh du lịch (do chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam công bố
ngày 20/02/1999) thì “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhằm thoả mãn những nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một thời gian nhất định” (điểm 1, điều 10, chương 1, trang 8, Pháp
lệnh du lịch).
“Du lịch biển” được hiểu là một loại hình hoạt động du lịch được hình
thành trên nguồn tài nguyên du lịch biển và các dịch vụ đi kèm nhằm thoả mãn
nhu cầu của khách du lịch về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng hay tìm hiểu những
nền văn hoá bản địa gắn liền với biển.
1.1.2.Khái niệm về tài nguyên du lịch
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu,
năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người

11


công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi
vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.”(điều 13, chương 2,
Luật du lịch Việt Nam).
1.2.Quá trình hình thành và xu hướng phát triển của du lịch biển ơ
Việt Nam
1.2.1.Quá trình hình thành hoạt động du lịch biển ở Việt Nam
Từ bao đời nay, loài người đã và đang sống trên “Hành tinh Xanh” với
bạt ngàn màu xanh của núi rừng, màu xanh của đồng ruộng và màu xanh của
biển cả mênh mông. Trái đất đan xen giữa lục địa và đại dương hình thành một
môi trường sinh thái cho con người với những êm ả, thanh bình nhưng đồng thời
cũng có nhiều bão giông, thách thức khắc nghiệt. Trong điều kiện tự nhiên đó,
trải qua bao thế hệ, con người đã thích nghi và khắc phục, tận dụng thuận lợi,
vượt lên thử thách để tồn tại, để phát triển và tạo dựng cuộc sống đa dạng,
phong phú nhưng cũng có biết bao biến động.
Nước Việt và người Việt, từ thuở ban đầu đã hội tụ và sinh trưởng trong
một môi trường như thế với núi rừng, đồng bằng và biển cả. Quá trình dựng xây
đất nước, bảo vệ non sông, mở mang bờ cõi của các bậc tiền bối đã trao lại cho
thế hệ tiếp nối một nước Việt Nam hình chữ S hôm nay.
Tổ quốc Việt Nam nằm trên một vị trí đắc địa với “toạ độ không gian ba
chiều” lí tưởng [13,7]. Nhìn về địa lí tự nhiên, về văn hoá và lịch sử, về vị thế
chiến lược thì nước Việt Nam vừa là một quốc gia Đông Nam Á, vừa là một
quốc gia Đông Á, lại nằm trên giải phía Tây của vành đai Thái Bình Dương. Do
vậy, đã hình thành một môi trường văn hoá có cội nguồn từ các thung lũng, châu
thổ canh tác lúa nước, tiếp thu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa từ Đông Bắc
cùng văn minh Ấn Độ từ Đông Nam, lại mở cánh cửa ra Biển Đông đón nhận
trào lưu văn minh từ phương Tây tràn tới.
Vị trí không gian ba chiều ấy, một cách tự nhiên, đã sớm hình thành trong


Tàu. Trong số các bãi biển, vịnh biển của Việt Nam, có một số điểm đến đã nổi
tiếng thu hút nhiều du khách quốc tế tới du lịch hàng năm. Đó là vịnh Hạ Long
13


– Di sản thiên nhiên thế giới thuộc tỉnh Quảng Ninh; vịnh Nha Trang - một
trong những vịnh đẹp nhất thế giới; bãi biển Đà Nẵng được bầu chọn là một
trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Cuộc sống ngày càng hiện đại thì con
người càng có nhu cầu tìm về với tự nhiên, với trời mây sông nước để tận
hưởng cảm giác yên bình, thanh thản, hay thoả mãn những khám phá tìm tòi về
một vùng đất mới và chính những bãi biển hoang sơ mang trong mình nhiều vẻ
đẹp nên thơ là nơi mà nhiều người muốn đến. Bởi thế, du lịch biển được hình
thành và phát triển là tất yếu.
1.2.2. Xu hướng phát triển hoạt động du lịch biển ở Việt Nam
Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và
tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới
và khu vực đã và đang tạo những cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với
phát triển du lịch nói chung và du lịch biển Việt Nam nói riêng. Trước bối cảnh
đó xu hướng phát triển hoạt động du lịch biển ở Việt Nam cũng không nằm
ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới. Tức hoạt động du lịch biển nước
ta hướng tới đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại về tính chuyên
nghiệp, tính hiện đại, hội nhập và hiệu quả đồng thời bảo tồn và phát huy bản
sắc dân tộc, yếu tố truyền thống để phát triển bền vững, tương xứng với tiềm
năng, lợi thế của đất nước và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
Đặc biệt hướng tới phát triển sản phẩm du lịch biển “xanh" - những sản
phẩm du lịch có hàm lượng cao các yếu tố; nhất là dịch vụ, thân thiện với môi
trường, được phát triển phù hợp với các nguyên tắc bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững để từng bước xây dựng thương hiệu du lịch biển Việt Nam.
1.3. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế

du lịch là một lựa chọn đúng của nhiều quốc gia. Du lịch tạo cơ hội cho con
người được tiếp xúc, tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận một cách trực
giác sự hùng vĩ, trong lành, tươi mát và nên thơ của các cảnh quan tự nhiên có ý
15


nghĩa to lớn đối với khách. Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết thêm sâu sắc về tự
nhiên, thấy được giá trị của thiên nhiên đối với đời sống con người. Điều này có
nghĩa là bằng một cách thực tiễn nhất, du lịch góp phần rất tích cực vào sự
nghiệp giáo dục môi trường, một vấn đề toàn thế giới đang hết sức quan tâm và
hao tốn nhiều kinh phí hàng năm của các nước.
Hơn nữa, du lịch là một ngành tổng hợp vì vậy sự phát triển của du lịch sẽ
kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác. Phát triển du lịch không chỉ cung
ứng mức thu ngoại tệ mà còn đóng góp vào sự cân bằng trong chi phí, ngoài ra
nó còn cung cấp nhanh chóng các cơ hội cho cư dân địa phương do sự phát triển
của giao thông, xây dựng thông qua mạng lưới đường xá, các cơ sở hạ tầng
cũng như các cơ sở dịch vụ, giải trí. Điều này lý giải cho sự phát triển của công
nghiệp, nông nghiệp – ngư nghiệp, xây dựng, ngoại thương… Đó là hiệu quả
gián tiếp của sự phát triển ngành du lịch.
Mặt khác, du lịch quốc tế tạo điều kiện cho việc tiết kiệm lao động cho xã
hội khi xuất khẩu một số mặt hàng tại chỗ thông qua việc mua sắm của khách
du lịch. Bên cạnh đó, nó còn tạo sự phát triển đồng bộ, nhịp nhàng trong phạm
vi

cả nước, góp phần hình thành một diện mạo mới toàn diện hơn cho đất nước

làm du lịch.
Du lịch giờ đây cũng không còn bó hẹp mà ngày càng mở rộng liên kết.
Sự liên kết ấy không chỉ mở rộng theo ngành mà còn theo lãnh thổ và nó đã
vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Các quốc gia giờ đây đã tăng cường phối hợp

nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch. Sau các ngành
công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập
trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn.
Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2
tỷ USD/năm. Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất
khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt
Philíppin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo
17


UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du
lịch cao nhất khu vực và thế giới.
Hiệu quả chiều sâu về nhiều mặt của du lịch ngày càng rõ nét. Ở đâu du
lịch phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn,
đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoạt động du lịch đã thúc đẩy các
ngành khác phát triển, tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hoá và dịch vụ;
mỗi năm, hàng chục lễ hội truyền thống được khôi phục, tổ chức dần đi vào nền
nếp và lành mạnh, phát huy được thuần phong mỹ tục. Nhiều làng nghề thủ
công truyền thống được khôi phục và phát triển, tạo thêm các điểm tham quan
du lịch, sản xuất hàng lưu niệm, thủ công mỹ nghệ bán cho khách, nhân dân có
thêm việc làm và thu nhập; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng
thu nhập, xoá đói giảm nghèo và nhiều hộ dân ở không ít địa phương đã giàu lên
nhờ làm du lịch. Chính du lịch phát triển đã tạo thêm nguồn thu để tôn tạo, trùng
tu các di tích và nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính
quyền địa phương và cộng đồng dân cư giữ gìn, phát triển di sản văn hoá. Tuyên
truyền, quảng bá du lịch ở nước ngoài và trong nước đã truyền tải được giá trị
văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế, khách du lịch và nhân dân.
Điều quan trọng hơn cả là du lịch đã góp phần phát triển yếu tố con người
trong công cuộc đổi mới. Hoạt động du lịch đã tạo ra trên 80 vạn việc làm trực
tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, góp phần nâng cao dân trí, đời sống

nghỉ ngơi, thư giãn. Bởi trong tất cả ngành kinh tế biển, duy nhất du lịch có thể
khai thác triệt để lợi thế “mặt tiền” và nắm giữ những vị trí đẹp nhất dọc theo
đường bờ biển.
1.3.3. Vai trò của du lịch và du lịch biển trong nền kinh tế Quảng Ngãi
“Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải miền Trung đã được xác định trong
quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam thời kỳ 1995-2010. Với chiều
dài bờ biển 130km, có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 24 nối với
19


đường Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nguyên, có cảng Dung Quất, Nhà máy lọc
dầu số 1, gắn với Khu kinh tế Dung Quất và thành phố Vạn Tường, cận kề sân
bay Chu Lai” [1;7]. Vì vậy Chính phủ đã xác định Quảng Ngãi là 1 trong 5 tỉnh
trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của miền Trung - Tây
nguyên trong thời kỳ tới, là cơ hội để đầu tư khai thác tiềm năng, phát triển du
lịch của tỉnh. Sau hơn 20 năm tái lập tỉnh, từ vị trí là một tỉnh thuần nông, công
nghiệp – dịch vụ hầu như chưa phát triển do sớm nhận thức và phát huy thế
mạnh về điều kiện văn hoá – tự nhiên (nơi nổi tiếng với thập nhị thắng cảnh ),
Quảng Ngãi đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực du lịch. Hiện nay lĩnh
vực du lịch, dịch vụ chiếm tỉ lệ ngày càng tăng trong cơ cấu kinh tế của
tỉnh.Trong thời gian tới, Quảng Ngãi vẫn tiếp tục xác định kinh tế biển mà đặc
biệt là du lịch biển đảo vẫn là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Du lịch Quảng Ngãi đã và đang mang nguồn doanh thu lớn, đóng góp
đáng kể cho ngân sách của toàn tỉnh. Trong năm 2010 đã thu hút được khoảng
330.000 lượt trong đó khách quốc tế đạt khoảng 41.000 lượt khách tăng 22.600
lượt so với năm 2005; khách nội địa đạt khoảng 289.000 lượt khách tăng
145.000 lượt so với năm 2005.
Doanh thu du lịch đến năm 2010 đạt khoảng 200 tỷ đồng (tăng gấp 2,56
lần so với năm 2005) trong đó doanh thu từ khách quốc tế đạt khoảng 5,4 triệu
USD tương ứng 80 tỷ đồng và khách nội địa đạt khoảng 120 tỷ đồng. Giải quyết

tỉnh cho phát triển du lịch biển đảo, hy vọng trong thời gian tới du lịch biển đảo
tại Quảng Ngãi sẽ có sức hút mạnh mẽ đối với du khách và tăng tính cạnh tranh
với các vùng du lịch biển khác trên cả nước.
1.4. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch biển
1.4.1. Nguyên tắc hòa nhập
Để phát triển một loại hình du lịch bất kì đều dựa vào môi trường tự
nhiên. Bởi những gì do Tạo hóa sinh ra đều có lý do riêng – đó là vẻ đẹp cần tôn
21


trọng. Triết lý du lịch biển đảo khác xa với thứ triết lý mạnh tay san ủi, xây cất
hoành tráng, áp đặt phong cách đất liền ồn ào vốn đã nhàm chán ở mọi đô thị
lên cảnh quan biển đảo vốn có ngôn ngữ riêng và đáng giá gấp trăm lần. Điều
này càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự sống còn của loại hình du lịch biển
đảo. Chính môi trường là yếu tố hấp dẫn du lịch, đảm bảo chất lượng và giá trị
hưởng thụ du lịch, điều kiện quan trọng để xây dựng thương hiệu du lịch biển.
Là cách tốt nhất giúp du khách hoà nhập tự nguyện vào môi trường, cảm nhận
hết mức hấp dẫn của tour du lịch biển đảo. Vì vậy để đảm bảo quan hệ hài hoà
giữa phát triển du lịch biển và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi
trường và văn hoá. Cần phát triển các loại hình giải trí gần gũi với thiên nhiên
như tổ chức các trò chơi trên bãi biển, nặn tượng cát, lặn biển, xây dựng các cơ
sở lưu trú gần gũi với môi trường. Thông qua đó giáo dục nâng cao hiểu biết của
du khách về môi trường tự nhiên, tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn,
bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái, bảo vệ phát huy bản sắc văn hóa.
1.4.2. Nguyên tắc gắn sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt
động du lịch biển
Tài nguyên du lịch biển phải gắn kết nhuần nhuyễn với phong cách dịch
vụ và văn hóa, lối sống địa phương. Ở đâu có sự kết hợp tốt đó thì hoạt động du
lịch trở nên hấp dẫn, phong phú và hiệu quả cao hơn. Vì vậy trong thiết kế sản
phẩm, quy hoạch các khu du lịch phải tính đến yếu tố văn hóa bản địa để tạo


2.1. Tổng quan về tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
“Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền Trung, nằm giữa hai đầu đất
nước. Ở 14032’40’’ đến 15025’ vĩ Bắc, từ 108006’ đến 109004’35’’ kinh Đông.
Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Kon Tum, phía Đông giáp Biển Đông, phía Bắc
giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định.
Tổng diện tích tự nhiên: 5.166,8 km2, chia thành 3 vùng: miền núi –
trung du, đồng bằng, ven biển – hải đảo” [12;6].
Miền núi – trung du nằm dọc phía Đông dãy Trường Sơn, nhiều núi cao,
rừng có nhiều gỗ quý, chim muôn thú, vật sinh sống. Địa hình phức tạp, có
nhiều sông suối, đèo, dốc.
Đây là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số như: Cà Dong, Hre,
Cor. Đây cũng là khu căn cứ, là cái nôi cách mạng của các cuộc kháng chiến
chống xâm lược, đã làm nên cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, Trà Bồng và miền Tây
Quảng Ngãi.
Vùng đồng bằng có dân cư đông đúc, nhiều đồng ruộng trù phú, thuận lợi
cho phát triển cây trồng, đặc biệt là cây lúa và mía.
Vùng ven biển – hải đảo đất đai bạc màu, chủ yếu trồng các cây phi lao,
bạch đàn, một số nơi có canh tác các cây ngô, sắn, khoai lang.

24


Bờ biển có chiều dài 130 km, địa hình lồi lõm, nhiều nơi núi nhô ra biển
tạo thành các vịnh như: Dung Quất, Việt Thanh, Nho Na, Sa Huỳnh… Thuận
lợi cho tàu thuyền neo đậu, tránh gió bão. Dọc theo bờ biển đã tồn tại các di tích
văn hoá Sa Huỳnh (Đức Phổ), Bình Châu (Bình Sơn) và những thắng cảnh như:
An Hải Sa Bàn, bãi biển Mỹ Khê, bãi biển Tân Định, Phổ An, Khe Hai, Lệ
Thủy, Minh Tân… Có giá trị vui chơi, giải trí và phát triển du lịch. Dọc bờ biển,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status