SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG,
TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG
CẶP, NHÓM TRONG GIỜ HỌC TIẾNG ANH
Năm học : 2017-2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số …………………………………..…
1. Tên sáng kiến: “Phương pháp phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh qua hoạt
động cặp, nhóm trong giờ học tiếng Anh”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp giảng dạy
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Về thực trạng của vấn đề:
Ngày nay, Tiếng Anh là một ngôn ngữ giao tiếp quốc tế, được sử dụng rộng rãi trong
nhiều linh vực như kinh tế, khoa học, y học, kỹ thuật…trên toàn thế giới. Chính vì vậy, bộ
môn Tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy trong các trường: tiểu học, THCS, THPT… việc
dạy và học ngoại ngữ ngày càng được coi trọng. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy và học
tập thầy và trò gặp rất nhiều khó khăn về nhiều mặt: Một phần học sinh chúng ta đều là con
nhà nông,việc quan tâm lo lắng của phụ huynh còn hạn chế, đa số các em còn yếu kém về
năng lực học tập. Mặt khác, các em chưa thực sự ý thức sự cần thiết của việc học Ngoại Ngữ
dẫn đến chất lượng học tập của các em còn yếu kém. Từ thực tế trên việc nâng cao hiệu quả
3.2.1 Mục đích của giải pháp
- Nâng cao tính tích cực trong giờ học, đặc biệt là tích cực trong giao tiếp bằng tiếng anh.
- Giúp học sinh mạnh dạn hơn trong giao tiếp và thể hiện chính mình trong các hoạt động.
- Giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá, sáng tạo và giải quyết vấn đề.
3.2.2 Sự khác biệt và tính mới của đề tài
“Hoạt động cặp , nhóm” có thể được sử dụng hầu hết trong các tiết học: Reading –
Speaking – Listening – Writing – Language Focus.
Các học sinh làm việc với người cùng cặp, cùng nhóm của mình, tất cả các cặp, nhóm làm
việc cùng một thời điểm. Giáo viên chỉ là người theo dõi, cung cấp tư liệu, giúp đỡ, giải đáp
cho học sinh những vấn đề khó về ngữ liệu, hoặc kiến thức chung.
3.2.3 Cách thực hiện:
HOẠT ĐỘNG THEO CẶP
A/ Các bước thực hiện:
Bước một: Chuẩn bị
Cần chuẩn bị hết sức cẩn thận thông qua việc giới thiệu và thực hành ngữ liệu, làm cho tất cả
học sinh đều tự tin khi sử dụng ngoại ngữ. Sau bước giới thiệu và thực hành ngữ liệu nên để
lại các thông tin trên bảng.
Bước hai: Giáo viên làm mẫu với một học sinh
Giáo viên cùng một học sinh khá trong lớp đóng vai làm mẫu trọn gói một bài tập để cho học
sinh hiểu được yêu cầu và biết cách thức luyện tập
Bước ba: Hai học sinh làm mẫu
Gọi hai học sinh khá giỏi lên làm mẫu trước lớp một lần, to, rõ ràng cho cả lớp nghe
Bước bốn: Quy định thời gian
Báo cho học sinh biết họ sẽ có bao nhiêu thời gian để thực hiện bài tập này
Bước năm: Học sinh làm bài theo cặp
Ra hiệu lệnh cho tất cả học sinh làm bài cùng một lúc. Giáo viên theo dõi và giúp đỡ họ khi
cần thiết
Bước sáu: Kiểm tra trước lớp
hoạt động giải trí, các phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện đi lại.....
• Đóng vai : Học sinh đóng vai của chính mình hoặc đóng vai của của một người khác
trong một tình huống cụ thể . Mục đích tạo cho học sinh những tình huống như thật trong
môi trường lớp học, giúp học sinh làm quen sử dụng ngôn ngữ . Đóng vai luôn thực hiện
theo cặp, nhóm. Sau đó đưa ra lớp có nhận xét góp ý của giáo viên. Sau đay là một số ví dụ
về các hình thức hoạt động đóng vai :
Mẫu hội thoại và gợi ý cho sẵn : GV cung cấp bài hội thoại sẵn cho học sinh để trống
hoặc gạch chân một số từ , yêu cầu học sinh nhìn vào các từ gợi ý và thực hành lắp ghép
vào bài hội thoại.
VD: English 10 – Unit 2 – Speaking – Task 3
Complete the following conversation with suitable words phrases or sentences in the box
and then practise it with a partner.
What’s the matter with you
Awful / tired / sick / cold
A headache / a cold / backache / toothache
You should / You’d better go home and have a rest
A: Hello, Hoa. You don’t look very happy._________________________?
B: Hi, Nam. I feel _____________. I’ve got _____________________.
A: Sorry to hear that. ______________________________.
B: Yes. That’s a great idea. Goodbye, Nam.
A: See you later.
Khung hội thoại cho sẵn :
Là những hoạt động luyện tập mà GV tạo ra những thiếu hụt hay “khoảng trống” về thông
tin bằng cách cung cấp cho học sinh những thông tin không đầy đủ khác nhau về cùng một
vấn đề – học sinh này biết những thông tin mà học sinh không biết và ngược lại. Trên cơ sở
những thông tin có được đó, học sinh phải trao đổi với nhau để hoàn thành những yêu cầu
đặt ra trong bài. Chính điều này gây được hứng thú cho học sinh muốn thực hiện nhiệm vụ
giao tiếp đó.
b. Bài luyện thay thế.
Sau khi giới thiệu các mẫu câu và cho luyện tập thể thật nhanh, giáo viên viết các từ để thay
thế lên bảng rồi yêu cầu HS luyện tập theo cặp. Nên để nhiều chỗ trống ở phần gợi ý để HS
phát huy khả năng sáng tạo của mình
c. Thực hành ngữ pháp.
Sau khi học sinh nắm được vấn đề ngữ pháp và đã được luyện tập tập thể .Bằng các bài tập
nhắc lại hay chuyển đổi, chia học sinh từng cặp và yêu cầu các em trao đổi với nhau về
chính bản thân mình hoặc có liên quan đến cuộc sống.
d.Tìm đầu đề cho bài đọc.
Trước khi cả lớp học một bài đọc, yêu cầu từng cặp học sinh đọc lướt qua, sau đó đặt cho
bài đọc một đầu đề. Tuỳ độ dài của bài mà ấn định thời gian, không được quá nhiều vì đây
thực chất là loại hình bài tập luyện kỹ năng đọc lướt lấy ý chính. Hơn thế nữa, hoạt động này
rất hay vì nó cho học sinh một cơ hội đọc có mục đích thực tế, đọc để lấy thông tin thực sự.
Kết quả đọc có thể được kiểm tra miệng với từng học sinh hoặc cả lớp.
e. Viết câu minh hoạ
Cuối các bài học thường có các câu hỏi .Học sinh có thể thảo luận tìm câu trả lời cho các
câu hỏi này theo cặp. Đầu tiên học sinh làm miệng, sau đó giáo viên gọi một vài HS bất kì để
kiểm tra. Hoặc làm cho hoạt động này phong phú hơn bằng cách cho học sinh thảo luận
miệng rồi viết câu trả lời ra giấy, các cặp đổi chấm chéo các câu trả lời cho nhau dưới sự
kiểm soát của giáo viên.
f. Hỏi và trả lời
HOẠT ĐỘNG THEO NHÓM
A. Tổ chức và luyện tập theo nhóm.
Do đặc điểm lớp học ở Việt Nam không thể di chuyển quanh lớp học được vì vậy chỉ có
thể yêu cầu HS bàn trên quay xuống bàn dưới tạo thành các nhóm từ 4 đến 6 người, sau khi
chia xong nên chỉ định hoặc để thành viên các nhóm tự bầu ra nhóm trưởng hoặc thư kí
nhóm. Học sinh này sẽ trực tiếp liên hệ với giáo viên khi nhóm gặp khó khăn trong việc thực
hiện các yêu cầu của bài tập, điều này sẽ giúp cho việc kiểm soát tất cả các nhóm nhẹ nhàng,
dễ làm hơn. Nên chỉ định hoặc hướng dẫn học sinh có khiếu khẩu ngữ linh hoạt hơn để làm
việc này hoặc cũng có thể để cho các thành viên trong nhóm lần lượt làm nhóm trưởng, công
việc nay cần phải làm nhanh gọn, dứt khoát và HS phải được thông báo ngay ai là nhóm
trưởng của họ để không bị lãng phí thời gian. Việc chia nhóm có thể thực hiện bằng tiếng mẹ
đẻ. Nếu dùng tiếng Anh thì trước đó phải cho HS làm quen, hiểu rõ được các mệnh lệnh
1/ Vai trò của giáo viên.
Giáo viên là người quản lí mọi hoạt động của lớp học. Do vậy, phải đặt kế hoạch cho nó,
tổ chức, bắt đầu, theo dõi và cách dùng thời gian, kết thúc nó. Giáo viên có thể đi từ nhóm nọ
sang nhóm kia, kiểm tra HS xem có thực hiện đúng yêu cầu bài tập không. Giáo viên cần
tích cực và nhạy cảm với bầu không khí lớp học cũng như nhịp điệu làm việc của các nhóm,
ghi nhớ các lỗi lặp đi lặp lại của học sinh để điều chỉnh lại bài dạy sau này. Nếu thấy đa số
học sinh gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ của bài tập, nên dừng các nhóm lại giải
thích thêm, yêu cầu bài tập, cho cả lớp luyện lại vấn đè rồi mới tiếp tục làm việc theo nhóm.
2/ Các loại hình luyện tập theo nhóm.
a/. Trò chơi.
Đây là hoạt động phù hợp với các phần Warm up gây kích thích ở HS, hoặc rèn luyện kĩ
năng nói, viết , ngữ pháp ở HS.Tuỳ vào mục đích yêu cầu của từng bài GV có thể lựa chọn
trò chơi cho phù hợp. Các trò chơi đoán thông tin để luyện câu hỏi “Yes – No”, đơn giản
nhất là trò đoán “Who am I thinking of ? What’s my profession?” Hoặc “Guess what I
did?” Đề tiêu đề lên bảng, cung cấp một số từ gợi ý từ vựng, kiến thức nền, sau đó làm mẫu
d/ Trả lời các câu hỏi suy đoán.
Sau mỗi bài đọc, GV có thể đưa ra một số câu hỏi để HS suy đoán về những tình tiết xảy
ra trong bài. Câu trả lời chỉ dựa trên suy luận của HS chứ không có trong bài. HS trong nhóm
thảo luận và đi tới một câu trả lời chung cho cả nhóm.
VD : What is this passage cut from ?
What is the the next paragraph of this passage ?
e/ Thảo luận.
Thảo luận cho phép HS tự do diễn đạt các quan điểm, ý kiến của mình. GV có thể đưa ra
chủ đề nào đó
VD: Unit 2 – grade 12 – Reading
“What are the differences between a traditional Vietnamese family and modern Vietnamese
family?”
Tất cả nhóm bàn bạc, trao đổi quan điểm của mình trong vài phút. Sau đó một thành viên
trong nhóm sẽ báo cáo chung lại ý kiến của cả nhóm(nếu thống nhất) hoặc tóm tắt lại các ý
kiến ( nếu có sự khác nhau ). Tiếp theo để cho HS cả lớp cùng thảo luận về vấn đề đó. GV
không cần thiết phải bày tỏ quan điểm của mình, trừ khi có những ý kiến sai mà không có ai
phản bác.
f/ Viết luận:
Nên tổ chức cho HS làm việc thành từng nhóm, GV của những lớp đông sẽ có thể đồng
thời kiểm soát và hướng dẫn tất cả các bài viết sáng tạo của HS trong lớp. Có thể hướng dẫn
bài luận bằng các câu hỏi trên bảng, các bức tranh hoặc các từ gợi ý. Tất cả các thành viên
trong nhóm đều phải đóng góp ý kiến xây dựng bài. Trưởng nhóm lúc này phải biết lôi cuốn,
khuyến khích các thành viên trong nhóm đóng góp ý kiến.
VD1 :
Mục đích yêu c ầu : Viết luận theo dàn ý .
Thời gian : 15’
Chuẩn bị : Handouts
Tiến trình:
Write the name of a woman. It can be a famous woman or a woman everyone in
class knows (Cho phép họ đặt tên cho nhân vật)
-
Write the name of the place where two people meet.
-
When they meet, he says something to her. What does he say? ( HS viết những gì
anh ta nói )
-
She replies to the man .What does she say?
-
What’s the consequence of this meeting? What happens?
-
What’s the opinion of the whole story? What do you say as a comment?
+ Sau mỗi một yêu cầu HS viết thông tin mà được yêu cầu, gập giấy để che những gì mình
viết rồi chuyển giấy cho người bên phải. Yêu cầu tiếp tục được đưa ra và quá trình tiếp tục
lặp lại.
+ Khi công việc được hoàn thành cả nhóm mở giấy ra, nối các đoạn thông tin với nhau tạo
thành một bài viết thú vị và logic
+ HS đọc câu chuyện cho cả nhóm nghe.
Qua thời gian áp dụng giải pháp mới, tinh thần tích cực trong học tập của các em có
cải thiện rõ rệt, cụ thể kết quả năm học 2016-2017 như sau :
Lớp
Học Kỳ I (Chưa áp dụng giải pháp)
Học Kỳ II (Đã áp dụng giải pháp)
Giỏi
Khá
T.B
Yếu Kém
Giỏi
Khá
T.B
Yếu
Kém
0
5
7
17
16
0
0
(40)
12A2
0
3
28
4
1
3
9
24
0
3.5 Tài liệu kèm theo gồm: không
Bến Tre, ngày 16 tháng 3 năm 2018.
Nguyễn Phương Yến
Trường THPT Phan Liêm, Ba Tri