LỜI CẢM ƠN
Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn tới
ThS. Đinh Thi ̣ Bích Hâ ̣u, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực
hiện khóa luận.
Tôi xin chân trọng cảm ơn ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo
Khoa Tiểu học - Mầm non, Phòng Quản lí khoa học và Hợp tác quốc tế, Trung
tâm thông tin thư viện trường Đại học Tây Bắc và các bạn sinh viên lớp K53
ĐHGD Mầm non B đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu để hoàn
thành tốt khóa luận này
Xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng tất cả các cô giáo và các cháu mẫu
giáo 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Số 1 - Thi Trấ
̣ n Tân Uyên - TP. Lai Châu đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu thực tế và tiến hành thực nghiệm để
hoàn thành khóa luận.
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Vũ Thi Tân
̣
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................... Error! Bookmark not defined.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................... Error! Bookmark not defined.
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................. 4
6. Đóng góp của khoá luận .................................................................................... 4
7. Cấu trúc của khoá luận ...................................................................................... 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.......................................... 5
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 53
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 55
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Khảo sát chất lượng giáo viên tại một số trường mầm non .................. 22
Bảng 2: Điều tra nhận thức của trẻ tại trường mầm non số 1- TT. Tân Uyên .... 24
Bảng 1: So sánh khả năng hình thành các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm
của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. ................... 50
Bảng 2: So sánh khả năng hình thành các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm
của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. ................... 52
Biểu đồ 1: So sánh khả năng hình thành các biểu tượng về tập hợp số và phép
đếm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực
nghiệm ................................................................................................................. 51
Biểu đồ 2: So sánh khả năng hình thành các biểu tượng về tập hợp số và phép
đếm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực
nghiệm ................................................................................................................ 52
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng cho hệ thống
giáo dục quốc dân. Mục tiêu của giáo dục mầm non là xây dựng cơ sở ban đầu
về nhân cách con người phát triển toàn diện. Những cơ sở ban đầu này ảnh
hưởng đến sự phát triển nhân cách sau này của trẻ.
Mu ̣c tiêu của giáo dục mầm non đã có sự thay đổ i để giúp trẻ thích nghi
với thời đa ̣i mới. Ngày nay mu ̣c tiêu của chúng ta không chỉ là ta ̣o những trẻ
phát triể n toàn diê ̣n về nhân cách và trang bi ̣ tri thức vào trường phổ thông mà
giàu, để phát triển sự nghiệp giáo dục, họ đã tìm nhiều giải pháp để đẩy mạnh xã
hội hóa giáo dục, trong đó có xã hội hóa giáo dục mầm non.
Việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ là hình thức dạy học được
tiến hành thông qua môn học làm quen với toán. Do trẻ chưa hoàn thiện các
chức năng, các thao tác, nên việc tiếp nhận và hình thành các biểu tượng của trẻ
còn khó khăn. Vì vậy giáo viên cần giữ vai trò chủ đạo, là người tổ chức, hướng
dẫn điều khiển các hoạt động của trẻ, còn trẻ là người chủ động tích cực nhằm
chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, phát triển năng lực nhận thức và hành
động. Phương pháp cho trẻ làm quen với toán ngày càng được quan tâm đổi mới
để đạt chất lượng giáo dục tốt nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, tại nhiều trường
mầm non, đặc biệt các trường mầm non ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa,
trong những điều kiện dạy học còn tồn tại quá nhiều khó khăn thì việc hình
thành các biểu tượng toán cho trẻ lại càng khó khăn. Qua việc khảo sát thực tế
chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng phương pháp chung và các biện pháp cụ
thể nhằm tăng cường hiệu quả trong việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ
mầm non nói chung, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi nói riêng còn bộc lộ những
hạn chế nhất định.
Trên thực tế, ở một số trường mầm non giáo viên chưa nhiệt tình giúp trẻ,
đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phát huy những khả năng tư duy, tưởng tưởng,
sáng tạo của bản thân. Khi cho trẻ làm quen với toán ta thấy được sự thiếu sáng
tạo, linh hoạt. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản
nhất là do khi cho trẻ tiếp xúc với biểu tượng toán, một số giáo viên chưa hiểu rõ
về vai trò, mục đích về việc sử dụng các phương pháp hình thành biểu tượng
toán cho trẻ một cách toàn diện. Điều đó dẫn đến tình trạng thiếu chú trọng,
2
thiếu linh hoạt, sáng tạo trong việc sử dụng các biện pháp giúp trẻ tiếp nhận một
cách có hiệu quả nhất.
Với những lý do trên, đồng thời dựa trên sự tiếp thu những thành tựu của
4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng các phương pháp đề xuất tác động đến một nhóm trẻ khối thực
nghiệm xử lí kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp hình thành các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm cho
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
5.2. Khách thể và địa bàn nghiên cứu
Nhóm trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Số 1 - Thi ̣ Trấ n Tân Uyên - Tp. Lai
Châu.
6. Đóng góp của khoá luận
Khoá luận sau khi được nghiệm thu sẽ bổ sung một số phương pháp phát
huy tính chủ động, tích cực trong hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi; là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục
Mầm non, Khoa Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc và những người
quan tâm đến vấn đề này.
7. Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Phương pháp phát huy tính chủ động, tích cực trong hình
thành các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm.
4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Phương pháp dạy học mầm non
Phương pháp được hiểu là con đường là cách thức mà chủ thể tác động để
đạt được mục đích.
hầ u hế t các phương pháp giáo du ̣c mầ m non, song cầ n chú ý đế n đă ̣c điể m nhâ ̣n
thức của trẻ: “ Nhâ ̣n thức phải thông qua hoa ̣t đô ̣ng, nhâ ̣n thức còn mang nhiề u
cảm tính” để lựa cho ̣n phương pháp sao cho phù hơ ̣p. Trong viêc̣ hiǹ h thành
biể u tươ ̣ng toán ho ̣c cho trẻ mẫu giáo thường sử du ̣ng 2 phương pháp (phương
pháp hoa ̣t đô ̣ng với đồ vâ ̣t và phương pháp dùng lời). Các phương pháp đươ ̣c sử
du ̣ng tổ ng hơ ̣p, hỗ chơ ̣ chă ̣t chẽ lẫn nhau trong đó phương pháp hoa ̣t đô ̣ng với
đồ vâ ̣t là chủ đa ̣o.
1.2.1. Phương pháp hoạt động với đồ vật
Phương pháp hoạt động với đồ vật là phương pháp tổ chức cho trẻ tiến
hành các hoạt động với đồ vật dưới hình thức vui chơi, mang tính trực quan. Các
tri thức cần cung cấp cho trẻ được biến thành các việc làm và từng trẻ được trực
tiếp thực hiện các hoạt động này dưới sự hướng dẫn của cô giáo. Phương pháp
hoạt động với đồ vật đươ ̣c xem là phương pháp chủ đạo để hình thành các biểu
tượng toán ban đầu cho trẻ mầm non.
1.2.1.1. Ý nghĩa, tác dụng, yêu cầu
a. Ý nghĩa, tác dụng
Một trong những nhiệm vụ chính của việc hình thành các biểu tượng toán
học cho trẻ mầm non là góp phần phát triển trí tuệ, phát triển năng lực tư duy,
mà tư duy trực quan hành động lại chiếm ưu thế ở trẻ, trẻ “học bằng chơi, chơi
bằng học”. Các biểu tượng toán thường khó và trừu tượng, nếu được mô hình
hoá bởi các đồ dùng trực quan và trẻ được trực tiếp hành động trên các đồ vật
dưới sự hướng dẫn của cô giáo sẽ làm các biể u tươ ̣ng toán trở nên dễ hiể u, giup
trẻ tiế p thu dễ dàng, đầ y đủ và nhớ lâu, trong đó trẻ giữ vai trò chủ thể của hoạt
động, còn cô giáo là người tổ chức hướng dẫn trẻ hoạt động với đồ vật theo quy
trình để tạo ra sản phẩm, các kiến thức, kỹ năng cần biết để hình thành trong trẻ.
Nhờ các hoạt động trực tiếp với đồ vật, các giác quan của trẻ được phát triển tốt
hơn. Phát triển cảm giác và khả năng tri giác nhanh nhạy, chính xác thúc đẩy sự
ham hiểu biết của trẻ về sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, đồng thời
giúp trẻ chuyển từ tư duy trực quan hình tượng sang tư duy logic.
Cô dự kiến sẽ thiết kế mỗi hoạt động dưới hình thức trò chơi nào. Trong hoạt
động đó có bao nhiêu thao tác diễn ra theo trình tự nào để tạo ra sản phẩm.
7
Ví dụ: Bài dạy trẻ 3 - 4 tuổi kỹ năng xếp tương ứng 1 - 1. Hoạt động “ xây
nhà” trong phần giảng bài mới được cô tiến hành theo trình tự:
- Chọn tất cả các hình vuông.
- Xếp tất cả các hình vuông thành hàng ngang từ trái sang phải.
- Chọn tất cả các hình tam giác.
- Xếp lên trên mỗi hình vuông một hình tam giác để được cái nhà.
c. Định hướng hoạt động
Bao gồ m đinh
̣ hướng chung và đinh
̣ hướng từng thao tác:
- Định hướng chung: Được tiến hành đầu giờ để nhằm giúp trẻ nắm được nhiệm
vụ: “giờ học này cần phải làm gì?”.
- Định hướng từng thao tác: Từng việc làm cụ thể được tiến hành trong quá trình
trẻ tiến hành hoạt động với đồ vật nhằm giúp trẻ biết cách làm.
Việc định hướng chung và định hướng từng thao tác cần dựa vào trình độ nhận
thức, đặc điểm lứa tuổi và vốn kinh nghiệm kiến thức để lựa chọn hướng dẫn
cho phù hợp.
- Mức độ 1: Yêu cầu trẻ thực hiện “bài tập sao chép” nghĩa là trẻ bắt trước các
hành động của cô thực hiện các việc làm, các thao tác theo quy trình nhất định
mà cô đã hướng dẫn. Đối với loại bài tập sao chép, hành động mẫu và lời giải
thích của cô nhằm giúp trẻ biết cách làm. Vì vậy:
Việc định hướng hoạt động phải bằng vật mẫu, hành động mẫu kết hợp
độc lập sáng tạo có chủ định ở trẻ.
9
Ví dụ: “Hãy so sánh số ngôi sao và số hình tròn xem số lượng nhóm nào
nhiều hơn, ít hơn”.
Đối với trẻ 4 - 5 tuổi, trẻ đã có kỹ năng xếp ứng 1:1 và biểu đạt được biểu
tượng “nhiều hơn - ít hơn” vì vậy cô giáo thực hiện bài tập ở mức độ 2 “bài tập
tái tạo”. Khi đó cô tổ chức thực hiện bài tập chỉ bằng lời hướng dẫn không có
hành động mẫu. Cô gợi ý trẻ: “Các con hãy xếp mỗi hình tròn với một ngôi
sao”, trẻ có thể tự thực hiện thành hàng ngang, hàng dọc, hoặc cứ ghép 1 chấ m
tròn với 1 ngôi sao tùy ý.
Đố i với trẻ 5-6 tuổ i, trẻ biế t so sánh bằ ng cách xế p tương ứng 1-1 và biế t
so sánh số lượng các nhóm dừa vào kế t quả của phép đế m, vì vậy cô sẽ thực
hiê ̣n: “bài tập sáng tạo”. Khi đó cô chỉ nêu yêu cầ u “ hãy so sánh số lượng ngôi
sao và chấ m tròn”. Trẻ sẽ lựa chọn phương pháp hoạt động.
Cô cho trẻ nêu và giải thích kế t quả, sau đó cô chính xác hóa lại kế t quả.
d. Tổ chức cho trẻ hoạt động trong giờ học
Đây là khâu quan trọng quyết định sự thành công của quá trình trẻ tiến
hành hoạt động dưới sự hướng dẫn của cô giáo bao gồm:
- Tổ chức cho trẻ hoạt động với đồ vật: Để có thể phát huy tính độc lập, sáng tạo
cô giáo cần và giúp trẻ thực hiện được các hoạt động cô giáo cần lựa chọn mức
độ hướng dẫn sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức, vốn
kiến thức kỹ năng vốn có và yêu cầu của từng bài ở mỗi độ tuổi.
Ví dụ: Khi hình thành các biểu tượng về toán cho trẻ loại “Bài tập sao
chép” được sử dụng trong phần hình thành biểu tượng mới. Còn “Bài tập sáng
10
11
- Các câu hỏi phát vấn trẻ phải đưa ra đúng lúc, tuân theo trình tự của một chuỗi
các hoạt động mà trẻ sẽ thực hiện.
- Không áp đặt trẻ diễn đạt theo ngôn ngữ của cô.
- Cô chỉ đặt câu hỏi sau khi trẻ được quan sát hoặc thực hiện xong hoạt động
- Trẻ phải là người đầu tiên nêu lên nhận xét sau khi quan sát hoặc thực hiện
xong hoạt động.
- Cô là người chính xác hoá và khái quát hoá kết quả để hình thành biểu tượng
mới.
- Cô dạy trẻ hiểu ý nghĩa của các từ ngữ toán học và biết sử dụng đúng trong các
tình huống cụ thể.
1.2.2.2. Cách tiến hành
Đây là một trong những phương pháp được giáo viên thường xuyên sử dụng
trong quá trình giảng dạy hay nói cách khác phương pháp này giữ vai trò quan
trọng trong việc hình thành biểu tượng về tập hợp số và phép đếm cho trẻ. Nếu
phân loại câu hỏi theo trình tự nhận thức của trẻ ta có các nhóm câu hỏi sau:
- Loại câu hỏi sao chép bề ngoài: Là loại câu hỏi để hỏi việc những điểm bên
ngoài của đối tượng nhằm yêu cầu trẻ kể lại việc trẻ vừa quan sát, vừa hoạt động
xong hoặc nhắc lại nhiệm vụ cô giáo. Một số câu hỏi thường dùng như: Trên
bàn cô có gì? (có hoa), Có mấy bông hoa? (có nhiều bông hoa) ...
- Câu hỏi nhận thức sao chép: Là loại câu hỏi giúp trẻ đào sâu và củng cố những
kiến thức đã có. Loại câu hỏi này yêu cầu trẻ mô tả lại quá trình thực hiện, do đó
kiến thức của trẻ có được là thật không phải học vẹt. Một số câu hỏi thường
dùng như: Sau khi học xong bài so sánh số lượng hai nhóm bằng cách ghép đôi
có thể hỏi “làm thế nào để biết số thỏ và số cà rốt, số nào nhiều hơn hay ít hơn
số nào?”
- Câu hỏi nhận thức sáng tạo: Là loại câu hỏi yêu cầu trẻ sử dụng tri thức đã có
vào việc giải quyết các tình huống khác nhau. Cô đặt ra một số câu hỏi như:
1.2.3.1. Ý nghĩa, tác dụng, yêu cầu
a. Ý nghĩa, tác dụng:
- Giúp trẻ củng cố những kiến thức làm chúng trở nên vững chắc và có ý thức
hơn.
- Giúp hình thành ở trẻ các kĩ năng trí tuệ, kĩ năng thực hành mà nhờ đó chúng
trở thành kĩ xảo.
13
- Qua kết quả thực hiện bài tập được thể hiện qua lời nói, hành động và sản
phẩm,... của trẻ, giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá mức độ nắm kiến thức, kĩ
năng của từng trẻ
b. Yêu cầu:
- Các hình thức luyện tập phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và mức độ phát triển trí
tuệ của trẻ mầm non.
- Đảm bảo cho sự hình thành ở trẻ những biểu tượng toán học sơ đẳng, những kĩ
năng, kĩ xảo.
- Tạo điều kiện sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào các dạng hoạt động khác
nhau.
1.2.3.2. Một số hình thức luyện tập
- Thứ nhất: Luyện tập qua các bài tập ứng dụng đa dạng, phong phú với hình
thức các trò chơi và sử dụng các loại phương tiện khác nhau.
- Thứ hai: Vận dụng các hiểu biết đã có để giải quyết các tình huống cụ thể
trong thực tế.
- Thứ ba: Luyện tập qua các trò chơi.
Khi sử dụng phương pháp “trò chơi” trong luyện tập cô cần nói rõ:
Tên trò chơi
Phổ biến luật chơi, cách chơi. Cô phổ biến luật chơi, cách chơi và cho trẻ
chơi thử. Đối với trò chơi cũ cô nhắc lại luật chơi và cách chơi.
Cho trẻ chơi: Cô chú ý sửa sai, bao quát trẻ khi tham gia trò chơi, nhận
kiến thức, từ việc dạy trẻ tạo nhóm đồ vật (theo dấu hiệu cho trước) đến dạy trẻ
so sánh số lượng giữa hai nhóm (bằng cách ghép đôi) và cuối cùng là dạy trẻ các
phép biến đổi tạo nhóm, thêm bớt tạo sự bằng nhau …
Từ khi còn nhỏ, trẻ đã có những biểu tượng về tập hợp số được cấu tạo từ
các đối tượng cùng dạng hay không cùng dạng. Thông qua các hoa ̣t đô ̣ng thực tế
trẻ đã đươ ̣c làm quen với tâ ̣p hơ ̣p những đồ chơi, bông hoa, những quả bóng sắ c
màu … Đã tạo điều kiện cho trẻ cảm thụ các tập hợp bằng các giác quan khác
nhau (mắ t nhìn, tai nghe, tay sờ mó...). Biể u tươ ̣ng về ” tâ ̣p hơ ̣p các số ” và “mô ̣t”
đươ ̣c hình thành, trẻ hiể u và diễn đa ̣t đươ ̣c từ” mô ̣t hay nhiề u” . Ví du ̣: Trẻ có
thể nói được “có nhiều cái ô, có nhiều bông hoa, có nhiều quả táo, …”.
Tuy nhiên trẻ còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các dấu hiệu bên ngoài như
màu sắc, hình dạng, kích thước, sự phân bố trong không gian.
15
Ví dụ: Đưa cho trẻ một rổ các hình và yêu cầu trẻ phân loại thì thường trẻ sẽ
xếp riêng các hình theo màu sắc: xanh, đỏ, vàng. Trẻ không quan tâm đến các
hình đó là hình gì.
Kích thước các vâ ̣t và sự bố trí trong không gian cũng làm ảnh hưởng tới
viêc̣ so sánh số nhiề u.
Ví dụ: Chúng ta đưa ra cho trẻ 5 chấm tròn và 3 quả cam thì trẻ vẫn coi 3 quả
cam nhiều hơn 5 chấm tròn.
Do đó việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo thông
qua các hoạt động làm quen với môi trường xung quanh là nền tảng ban đầu
giúp trẻ mở rộng và nâng cao hiểu biết về toán học. Thông qua các biểu tượng
toán học còn giúp trẻ diễn đạt chính xác, đầy đủ và ngắn gọn ý nghĩ, mong
muốn của trẻ.
1.4.2. Rèn kỹ năng thực hành và phát triển năng lực trí tuệ của trẻ
Khi học về các biểu tượng tập hợp số và phép đếm trẻ được làm quen với
tập hợp các vật, phát triển khả nhâ ̣n nhâ ̣n biế t các biểu tượng số lượng, phân biệt
Ngoài ra các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm còn giúp trẻ phát triển
năng lực trí tuệ rèn luyện những đức tính và phẩm chất tốt như: Cần cù, cẩn
thận, chu đáo, khéo léo, chính xác … Nhờ vậy mà trẻ có thêm tiền đề để tiếp thu
các hoạt động học tập ở trường mầm non và học môn toán ở bậc học phổ thông.
1.4.4. Chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông
Trường phổ thông và trường mầm non là hai ngôi trường có chế độ sinh
hoạt, học tập và các mối quan hệ đều khá khác nhau đối với trẻ mẫu giáo. Ở
trường mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, thông qua các hoạt động, các trò
chơi dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ tiếp thu tri thức một cách chủ động, tự
giác không bắt buộc. Ở trường phổ thông, hoạt động học tập là hoạt động chủ
động và bắt buộc, đây là một hoạt động nhận thức để tiếp thu những tri thức
khoa học. Đặc biệt đối với môn toán, nếu ở trường mẫu giáo chỉ sử dụng
phương pháp hoạt động với đồ vật để hình thành một số biểu tượng toán học thì
ở trường phổ thông giáo viên đã dạy các em những khái niệm toán cơ bản theo
trình tự logic với nội dung được quy định sẵn trong chương trình. Do đó việc
hình thành các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
là vấn đề cấp thiết cần quan tâm. Thông qua các tiết học, giáo viên hình thành
cho trẻ các biểu tượng về tập hợp số, phép đếm, nhận biết được mối quan hệ số
17
lượng, thực hiện được một số phép biến đổi đơn giản (thêm bớt, tạo nhóm, chia
nhóm). Trong các giờ hình thành biểu tượng toán cần có các trò chơi tập thể có luật
đặt ra được nhiều câu hỏi cho cá nhân, tập thể dưới dạng nội dung các bài toán so
sánh, thêm bớt,… Làm cơ sở để trẻ chuẩn bị học các phép toán cộng, trừ ở lớp 1.
Thông qua các trò chơi giúp trẻ rèn luyện thói quen nhanh nhẹn, khẩn trương, gọn
gàng, ngăn nắp, có ý thức tổ chức kỷ luật trong công việc đồng thời động viên
khích lệ tính độc lập trong tư duy, bồi dưỡng lòng tự tin, kiên trì và có chí hướng
của trẻ. Đây là những phẩm chất rất cần thiết cho trẻ đến trường phổ thông.
1.5. Đặc điểm nhận thức các biểu tượng về tập hợp số và phép đếm của trẻ
học. Bắt đầu dạy trẻ các thao tác với các nhóm vật như” thu các vật với nhau để
thành một nhóm chung, tách các vật ra để tạo nhóm ban đầu, xếp sang trái, sang
phải,... trên cơ sở đó tìm dấu hiệu chung của cả nhóm hay tạo nhóm đồ vật theo
dấu hiệu”.
Qua các bài luyện tập trẻ sẽ hiểu rằng mỗi nhóm vật đều được tạo bởi
những nhóm vật riêng biệt, trẻ sẽ nắm được những kỹ năng nhận biết và diễn đạt
bằng lời dấu hiệu chung của cả nhóm vật. Trẻ cần học cách nhận biết dấu hiệu
riêng của từng nhóm nhỏ trong nhóm chung, như” trong một giỏ hoa có một
bông hoa đỏ còn lại là hoa màu vàng”, tức là trẻ đã nhận biết được tập hợp con
trong một tập hợp lớn.
Trong quá trình tạo các tập hợp theo dấu hiệu cho trước, trẻ nhận biết số
lượng các nhóm vật và học cách sử dụng lời nói diễn đạt số lượng của chúng
bằng các từ: một, nhiều, ít.
Trẻ có nhu cầu so sánh các nhóm đối tượng. Khả năng so sánh các nhóm
đối tượng phát triển cùng với độ tuổi. Trẻ thường xếp chồng hay xếp cạnh từng
vật nhóm này với từng vật của nhóm khác, tức là bước đầu trẻ thiết lập tương
ứng 1:1 giữa các vật của các nhóm với nhau để xác định mối quan hệ bằng nhau,
không bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn, để phản ánh mối quan hệ giữa các nhóm
đối tượng.
Da ̣y trẻ nhâ ̣n biế t tâ ̣p hơ ̣p bằ ng các giác quan khác nhau (mắ t, tai, tay).
Luyê ̣n tâ ̣p cho trẻ phân biêṭ đươ ̣c tay phải, tay trái và hướng chuyể n đô ̣ng.
Tâ ̣p cho trẻ làm quen và hiể u ý nghiã để sử du ̣ng đươ ̣c các từ” nhiề u, ít,
mô ̣t, bằ ng nhau, nhiề u hơn...về số lươ ̣ng.
1.5.3. Trẻ 4 - 5 tuổi
19
Ở trẻ từ 4 - 5 tuổi, những biểu tượng tập hợp của trẻ được phát triển và mở
rộng, trẻ đã có khả năng nhận biết tập hợp ngay cả khi phần tử của chúng là không
giống nhau, như: “ Một rổ bóng có rất nhiều màu khác nhau hay tập hợp hình học
cũng phải đếm, mà đôi lúc cần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng. Trẻ hiểu
được 2 ý nghĩa của số: chỉ số lượng và chỉ thứ tự. Ngoài ra, trẻ hiểu rằng số cuối
cùng là số biểu thị cho kết quả số lượng của toàn bộ nhóm đồ vật.Việc cho trẻ
làm quen với các con số có tác dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, dạy trẻ
thao tác với các ký hiệu - các con số.
Trẻ đã sử dụng thành thạo phép đếm trong phạm vi 10. Đây là một
phương tiện để so sánh số lượng 2 nhóm, nhóm ít hơn, nhóm nhiều hơn (là bao
nhiêu?). Dạy trẻ hiểu mối quan hệ hơn kém giữa các số đặc trưng cho số lượng
của các nhóm trên cơ sở so sánh các tập hợp và thêm bớt, chia các nhóm đối
tượng thành 2 phần theo các cách khác nhau.
Trong quá trình đếm xác định số lượng, trẻ nắm được mối quan hệ giữa
các số liền kề thuộc dãy số tự nhiên “số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một
đơn vị và số đứng sau lớn hơn số đứng trước một đơn vị”
Trẻ có khả năng giải các bài toán đơn giản trên các tâ ̣p hợp cu ̣ thể bằng cách
phân tích để biết cái gì đã cho, cái gì cần tìm, để tìm cái đó phải như thế nào.
1.6. Nội dung chương trình hình thành các biểu tượng về tập hợp số và
phép đếm cho trẻ mẫu giáo
1.6.1. Trẻ 3 - 4 tuổi
- Dạy trẻ tạo nhóm đồ vật theo một dấu hiệu nào đó, tìm dấu hiệu chung của một
nhóm đồ vật.
- Dạy trẻ ghép đôi từng cặp tương ứng (xếp tương ứng 1 - 1) giữa hai nhóm đồ vật.
- Dạy trẻ nhận biết sự khác nhau rõ nét về số lượng giữa hai nhóm đồ vật. sử
dụng đúng các từ nhiều hơn, ít hơn thông qua dạy so sánh bằng cách ghép đôi.
1.6.2. Trẻ 4 - 5 tuổi
- Ôn lại cách so sánh số lượng bằng cách ghép đôi từng cặp đối tượng giữa hai
nhóm để nhận biết sự giống nhau và khác nhau về số lượng đối tượng giữa hai
nhóm đồ vật.
- Dạy trẻ nhận biết số lượng, chữ số, so sánh số lượng các đối tượng của nhóm
đồ vật trong phạm vi 5 của phép đếm.