ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ VẬT LIỆU NANO Fe3O4
VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CHÚNG TRONG CHẾ TẠO
LỚP PHỦ CHỐNG ĂN MÒN KIM LOẠI
Mã số đề tài: QG.12.05
Chủ nhiệm đề tài/dự án: PGS.TS. NGUYỄN XUÂN HOÀN
Hà Nội, tháng 9 năm 2014
MỤC LỤC
PHẦN I. THÔNG TIN CHUNG ......................................................................................1
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................2
1. Mục tiêu ....................................................................................................................2
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đã tiến hành ..........................................2
3. Nội dung và kết quả nghiên cứu ...............................................................................4
3.1. Mô tả các kết quả nghiên cứu đạt được .................................................................4
3.1.1. Tổng hợp các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4 bằng phương pháp thuỷ nhiệt.........6
3.1.2. Nghiên cứu tổng hợp oxit sắt đỏ (-Fe2O3) bằng phương pháp thuỷ nhiệt ..10
3.1.3. Biến tính hữu cơ hoá các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4 ....................................14
3.1.3.1. Biến tính hữu cơ hoá các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4 với tác nhân silan ..14
3.1.3.2. Biến tính hữu cơ hoá các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4 với chất ức chế Alkyl
ammonium 2-benzothiazolythio succinic acid ..........................................16
3.1.4. Chế tạo các tổ hợp nanocompozit epoxy chứa các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4;
nano oxit sắt từ hữu cơ hóa cho nền thép cacbon và Đánh giá khả năng bảo vệ
TT Chức danh, học vị, họ và tên
1
PGS.TS. Nguyễn Xuân
Hoàn
2
PGS.TS. Nguyễn Thị Cẩm
Hà
3
TS. Nguyễn Minh Ngọc
4
NCV. Nguyễn Thị Dung
5
PGS.TS. Trịnh Anh Trúc
Đơn vị công tác
Khoa Hóa học, Trường
Đại học Khoa học Tự
nhiên, ĐHQG Hà Nội
Khoa Hóa học, Trường
Đại học Khoa học Tự
từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014
6. Sản phẩm đã đăng ký:
6.1. Sản phẩm khoa học công nghệ:
+ Tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia: 01
+ Tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế (gửi đăng): 01
+ Báo cáo trình bày (oral hoặc poster) tại Hội nghị, Hội thảo khoa học quốc tế,
quốc gia: 01
+ 50 g sản phẩm hạt sắt từ Fe3O4 có kích thước nanomet dùng cho việc nghiên cứu
quá trình hữu cơ hoá và để chế tạo lớp phủ nanocompozit.
1
+ 60 mẫu sản phẩm tổ hợp nanocompozit epoxy chứa các hạt nano oxit sắt từ
Fe3O4 (tổng hợp), -Fe2O3 (tổng hợp, thương mại) biến tính và không biến tính
hữu cơ phủ trên nền thép cacbon (kích thước 10x15 cm2) dùng để khảo sát quá
trình bảo vệ chống ăn mòn thép cacbon trong dung dịch NaCl 3%.
6.2 . Sản phẩm đào tạo:
Nghiên cứu sinh (hỗ trợ đào tạo một phần): 01 NCS (NCS. Nguyễn Thu Trang).
Thạc sĩ : 01 HVCH
Cử nhân/ Cử nhân nhiệm vụ chiến lược, sinh viên nghiên cứu khoa học: 01 – 02.
6.3. Các sản phẩm khác:
7. Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài, dự án: 170 triệu đồng.
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu
- Tạo lớp phủ bảo vệ chống ăn mòn kim loại thân thiện môi trường thông qua việc
nghiên cứu hoạt tính và bản chất của lớp phủ polyme nano compozit nền epoxy sử
dụng oxit kim loại kích thước nanomet để bảo vệ chống ăn mòn thép cacbon.
- Xác định khả năng bảo vệ của các lớp phủ trên cơ sở sử dụng các hạt nano oxit
oxit sắt đỏ (-Fe2O3, hematit) trên nền thép cacbon kỹ thuật.
Đánh giá tính chất cơ lý màng compozit: độ bám dính và/hoặc độ bền va
đập.
Khảo sát khả năng bảo vệ chống ăn mòn của các lớp phủ bằng phương pháp
tổng trở điện hóa.
Mô hình hóa và đưa ra các sơ đồ mạch điện tương đương cho phép xác định
tính chất điện hóa của màng và tính toán các thông số điện hóa. Một số phép
phân tích cấu trúc khác cũng sẽ được khảo sát nghiên cứu (TEM, FESEM,
IR, DSC, …).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu, đặc trưng tính chất cho vật liệu chế tạo
chính sau:
Xác định pha bằng nhiễu xạ tia X trên thiết bị nhiễu xạ D5005 Siemens và D8
Advance Bruker (λCuKα = 1.5418 Å, 2θ steps = 0.03°/step).
Hình thái học bề mặt các hạt nano Fe3O4 và α-Fe2O3 chế tạo, mặt cắt của các
màng sơn chế tạo được quan sát trên thiết bị SEM Hitachi-S4800,
Các hạt nano Fe3O4 chế tạo, và sau khi được biến tinh hữu cơ hóa với các tác
nhân 3-Aminopropyl trimethoxy silan hoặc hợp chất 2-benzothiazolythio succinic acid;
3
Các màng sơn chế tạo được chụp phổ hồng ngoại trên thiết bị FT-IR Nexus 670
Nicolet, và thiết bị Jasco FTIR/6300.
Đo điện thế bề mặt hạt và khảo sát độ bền các hạt vật liệu trước và sau khi biến
tính hữu cơ hóa theo môi trường thông qua thiết bị đo Zeta Phoremeter IV (CAD
instrumentation).
Khảo sát lượng chất hữu cơ hấp phụ trên thiết bị đo quang 2800/ UV-vis
spectrometer (Cole Parmer) và D4000 Hach, sử dụng cuvet thạch anh.
Tính chất từ (độ từ hóa bão hòa của vật liệu từ tính trên thiết bị đo từ kế mẫu
rung DMS 880 - Digital Measurement Systems.
cứu đã công bố, các hạt nano được sử dụng phổ biến nhất là SiO2, TiO2, ZnO, Al2O3, nano
clay, cacbon nanotube,... Các hạt/sợi này được thêm vào nền epoxy, alkyd hoặc polyanilin như
một hệ nanocompozit để bảo vệ chống ăn kim loại và đã ghi nhận được sự gia tăng khả năng
bảo vệ chống ăn mòn [3-7].
Với sự phát triển của khoa học công nghệ và vật liệu nano với các tính chất nổi trội của
vật liệu được phát hiện đã kéo theo một loạt các ứng dụng tiềm năng cho loại vật liệu này.
Trong số đó, các hạt nano có từ tính như FeO, Fe3O4, Fe2O3, được tập trung nghiên cứu nhiều
từ năm 2000 trở lại đây. Nhờ có độ từ hóa bão hòa cao và ở dạng kích thước nano, và đồng
nhất về kích thước nó là đối tượng tiềm năng định hướng cho nhiều ứng dụng quan trọng: sử
dụng làm vật liệu hấp phụ asen trong quá trình xử lý nước nhiễm asen, trong sinh-dược học,
tách triết làm giàu AND, tác nhân tạo độ tương phản cho thiết bị cộng hưởng từ MRI, chế tạo
bio-sensơ, vật liệu dẫn truyền thuốc,… [8-11]. Với xu hướng phát triển các vật liệu tiên tiến,
việc nghiên cứu các polyme nanocompozit với hạt nano đa chức năng có thể đáp ứng được
nhu cầu chế tạo các vật liệu thông minh. Ví dụ một tổ hợp epoxy nanocompozit với hạt phân
tán là ống nano cacbon bao bọc bằng oxit sắt từ hoặc nano oxit sắt từ có thể tạo nên vật liệu
mang cùng lúc các tính chất quý báu như từ tính, quang điện, cảm biến, hấp thụ sóng điện từ…
[7,12-16]. Các hạt nano oxit sắt (FeO, Fe3O4, Fe2O3,…) đã được nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến ở dạng độc lập như một pigment trong các lớp phủ bảo vệ chống ăn mòn [17-21].
Những nghiên cứu này cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát, trong nhiều trường hợp cơ
chế vận chuyển và vi cấu trúc còn chưa được hiểu rõ. Vì vậy, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ
lưỡng hơn. Một điểm bất lợi trong phân tán nano Fe3O4 trong polyme nền là tính dễ co cụm
của hạt; vì vậy, việc xử lý hữu cơ hóa khi sử dụng trong màng là cần thiết, một mặt làm cho
hạt dễ phân tán hơn, mặt khác làm tăng khả năng tương thích của pha vô cơ và hữu cơ nền, tạo
thành màng đặc khít hơn, điều này chưa thấy đề cập đến trong các tài liệu tham khảo.
Tiếp cận những nghiên cứu trên thế giới và nhằm mở rộng hướng ứng dụng của vật
liệu này tại Việt Nam, trong nghiên cứu này chúng tôi điều chế vật liệu dạng bột nano Fe3O4
và nano α-Fe2O3 bằng phương pháp thủy nhiệt, và thực hiện biến tính hữu cơ hóa chúng với
các tác nhân hữu cơ hóa như Aminopropyl trimethoxy silane, muối alkyl ammonium của
axit 2-benzothiazolythio succinic; cơ sở đề chế tạo các tổ hợp nanocompozit epoxy chứa các
hạt nano oxit sắt định hướng ứng dụng làm các lớp phủ bảo vệ chống ăn mòn kim loại.
Hình 2 trình bày giản đồ nhiễu xạ tia X chụp mẫu tổng hợp Fe3O4
6
Intensity (a.u)
2 Theta (deg.)
Hình 2: Giản
Gi đồ nhiễu xạ tia X của mẫu
ẫu vật liệu Fe3O4.
Tất cả các pic trên
ên giản
gi đồ nhiễu xạ đều đặc trưng
ưng cho pha tinh th
thể của Fe3O4
(thuộc cấu trúc lập phương,
ương, nhóm đối
đ xứng Fd-3m, a = 8.393(1) Å, ICSD collection
code: 159959) [22, 23]. Không tìm thấy
th sự có mặt của các pha tạạp chất nào khác như
Fe2O3, FeO, hay FeOOH có mặt trên giản đồ nhiễu xạ.
Kết
ết quả chụp phổ hồng ngoại của mẫu Fe3O4: các pic đặc
ặc tr
trưng của liên kết Fe–
–1
O trong cấu trúc Fe3O4 tương ứng tại 586, 434 cm , các pic tại
nung ở nhiệt độ cao và làm nguội trong bình hút ẩm. Sản phẩm được phân tích nhiễu
xạ tia X, kết quả thu được chỉ ra trên hình 5.
Màu sắc bột oxit sắt:
Màu nâu – đỏ
Màu nâu
Màu nâu
Màu đen
Hình 5. Giản đồ của mẫu bột Fe3O4 tổng hợp bằng thủy nhiệt (150 oC/ 7 h) được nung
trong không khí tại các nhiệt độ: a) - 25 oC, b) - 190 oC, c) - 400 oC, d) - 650 oC.
Từ hình 5, ta có thể xác định được duy nhất pha γ-Fe2O3 cho 2 mẫu nano-Fe3O4
được nung tại nhiệt độ 190 oC và 400 oC, và pha α-Fe2O3 cho mẫu nung tại nhiệt độ
8
650 oC. Kết quả thu được là phù hợp với các phân tích từ giản đồ TG/DTA về sự
chuyển pha và dạng thù hình của Fe3O4 theo các bước: Fe3O4 γ-Fe2O3 α-Fe2O3.
Hình 6 là đường cong từ hóa của của mẫu bột Fe3O4 tổng hợp bằng thủy nhiệt
o
(150 C/ 7 h) và các mẫu bột Fe3O4 được nung trong không khí tại các nhiệt độ khác
nhau.
Sự chuyển dạng thù hình từ pha Fe3O4 sang pha γ-Fe2O3 đã làm giảm từ độ bão
hòa của vật liệu từ 79,9 emu/g xuống còn ~ 56 emu/g và gần như không còn từ tính khi
chuyển cấu trúc tinh thể hoàn toàn về pha α-Fe2O3 (~ 0,2 emu/g) là hoàn toàn phù hợp
với các nghiên cứu đã được công bố về tính chất từ của vật liệu [26, 29].
Hình 6. Đường cong từ hóa của của mẫu bột Fe3O4 được nung trong không khí tại các
nhiệt độ: a) - 25 oC, b) - 190 oC, c) - 400 oC, d) - 650 oC.
120 oC, trong 12h.
Để hiểu rõ hơn cơ chế và con đường hình thành vật liệu nano α-Fe2O3 bằng
phương pháp thủy nhiệt, phương pháp đo thế Zeta đã được sử dụng để khảo sát điện
thế bề mặt hạt vật liệu trước và sau khi phản ứng thủy nhiệt. Hình 9 là giản đồ thế Zeta
của mẫu trước khi thực hiện phản ứng thủy nhiệt (và không được lọc loại hết ion của
môi trường phản ứng) và sản phẩm của nó sau khi thực hiện phản ứng thủy nhiệt.
10
Có thể nhận thấy rằng, sau khi thực hiện kết tủa ion Fe3+ trong môi trường kiềm
của KOH, các tiền chất là sản phẩm Fe(OH)3 được tạo thành. Kết quả hoàn toàn phù
hợp khi xác định điện thế bề mặt chủ yếu tập trung ở giá trị dương. Khi không lọc rửa
tiền sản phẩm mà thực hiện phản ứng luôn trong môi trường còn chứa các ion của chất
phản ứng thì sản phẩm thu được không phải là α-Fe2O3 mà chỉ thu được pha α-FeOOH.
Một cách tương tự cũng chỉ thu được sản phẩm oxi hidroxit của Fe khi thay đổi pH của
môi trường phản ứng cũng như nhiệt độ và thời gian phản ứng.
Trước thủy nhiệt
Sau thủy nhiệt
Hình 9. Giản đồ phân bố điện thế bề mặt của tiền sản phẩm (a) và sản phẩm phản ứng
thủy nhiệt (b), giản đồ XRD và phổ FT-IR của sản phẩm thủy nhiệt tương ứng.
Hình 10 là ảnh chụp SEM của một mẫu bột α-FeOOH. Ta thấy chủ yếu vật liệu
có hình dạng que hoặc dạng tấm với kích thước không đồng đều.
11
Hình 10: Ảnh chụp SEM của
c một mẫu bột α-FeOOH ở các độ phóng đại khác nhau.
ập trung chuyển dịch về
điện
ện tích 0, phổ hồng ngoại chụp cho thấy sản phẩm không còn
c lẫn
ẫn ion vvà các liên kết
chỉ đặc trưng
ưng cho pha ferrihydrit. Tiếp
Ti tục phân tán tiền sản phẩm
ẩm đđã lọc rửa sạch trong
môi trường KOH và điều
ều chỉnh pH ~ 8 và
v thực
ực hiện phản ứng thủy nhiệt theo quy tr
trình,
kết quả như sau: Hình 12a
12 là giản đồ nhiễu xạ tia X của vật liệu α-Fe
Fe2O3 tổng hợp.
12
(a)
(b)
(c)
Hình 12. Giản đồ nhiễu xạ tia X (a), ảnh chụp SEM (b) và đường cong phân bố cỡ hạt
bằng tia Laser (c) của α-Fe2O3
Từ giản đồ nhiễu xạ tia X so sánh giữa mẫu tổng hợp với giản đồ chuẩn của αFe2O3, có thể nhận thấy rõ ràng sự có mặt của pha α-Fe2O3 được xác định bởi các đỉnh
định trên máy đo thế điện động (thế Zeta). Khi phân tán trong môi trường nước cất, thế
bề mặt của các hạt tập trung chủ yếu ở giá trị –40 mV. Giá trị thế Zeta trung bình đo
được là –39,07 mV. Giá trị điện thế âm có thể giải thích do sự gắn kết của các nhóm
hyđroxyl có mặt trong môi trường phản ứng lên trên bề mặt hạt α-Fe2O3. Ta có thể kết
luận các hạt α-Fe2O3 tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt phân tán tồn tại bền trong
môi trường phân tán nước cất. Trên đồ thị tập trung đơn pic nên có thể kết luận hạt αFe2O3 điều chế được có sự phân bố điện tích các hạt khá đồng nhất và cũng có thể
ngoại suy sự tương đồng về kích thước hạt của vật liệu α-Fe2O3 tổng hợp, kết quả thu
được khá phù hợp với ảnh chụp SEM và đường cong phân bố về kích cỡ hạt của vật
liệu đã chỉ ra trên hình 12b,c.
3.1.3. Biến tính hữu cơ hoá các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4
3.1.3.1. Biến tính hữu cơ hoá các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4 với tác nhân silan
Cân x gam hạt sắt từ Fe3O4 (với tỉ lệ khối lượng silan/hạt là 20%), Pha 100 ml
hỗn hợp cồn/ nước cất 2 lần (tỉ lệ 19/1) vào bình nón, khuấy đều 10 phút. Cho thêm 1.0
ml silan đưa vào bình nón và tiếp tục khuấy trong 10 phút để thủy phân silan, sau đó
cho từ từ x gam hạt Fe3O4 đã chuẩn bị từ trước vào hỗn hợp. Khuấy đều khoảng 5 phút
sau đó đưa vào bình siêu âm trong 10 phút, Giữ hỗn hợp ở nhiệt độ 60oC và khuấy liên
tục trong 60 phút. Lọc thu hồi sản phẩn trên giấy lọc, tráng rửa bằng etanol để loại silan
dư chưa phản ứng. Sau đó sấy khô ở nhiệt độ 50oC/ 1h.
Sau khi biến tính ghép nano Fe3O4-silan ta tiến hành đo khảo sát các liên kết
trong vật liệu tổng hợp thu được bằng phương pháp đo hồng ngoại IR (FTIR). Các mẫu
14
silan được chọn là N-(2-Aminoethyl)-3-aminopropyl trimethoxy silane (viết tắt là NAPS) và Aminopropyl trimethoxy silane (viết tắt là γ-APS).
Hình 14: Phổ hồng ngoại FTIR của (a) Fe3O4 chưa biến tính silan, (b) Fe3O4 biến tính
với -APS và (c) Fe3O4 biến tính với N-APS
Từ phổ hồng ngoại (FTIR) của Fe3O4 chưa biến tính silan, Fe3O4 biến tính với APS và N-APS, ta thấy có các liên kết pic với cường độ khá rộng trong vùng bước
sóng 3400-3447 cm–1 đặc trưng cho dao động hoá trị của nhóm –OH, và pic ở vị trí
khoảng 1626 cm–1 đặc trưng cho dao động biến dạng của nhóm –OH. Các pic tại 1057
th cả 3 mẫu đều xuất hiện píc nhưng
ưng píc ccủa mẫu nano Fe3O4
biến tính với γ-APS là lớn
ớn nhất, nhỏ nhất là
l mẫu nano Fe3O4. Từ
ừ cũng cho thấy các hạt
đã có sự
ự dịch chuyển điện thế về vùng dương do sự
ự thay thế nhóm –OH– trên bề mặt
bằng nhóm –CH2 và Si––O làm cho điện thế bề mặt hạt Fe3O4 lớn
ớn hhơn khi chưa ghép
silan, giá trịị thế Zeta của mẫu Fe
F 3O4 là -23,1 mV thì giá trịị thế Zeta của 2 mẫu ghép
silan lần lượt là –15,99
15,99 mV và –16,71 mV.
3.1.3.2. Biến
ến tính hữu cơ
c hoá các hạt nano oxit sắt từ Fe3O4 với chất ức chế
Alkyl ammonium 2-benzothiazolythio
2
succinic acid
Bình nón chứa 100ml
00ml dung dịch
d
cồn-nước tỉ lệ cồn/nước
ớc = 19/1 hhòa tan 20%
chất
ất ức chế muối alkyl ammonium của axit 2-benzothiazolythio
2 benzothiazolythio succinic ((Alkyl
ammonium 2-benzothiazolythio
ình phân hủy
h nhiệt của hợp chất Irgacor 153, hoàn toàn kh
khẳng định
sự
ự có mặt của các chất ức chế trên
tr bề mặt hạt nano sắt từ.
16
Labsys TG
Figure:
Experiment: FO-L02
16/09/2011
Procedure: RT ----> 800C (10C.min-1) (Zone 2)
Crucible: PT 100 µl
Mass (mg): 63.35
TG/%
HeatFlow/µV
d TG/%/min
TG
-1.5
-20
-1
-2.0
-40
Mass variation: -2.92 %
-2
-2.5
-60
-3
0
100
Labsys TG
200
300
Exo
dTG
40
Peak :415.84 °C
8.4
Peak :191.97 °C
Peak :257.30 °C
20
Peak :646.44 °C
-2
5.6
DTA
2.8
0
0.0
-4
TG
500
600
700
Furnace temperature /°C
Hình 16: Giản đồ phân tích nhiệt vi sai TG/DTA mẫu Fe3O4 sau khi hấp phụ chất ức
chế Irgacor 153 theo 2 cách khác nhau.
Kết quả chụp hồng ngoại (hình 17) cho thấy các pic đặc trưng cho phân tử
Irgacor 153 [36, 37], đã khẳng định các hạt đã hấp phụ các phân tử chất ức chế.
100.0
110.0
95
100
90
3902
90
80
Độ truyền qua (%)
Độ truyền qua (%)
45
40
35
30
3397
25
20
15
10
5
632
2559
2337 2177
2856
2925
1261
866
2032
1118
1396
80
3200
2800
2400
2000
1800
cm-1
1600
1400
1200
1000
800
600.0
-1
3600
3200
2800
Để xác định lượng chất ức chế Irgacor 153 đã hấp phụ trên oxit Fe3O4, chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu sự hấp phụ dựa trên thiết bị UV-Vis đã xác định được bước
sóng cực đại Abs = 292 nm. Bằng việc lập đường chuẩn để xác định lượng chất sau hấp
phụ trong môi trường etanol kết quả ghi trên hình 18
0.4
Do hap thu quang (Abs)
0.35
0.3
0.25
0.2
0.15
0.1
y = 0.0377x - 0.0111
0.05
2
R = 0.9955
0
-0.05
0
2
4
180
300
150
137,3
136,5
136,2
136
136,1
135,7
Tiếp khảo sát hấp phụ cực đại ứng với các hàm lượng chất ức chế khác nhau
trong môi trường ethanol tuyệt đối (bảng 4)
Bảng 4: Khảo sát hấp phụ cực đại của sự hấp phụ các phân tử hữu cơ Irgacor 153 trên
oxit Fe3O4.
Stt
C0
(mg/l)
Cs
(mg/l)
287,262
56,938
5,045
4
500
373,983
62,384
5,995
18
5
600
466,125
66,275
7,033
6
2000
1788,617
103,619
17,262
Trong đó: C0: nồng độ đầu của Irgacor 153; Cs: nồng độ Irgacor 153tại cân bằng
hấp phụ; Γ : Đại lượng hấp phụ
Từ dữ liệu thực nghiệm và mô hình hấp phụ Langmuir tính toán được đại lượng
hấp phụ cực đại bằng 142 mg/g. Như vậy, lượng phân tử chất hữu cơ Irgacor 153 hấp
phụ trên 1 gam oxit Fe3O4 tương ứng xấp xỉ bằng 142 mg.
Bằng phương pháp đo thế Zeta trong của hạt oxit Fe3O4 trước và sau khi biến
tính hữu cơ hóa với chất ức chế Irgacor 153 trong môi trường etanol ta thu được kết
quả trong bảng 5.
Bảng 5: Điện thế bề mặt của mẫu Fe3O4 và Fe3O4 hấp phụ các phân tử Irgacor 153
Điện thế bề mặt (mV)
Trung bình
(mV)
Fe3O4
40,83
40,10
39,76
có độ mịn 400, rửa sạch bằng nước cất, cồn tuyệt đối và sấy khô. Màng sơn được tạo
trên mẫu thép bằng máy tạo màng spin-coating.
Cân vật liệu nano Fe3O4 hoặc -Fe2O3, (có và không biến tính hữu cơ hóa)
nghiền mịn trong cối mã não khoảng 15 phút rồi đưa toàn bộ số hạt vào cốc (100ml
19
hoặc 50ml). Thêm dung môi trợ phân tán, siêu âm khoảng 15 phút cho hạt phân tán
hoàn toàn. Sau đó tiếp tục thêm từ từ epoxy vào hỗn hợp trên, vừa rung siêu âm. Cuối
cùng cho thêm 1 lượng đóng rắn nhất định vào hỗn hợp, khuấy nhẹ rồi tiến hành tạo
màng sơn.
3.1.4.1. Khả năng bảo vệ chống ăn mòn của lớp phủ bảo vệ có chứa oxit sắt
Nghiên cứu tính chất bảo vệ của màng epoxy có chứa nano oxit sắt được tiến
hành với 4 mẫu sơn: mẫu epoxy không chứa phụ gia, mẫu epoxy chứa 1% nano Fe3O4,
nano -Fe2O3 và nano γ-Fe2O3. Khả năng bảo vệ chống ăn mòn của màng sơn được
khảo sát bằng phương pháp đo tổng trở điện hóa theo thời gian ngâm trong môi trường
NaCl 0,5M.
Hình 19 trình bày phổ tổng trở dạng Bode của màng sơn epoxy và epoxy chứa
nano oxit sắt sau 1 ngày, 14 ngày và 70 ngày thử nghiệm trong dung dịch NaCl 0,5M.
Phổ tổng trở của 4 mẫu sơn khác nhau, cả dạng phổ và giá trị tổng trở. Đối với
mẫu sơn epoxy không chứa phụ gia (hình 19a), sau 1 ngày thử nghiệm phổ tổng trở có
1 bậc thang trên nhánh modul và 1 điểm uốn ở vùng tần số cao trên nhánh góc pha, thể
hiện khả năng ngăn cách của màng. Tuy nhiên, sau 2 tuần thử nghiệm, giá trị modul và
góc pha đồng thời sụt giảm. Theo các tài liệu công bố, sự sụt giảm này do sự bong rộp
màng sơn, hậu quả của sự thẩm thấu nước và chất điện ly qua màng. Sau thời gian dài
thử nghiệm (70 ngày), đường góc pha của mẫu epoxy xuất hiện thêm 1 điểm uốn ở
vùng tần số thấp, đặc trưng cho quá trình điện hóa xảy ra tại ranh giới màng/bề mặt
kim loại.
Đối với mẫu sơn epoxy chứa nano -Fe2O3 (hình 19b), đường modul tổng trở có
1 bậc thang ở vùng tần số cao và một đường thẳng ở vùng tần số thấp, đường thẳng này
60
7
40
6
20
5
(b)
(a)
3
-2
0
-1
0
1 2 3
Log tần số (Hz)
4
4
5
0
-2
7
40
6
20
(d)
4
0
-2
60
5
(c)
3
8
0
-2
5
-1
80
9
Log Z (Ω.cm2)
8
Log Z (Ω.cm2)
Góc pha (độ)
60
6
Log Z (Ω.cm2)
8
GócDpha (độ)
Log Z (Ω.cm2)
7
đó giữ ổn định ở giá trị thấp, thấp nhất so với các mẫu khác. Giá trị Z100mHz của mẫu
epoxy chứa 1% nano -Fe2O3 và γ-Fe2O3 giảm dần theo thời gian, sau 70 ngày thử
nghiệm Z100mHz của mẫu chứa -Fe2O3 đến giá trị của mẫu epoxy. Sự biến thiên của
giá trị Z100mHz của mẫu chứa nano γ-Fe2O3 giồng mẫu chứa nano -Fe2O3 nhưng giá trị
40
60
80
Thời gian thử nghiệm (ngày)
Hình 20: Biến thiên của giá trị modul tổng trở tại tần số 100 mHz theo thời gian thử
nghiệm trong môi trường NaCl 0,5M của mẫu sơn epoxy (○), epoxy chứa nano
-Fe2O3 (×), epoxy chứa nano γ-Fe2O3 () và epoxy chứa nano Fe3O4 (●)
Các kết quả đo tổng trở điện hóa của màng sơn epoxy chứa nano oxit sắt khác
nhau cho thấy sự có mặt của nano oxit sắt ở hàm lượng thấp (1%) làm gia tăng khả
năng bảo vệ chống ăn mòn của màng sơn epoxy. Trong số các loại nano oxit sắt sử
dụng, nano oxit sắt từ (Fe3O4) có khả năng gia cường tốt nhất cho màng sơn epoxy.
Kết hợp với phương pháp đo tổng trở điện hóa, các tính chất cơ lý của màng sơn
chứa nano oxit sắt cũng được khảo sát. Bảng 6 trình bày các tính chất cơ lý của mẫu
sơn epoxy và epoxy chứa nano oxit sắt trên hệ đo Adhesion Tester model 525 theo tiêu
chuẩn ASTM D-4541 và ISO D-58675.
22
Bảng 6: Kết quả đo độ bám dính và độ bền va đập của các màng sơn epoxy chứa nano
oxit sắt
Độ bám dính
Độ bền va đập
Các kết quả nghiên cứu trên bảng 6 cho thấy, khi thêm nano oxit sắt vào màng
sơn epoxy, các tính chất cơ lý của màng sơn được cải thiện, mức độ gia tăng tùy thuộc
vào loại oxit sắt. Màng sơn epoxy chứa nano Fe3O4 có tính chất cơ lý cao nhất (độ bám
dính 1,64 MPa và độ bền va đập 200 kg cm), màng sơn epoxy chứa α-Fe2O3 có tính
chất cơ lý thấp nhất (độ bám dính và độ bền va đập nhỏ nhất).
Các kết quả khảo sát khả năng bảo vệ chống ăn mòn của màng sơn epoxy chứa
các nano oxit sắt α-Fe2O3, γ-Fe2O3 và Fe3O4 cho thấy sự có mặt của nano oxit sắt chỉ
với hàm lượng thấp 1%, tính chất bảo vệ chống ăn mòn và tính chất cơ lý của màng
sơn epoxy được gia tăng, trong đó đáng kể nhất là màng sơn epoxy chứa nano Fe3O4.
3.1.4.2. Khả năng bảo vệ chống ăn mòn của lớp phủ bảo vệ nano Fe3O4 với nano
Fe3O4 biến tính silan
Nano Fe3O4 được biến tính nano với 2 loại silan là N-(2-Aminoethyl)-3aminopropyl trimethoxy silane (viết tắt là N-APS) và aminopropyl trimethoxy silan
(viết tắt là -APS), sau đó các hạt nano biến tính (3%) được phân tán vào màng epoxy
để bảo vệ chống ăn mòn thép.
Hình 21 trình bày phổ tổng trở dạng Bode của màng sơn epoxy chứa nanoFe3O4 (Fe), nano-Fe3O4 biến tính N-APS (Fe-N-APS) và nano-Fe3O4 biến tính γ-APS
(Fe- γ-APS).
23