A. MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, chương trình giảng dạy ở tiểu học được chia làm hai
giai đoạn. Và ngay ở đầu giai đoạn hai, các en học sinh lớp 4 đã bắt đầu được
làm quen với môn học Lịch sử và địa lý. Phân môn Lịch sử có sự lôgic, hệ thống
theo trục thời gian giúp các em dễ ghi nhớ, dễ hiểu mang đến cho các em niềm
đam mê và thích tìm tòi sáng tạo. Còn phân môn Địa lý thì sao? Đây là môn học
mới mẻ và nó được tách ra từ môn TNXH lớp 1,2,3. Hệ thống kênh chữ nhiều
hơn kênh hình, ở phân môn này có nhiều từ ngữ các em mới bắt đầu làm quen
như: địa hình, nét văn hóa, đồng bằng châu thổ,…Hơn nữa mục tiêu của môn
học này yêu cầu học sinh phải nắm được các sự vật hiện tượng và các mối quan
hệ Địa lý ở các vùng miền chính trên đất nước Việt Nam.
Sự cần thiết học sinh phải tìm hiểu thiên nhiên và hoạt động sản xuất của
con người ở các vùng miền khác nhau, học sinh cần có kỹ năng phân tích bản
đồ, lược đồ, khai thác triệt để các kênh hình, kênh chữ trong SGK nhằm khám
phá ra kiến thức (dưới sự hướng dẫn của giáo viên), tiếp nhận kiến thức cho
mình để từ đó vận dụng vào thực tế cuộc sống. Qua đó bồi dưỡng cho học sinh
tình yêu quê hương, con người và đất nước Việt Nam ta. Đó chính là những kỹ
năng sống cơ bản mà một con người cần có: chủ động, tích cực và sáng tạo.
Điều này sẽ giúp ngành Giáo dục đạt được mục tiêu mà nhà nước đã đặt ra là:
“Đào tạo ra những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề
nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo,có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu
CNXH, sống lành mạnh (có kiến thức toàn diện) đáp ứng được nhu cầu phát
triển đất nước và chuẩn bị cho tương lai”.[6]
Các kiến thức địa lý được trình bày trong sách giáo khoa thông qua kênh
chữ, kênh hình là các lượt đồ, bản đồ, tranh ảnh. Tuy nhiên nếu ngày nào giáo
viên cũng lên lớp giảng bài cho học sinh với những tranh ảnh tĩnh cùng với bảng
đen phấn trắng thì sẽ gây nhàm chán cho học sinh và ngày càng làm cho học
sinh uể oải hơn và học sinh sẽ có cảm giác sợ môn Địa lí và sẽ có tâm lý học đối
phó. Hiện nay khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển, thì việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào dạy học là một điều tất yếu. Khi các em vừa tìm hiểu
trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa để làm nền cho quá trình
nghiên cứu, đề ra những giải pháp mang tính khả thi nhất.
+ Trao đổi, bàn bạc với giáo viên, học sinh khối 4,5 để nắm bắt thông tin về
tình hình thực tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
+ Tìm hiểu thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học khi dạy phân môn
Địa lý lớp 4 tại trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa từ đó phát hiện
vấn đề nghiên cứu và chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
+ Trao đổi với đông nghiệp về những thuận lợi, khó khăn trong việc dạy
học và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lý lớp 4.
c/ Phương pháp thông kê, xử lý số liệu:
Sau khi thu thập những số liệu điều tra thực tế về đổi mới phương pháp dạy
học phân môn Địa lý lớp 4 tại trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa,
tôi có những căn cứ để xây dựng cho mình những phương pháp, hình thức và
giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Địa lý và rút ra những kết
luận khách quan.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1/ Cơ sở lý luận:
Đặc điểm của học sinh Tiểu học là tiềm tàng khả năng phát triển nên người
giáo viên cần sáng tạo, sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học khác nhau để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mới và ôn tập kiến thức
cũ. Giáo viên cần giúp học sinh trải nghiệm và thử thách cộng với việc học tập
tích cực, chủ động, tự giác trên nhu cầu hứng thú, tương tác lẫn nhau, từ đó hình
thành kỹ năng, kỹ xảo để học kiến thức mới và ôn tập kiến thức cũ một cách có
hiệu quả.
Để học sinh tìm hiểu, phát hiện kiến thức và tự giác chiếm lĩnh kiến thức đó
người giáo viên phải là người năng động, sáng tạo và có vốn kiến thức vững, đổi
mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, chuẩn bị bài và đồ dùng dạy học
2
của trường, của phòng giáo dục.
+ Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy một số ít các đồng chí ngại đổi mới
phương pháp, ngại ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy vì cho rằng mất
thời gian, một số ít giáo viên hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức với nội
dung còn sơ sài, mang tính hình thức nên hiệu quả chưa cao.
+ Việc đổi mới các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh
còn hạn chế và chưa mạnh dạn, chưa tuyên truyền sâu rộng đến tận các bậc phụ
huynh và các em học sinh nên chưa làm cho các em thực sự yêu thích phân môn
Địa lý.
b/Thực trạng của học sinh:
+ Nga Trung là vùng nông thôn, học sinh có ít điều kiện tiếp xúc với công
nghệ thông tin tại gia đình.
+ Học sinh chưa hứng thú khi học phân môn Địa lý nên các em không thấy
được cái hay và sự thú vị của phân môn này.
3
+ Các em thiếu sự quan tâm của gia đình và điều kiện kinh tế còn gặp nhiều
khó khăn. Một số gia đình đã quan tâm chăm lo cho con em nhưng chỉ đầu tư cho
con em học môn Toán, Tiếng việt, Tiếng anh và coi phân môn Địa lý là môn phụ.
+ Chất lượng học sinh không đồng đều, một số em nhận thức chưa cao, tiếp
thu chậm. Học sinh lớp 4 lần đầu tiên được tiếp thu kiến thức mới đối với phân
môn Địa lý và được làm việc với bản đồ, lược đồ, tranh ảnh để tìm hiểu nội
dung của bài. Do vậy các em phân tích bảng số liệu, đọc và chỉ bản đồ, lược đồ
còn lúng túng, thậm chí học sinh chưa biết chỉ đúng bản đồ, lược đồ, kỹ năng chỉ
bản đồ, lược đồ còn hạn chế.
+ Việc quan sát các sự vật, hiện tượng địa lý, tìm tòi tư liệu, cách trình bày
kết quả bằng lời nói và cách diễn đạt còn hạn chế.
+ Một số học sinh chỉ học đối phó với thầy cô giáo khi kiểm tra bài cũ hoặc
%
13
46,4
17
60,7
15
53,6
Chưa hoàn thành
SL
%
0
03
10,7
03
10,7
Từ kết quả trên tôi nhận thấy rằng với hai phân môn đều do tôi trực tiếp
giảng dạy nhưng kết quả phân môn Địa lý rất thấp dẫn đến kết quả đánh giá
chung cho môn Lịch sử và địa lý là chưa đạt yêu cầu. Một phần cũng là do các
em chưa yêu thích môn học Địa lý nên kết quả thấp. Do đó tôi luôn trăn trở là
làm thế nào để học sinh thực sự yêu thích phân môn Địa lý.
Để khơi dậy niềm yêu thích môn học và nâng cao chất lượng học tập phân
môn Địa lý. Năm học 2018 – 2019, khi tôi được phân công chủ nhiện lớp 4B, tôi
đã tiến hành điều tra cụ thể về sự hiểu biết và sự ham thích môn học. Nhằm giúp
học sinh yêu thích môn học và chiếm lĩnh kiến một cách tự nhiên, hứng thú, bản
thân tôi suy nghĩ cần nắm vững nội dung, phương pháp và chuẩn bị bài giảng
của mình thật chu đáo, lời giảng hấp dẫn, phương pháp và hình thức tổ chức sinh
động, tạo hứng thú học tập cho học sinh trong từng hoạt động và suy nghĩ phải
làm gì để học sinh tiếp thu được kiến thức một cách hiệu quả nhất. Do vậy việc
Ví dụ 1: Khi dạy bài 17: Đồng bằng Nam Bộ – SGK trang 116, 117:
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc điểm tiêu biểu về mạng lưới sông
ngòi ở đồng bằng Nam Bộ. Trong SGK yêu cầu các em quan sát hình 2: Lược đồ
tự nhiên đồng bằng Nam Bộ và trả lời các câu hỏi:
+ Tìm và kể tên một số sông lớn, kênh rạch của đồng bằng Nam Bộ.
+ Nêu nhận xét về mạng lưới sông ngòi, kênh rạch của đồng bằng Nam Bộ.
Học sinh rất khó tiếp cận lĩnh hội kiến thức vì chữ quá nhỏ và rất trừu
tượng đối với các em. Nhưng khi tôi làm sống động lược đồ này được trình
chiếu trên máy, yêu cầu học sinh quan sát và thảo luận nhóm đôi để tìm hiểu thì
lại khác.
Khi học sinh báo cáo kết quả thảo luận, giáo viên trình chiếu để chốt kiến
thức: Khi các hiệu ứng chạy, học sinh sẽ nhìn thấy dòng chảy của sông Mê
Công, về đến Việt Nam thì chia thành hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, sau đó
đến sông Đồng Nai, Kênh Vĩnh Tế, Kênh Rạch Sòi, Kênh Phụng Hiệp. Từ đó
5
học sinh dễ dàng nhận ra: Đồng bằng Nam Bộ có mạng lưới sông ngòi, kênh
rạch dày đặc và chằng chịt.
Để mở rộng và khắc sâu kiến thức về tên sông Cửu Long (chín con rồng),
tôi cho học sinh quan sát lược đồ, sau đó khi trình chiếu và cho chạy các hiệu
ứng học sinh dễ dàng nhận ra dòng chảy của sông Mê Công về đến Việt Nam thì
chia thành hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, hai nhánh sông này đổ ra biển
bằng chín cửa sông nên có tên gọi là Cửu Long (chín con rồng).
Ví dụ 2: Khi dạy bài 11: Đồng bằng Bắc Bộ – SGK trang 98:
Ở hoạt động 1: Sau khi học sinh tìm hiểu về đặc điểm tiêu biểu về vị trí địa
lý, địa hình của đồng bằng Bắc Bộ giáo viên cho học sinh quan sát lược đồ và kể
sinh phải được trang bị một số kiến thức tối thiểu, cần thiết để biết cách làm việc
với bản đồ, lược đồ như: xác định phương hướng trên bản đồ, lược đồ; nắm được
ký hiệu trong bảng chú giải và có biểu tượng về những sự vật và đối tượng địa lý
trên bản đồ, lược đồ. Từ đó các em xác lập mối liên hệ địa lý đơn giản giữa các
yếu tố và các thành phần như địa hình và khí hậu; sông ngòi, thiên nhiên và hoạt
động sản xuất của con người. Trên cơ sở học sinh biết kết hợp những kiến thức
bản đồ, lược đồ và kiến thức địa lý để so sánh, phân tích, tổng hợp.
Như vậy, khi các em tìm hiểu kiến thức qua những hình ảnh sống động
không những các em sẽ nhớ rất lâu kiến thức mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng
7
bản đồ, lược đồ, giúp các em tự tin hơn, kích thích hứng thú học tập cho học
sinh và trong lớp ai ai cũng muốn thể hiện khả năng học tập của mình, rèn kỹ
năng ứng xử mạnh dạn, trình bày lưu loát trước đám đông.
3.2/ Sưu tầm các tư liệu thực tế, tạo dựng các đoạn phim ngắn:
Trong chương trình Địa lý lớp 4, ngoài việc tìm hiểu những kiến thức về
địa hình, khí hậu, đặc điểm tự nhiên tiêu biểu của vùng miền núi, trung du, đồng
bằng, miền duyên hải trên đất nước Việt Nam các em còn được tìm hiểu những
phong tục tập quán của các vùng đó, các điều kiện phát triển kinh tế, thương mại
du lịch. Nếu chỉ được quan sát những hình ảnh trong SGK và tìm hiểu qua kênh
chữ thì không thể thu hút trì tò mò, óc tìm tòi khám phá đất nước Việt Nam của
học sinh. Vì vậy tôi thiết nghĩ bằng những tư liệu thực tế sống động về đất nước,
con người, phong tục tập quán,…của những vùng đang học được đưa vào bài
giảng điện tử sẽ khiến giờ học trở nên hấp dẫn, các em như đang được đi du lịch,
tham quan những nơi đó. Như vậy các em sẽ rất hứng khởi, hồi hộp chờ đợi
được đến tiết học Địa lý để được tham gia vào quá trình tìm hiểu nội dung bài.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 4: Trung du Bắc Bộ – SGK trang 79, 80:
Ở hoạt động1: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh trên máy chiếu để mô
tả vùng Trung du Bắc Bộ và những loại cây trồng thích hợp được trồng ở vùng
“Chợ nổi Cái Răng nằm trên sông Cái Răng, gần cầu Cái Răng, cách
trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 6km đường bộ và mất 30 phút nếu đi
bằng thuyền từ bến Ninh Kiều (thành phố Cần Thơ - thủ phủ của Tây Đô cũ).
Đay là một nét văn hóa rất đặc sắc ở vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, thu
hút rất nhiều du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Nét độc đáo và đặc điểm
chính của chợ nổi Cái Răng là chuyên buôn bán các loại trái cây, đặc sản của
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chợ hoạt động tấp nập từ tờ mớ sáng với
nhiều lọai thuyền bè lớn nhỏ. Các cửa hàng hay các ghe thuyền thường không
có bảng hiệu, chợ bán sản vật gì người ta treo sản vật đó lên cây sào hoặc trên
mũi thuyền. Chợ Cái Răng thường họp khá sớm, thường từ lúc mờ sáng và đến
khoảng 8;9 giờ thì vãn. Những ghe bầu lớn thường chuyên thu mua trái cây để
chở đi các nơi, kể cả sang Campuchia và Trung Quốc. Lại cũng có những chiếc
ghe bầu chở các mặt hàng khác cung cấp cho bà con miệt vườn như: Xăng dầu,
mắm muối, thuốc tây, bánh kẹo và nhu yếu phẩm. Ai bán gì thì treo thứ ấy lên
ngọn sào cắm ở mũi thuyền, khách mua hàng từ xa trông thấy sẽ bơi xuồng đế
hỏi. Cũng như nhxng chợ nổi khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, chợ được hình
thành để đáp \sng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa khi đường bộ và các
phương tiện lưu thông đường bộ chưa phát triển. Ngày nay, dù mạng lưới giao
thông đường bộ đã phát triển rộng khắp nhưng chợ nổi vẫn tồn tại và phát triển
ngày một sầm uất hơn mang lại tiềm năng về kinh tế lẫn du lịch miền Tây sông
nước này.”
Khi các em được ngắm nhìn những hình ảnh thực tế phong cảnh tuyệt đẹp
về những con người, về thiên nhiên của những vùng đang học thông qua những
hình ảnh sinh động sẽ khiến giờ học trở nên sống động hơn, các em chiếm lĩnh
kiến thức một cách nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Các em mạnh dạn, tự tin, thích
thú hơn khi tham gia vào quá trình tìm hiểu kiến thức mới. Tạo môi trường học
tập thân thiện giữa giáo viên và học sinh.Tạo sự chờ đợi, hứng khởi cho các em
khi sắp được học phân môn Địa lý.
10
Ví dụ 2: Khi dạy bài Lịch sử bài 13: Nhà Trần và việc đắp đê. - SGK trang
39, 40: Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời: Nhà Trần thu được kết quả như thế
nào trong việc đắp đê? (Đến thời nhà Trần, hệ thống đê đã hình thành dọc theo
sông Hồng và các con sông lớn khác ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hệ
thống đê điều này đã góp phần giúp cho nông nghiệp phát triển và sử sách đã
ghi lại rằng, nhà Trần là “Triều đại đắp đê”.)
*/ Giáo viên nêu yêu cầu để học sinh ôn lại kiến thức ở tiết dạy Địa lý bài
11: Đồng bằng Bắc Bộ - SGK trang 98, 99:
11
Giáo viên yêu cầu học sinh củng cố lại kiến thức về tác dụng của hệ thống
đê ngăn lũ ở đồng bằng Bắc Bộ: Đồng bằng Bắc Bộ có nhiều sông ngòi. Vào
mùa hạ mưa nhiều, nước các sông dâng cao thường gây ngập lụt ở Đồng bằng.
Do vậy người dân nơi đây đã đắp đê dọc 2 bên bờ sông để ngăn lũ lụt với tổng
chiều dài hệ thống đê lên tới hàng nghìn ki - lô - mét. Đó là một công trình vĩ
đại của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với thời gian hệ thống đê ngày
càng được đắp cao và vững chắc hơn. Ngày nay, kế tục nền tảng cha ông, hệ
thống đê điều được củng cố, kiên cố hóa bằng nhiều kênh, mương để tưới tiêu
nước cho đông ruộng.
MỘT ĐOẠN ĐÊ SÔNG HỒNG
Cảnh đắp đê dưới thời Trần (tranh vẽ)
Ví dụ 3: Khi dạy Lịch sử bài 28 : Kinh thành Huế – SGK trang 67, 68 và
yêu cầu học sinh mô tả kiến trúc độc đáo của quần thể kinh thành Huế: Là một
tòa thành rộng lớn, dài hơn 2km, nằm bên bờ sông Hương. Đây là tòa thành đồ
sộ, một công trình lao động sáng tạo và tài hoa của nhân dân ta và đẹp nhất
nước ta thời nhà Nguyễn.
+ Giáo viên sẽ kết hợp liên hệ với nội dung bài Địa lý bài 27: Thành phố
nghĩ, hiểu biết và rèn luyện kỹ năng nói. Nó cũng cho phép học sinh có cơ hội
để học hỏi từ bạn,pháp huy vai trò trách nhiệm, điều đó làm phát triển kỹ năng
xã hội và tính cách của học sinh, đặc biệt là kỹ năng phối hợp và hợp tác với các
bạn khác.
Sau khi đã quan sát xong học sinh sẽ xử lý thông tin đã thu thập được, đối
chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp, nhận xét, khái quát hóa và trình bày kết quả.
Giáo viên sẽ quan tâm, nêu câu hỏi để cùng học sinh trao đổi nhằm khẳng định
và hoàn thiện kết quả quan sát.
Ví dụ 1: Khi dạy bài: Dãy núi Hoàng Liên Sơn – SGK trang 70, 71:
Giáo viên cho học sinh quan sát các bức tranh sau, thảo luận nhóm đôi chỉ
và nêu đặc điểm về đỉnh, sườn, thung lũng của dãy núi Hoàng Liên Sơn: Là dãy
núi cao, đồ sộ nhất nước ta, có nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng hẹp và
sâu. Có đỉnh Phan - xi - păng cao nhất nước ta (cao 3143m) và được gọi là
“nóc nhà” của Tổ quốc.
13
Ví dụ 2: Khi dạy bài 29: Biển, đảo và quần đảo. – SGK trang 149, 150:
Để hình thành khái niệm về đảo và quần đảo: Giáo viên cho học sinh quan
sát một hòn đảo, quần đảo bằng tranh ảnh, băng hình trả lời một số câu hỏi:
+ Trong lớp ta em nào đã thấy đảo? Ở đâu? Khi nào?
+ Em hãy mô tả cho bạn ngồi bên cạnh nghe hoặc vẽ về một hòn đảo mà
em đã nhìn thấy?
Sau khi khai thác kinh nghiệm sống của các em, giáo viên cùng học sinh
đưa ra nhận định chung về các dấu hiệu chung và bản chất của đảo: Đất nổi, có
nước bao bọc xung quanh.
Học sinh nêu khái niệm: Đảo là bộ phận đất nổi xung quanh có nước biển
và đại dương bao bọc. Và nơi tập trung nhiều đảo gọi là quần đảo.
ĐẢO MUN – NHA TRANG
hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trung
Quốc lộ rõ tham vọng của mình về biển Đông bằng yêu sách Đường lưỡi bò
trong đó bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.)
Sau đó giáo viên chốt: Từ xưa đến nay trong bản đồ Việt Nam cũng như
trong lịch sử nước nhà hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền
Việt Nam. Vậy mà nay Trung Quốc coi hai quần đảo này và hầu hết diện tích
biển trong khu vực này là của mình.Việc làm đó của Trung Quốc là không có
căn cứ và đi ngược với lịch sử. Chúng ta phải khẳng định rằng: Trong lịch sử
nước nhà từ xưa đến nay và mãi mãi về sau hai quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam. Trong các tư liệu cổ và các bản đồ cổ Việt Nam
và Trung Quốc đều khẳng định hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của
Việt Nam.
+ Với tư cách là người chủ tương lai đất nước, với tình yêu biển em sẽ làm
gì cho biển đảo quê hương?
(Chúng em sẽ trân trọng, giữ gìn môi trường, chủ quyền biển đảo, học tập
tốt để xây dựng các huyện đảo của ta ngày càng phát triển hơn. Bảo vệ chủ
quyền quốc gia là trách nhiệm của tất cả mọi người dân Việt Nam.)
Ngoài ra tôi còn tổ chức các hoạt động khác như: Vẽ tranh: Em yêu biển
đảo quê hương; Hoàng Sa - Trường Sa trong trái tim em; viết bài với chủ đề: Vì
Trường Sa thân yêu, biển đảo quê hương.
15
Học sinh lớp 4B tham gia cuộc thi vẽ tranh: Em yêu biển đảo quê hương Việt Nam
Học sinh lớp 4B tham gia viết bài với chủ đề: Vì Trường Sa thân yêu, biển đảo quê hương
Dưới hình thức tổ chức dạy học này, các em học sinh sẽ có dịp nói lên tâm
tư tình cảm của mình đối với biển đảo; thể hiện tình yêu quê hương đất nước, sự
trân trọng và biết ơn những người chiến sỹ đã hi sinh và cả những chiến sỹ đang
+ Câu 3: Ô số 3: Có 6 chữ cái, đảo Phú Quốc nổi tiếng trồng loại cây này?
+ Câu 4: Ô số 4: Có 7 chữ cái, đây là một quần đảo lớn ở ngoài khơi miền
Trung và thuộc thành phố Đà Nẵng?
+ Câu 5: Ô số 5: Có 3 chữ cái, một bộ phận đất nổi, xung quanh có nước
biển và đại dương bao bọc gọi là gì?
+ Câu 6: Ô số 6: Có 6 chữ cái, đây là địa danh ghi dấu các chiến sỹ cách
mạng thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu?
17
+ Câu 7: Ô số 7: Có 7 chữ cái, nơi tập trung nhiều đảo gọi là gì?
+ Câu 8: Ô số 8: Có 8 chữ cái, tên một quần đảo nổi tiếng ở ngoài khơi
miền Trung và thuộc tỉnh Khánh Hòa?
Ví dụ 2: Khi dạy bài 5: Tây Nguyên - SGK trang 82, 83:
Tôi tổ chức cho các em chơi trò chơi: Em là hướng dẫn viên du lịch. Học
sinh sẽ chọn và dựa vào tranh minh họa cùng với kinh nghiệm sống của mình để
tự mình giới thiệu về cao nguyên mà em lựa chọn được.
Ví dụ: Khi học sinh giới thiệu về cao nguyên Đắc Lắc, cao nguyên Lâm
Viên: Học sinh dựa vào tranh, viết bài sau đó thuyết minh:
CAO NGUYÊN ĐẮK LẮK
NGÃ 6 BUÔN MA THUỘT
LỄ HỘI CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT
CAO NGUYÊN LÂM VIÊN
18
Bài thuyết minh của em Trịnh Phương Chi lớp 4B về cao nguyên Đắk Lắk
của học sinh và học sinh sẽ rất hào hứng xung phong làm hướng dẫn viên du
lịch, người dẫn chương trình hay tự tin tham gia vào các chương trình rung
chuông vàng. Tất nhiên những bài đầu học sinh còn lúng túng, nói chưa lưu loát,
giáo viên cần hướng dẫn giúp đỡ. Nhưng đến những bài sau, các em sẽ tiến bộ
hơn, thêm nhiều kinh nghiệm khi trình bày trước đám đông. Do đó tiết học sẽ
giảm áp lực căng thẳng cho học sinh, học sinh sẽ được ôn tập, củng cố, hệ thống
lại kiến thức một cách nhẹ nhàng và tự nhiên.
4/ Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Như vậy việc sử dụng phương pháp dạy học cho học sinh đối với phân môn
Địa lý cũng quan trọng không kém các môn học khác. Giáo viên phải hình thành
cụ thể, rõ ràng, có lôgic, không được đưa các em vào thế áp đặt, phải để các em
làm chủ bài học, làm chủ kiến thức của mình để từ đó các em chiếm lĩnh kiến
thức và vận dụng một cách hiệu quả nhất. Đây là cơ hội để học sinh tiếp tục phát
triển năng lực, kỹ năng quan sát, sử dụng, nhận xét, so sánh, phân tích, tiếp tục
phát triển khả năng diễn đạt và tập suy luận theo mục tiêu môn học, chất lượng
dạy học ngày càng vững chắc và ổn định. Từ đó bồi dưỡng cho các em tình yêu
thiên nhiên đất nước, yêu con người Việt Nam và có ý thức bảo vệ môi trường.
Học sinh tự chủ động chiếm lĩnh kiến thức, tự tìm tòi để phát hiện kiến thức
mới. Từ đó các em dễ dàng rút ra khái niệm, nội dung chính của bài học, giúp
các em hiểu, nhớ và vận dụng tốt hơn.
Qua thực tế giảng dạy bản thân đã tiếp cận được phương pháp dạy học phát
huy tính tích cực của học sinh, phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học, tổ
chức giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả, được ban giám hiệu và đồng nghiệp
đánh giá cao.
Kết quả kiểm tra môn Lịch sử - Địa lý cuối tháng 3 năm học 2018 – 2019
của lớp 4B như sau:
Môn học
Sĩ số HS
%
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
20
1/ Kết luận:
Thay đổi tư duy dạy học, vận dụng linh hoạt các hình thức và phối hợp nhịp
nhàng các phương pháp dạy học. Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các
hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh không chỉ giúp học
sinh nắm được tri thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập mà còn hình
thành ở học sinh tính linh hoạt, mềm dẻo của tư duy. Có phương pháp thích hợp
sẽ đem lại kết quả lớn trong học tập, góp phần làm cho tiết học trở nên sinh
động, kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ của học sinh. Tạo được sự thi đua học
tập ở các em, nhất là đối với các em yếu kém, nhút nhát.
2/ Kiến nghị, đề xuất:
Nhà trường cần bổ sung sách tham khảo cho giáo viên, tư liệu về địa lý, bản
đồ, nam châm, tranh ảnh.
Ngoài việc giảng dạy và tổ chức của giáo viên chuyên môn thì tổng phụ
trách Đội cần thường xuyên phối hợp với địa phương, các đoàn thể, những
người có kiến thức về địa lý tổ chức sinh hoạt các buổi ngoại khóa, những buổi
nói chuyện về kiến thức địa lý để học sinh hiểu thêm về địa lý Việt Nam cũng
như kiến thức địa lý địa phương.
Từ lý thuyết đến thực tế giảng dạy môn Lịch sử và địa lý nói chung và phân
môn Địa lý lớp 4 nói riêng bản thân tôi đã thu được kết quả nhất định. Rất mong
được sự đóng góp ý kiến của ban giám hiệu nhà trường và các bạn đồng nghiệp
để kinh nghiệm có tính khả thi nhất và đạt hiệu quả cao khi dạy phân môn Địa lý
lớp 4góp phần phát triển toàn diện cho học sinh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
4
Tên SKKN
Nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho
học sinh lớp 4.
Một số biện pháp thực hiện có hiệu quả
phong trào thi đua: “Xây dựng trường
học thân thiện học sinh tích cực”
Kinh nghiệm ứng dụng Công nghệ thông
tin trong dạy học môn Địa lý lớp 5.
Một số biện pháp thực hiện đánh giá học
sinh theo Thông tư 30 góp phần đẩy
mạnh phong trào:“Xây dựng trường học
thân thiện học sinh tích cực” ở trường
Tiểu học Nga Trung, huyện Nga Sơn,
tỉnh Thanh Hóa.
Năm học
2006 - 2007
2008 - 2009
2010 - 2011
2015 - 2016
Xếp loại
Loại B cấp
tỉnh
Loại A cấp
huyện, Loại
C cấp tỉnh
THANH HÓA, NĂM 2019
25