MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
9
nghiệm
2.3. Một số biện pháp thực hiện trong quá trình dạy các yếu tố hình
học
Trang
1
1
1
0
trang bị các phương pháp, kĩ năng về hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn; bồi dưỡng và phát huy những thói quen, tư tưởng, tình cảm, những đức tính
tốt đẹp của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
hội nhập với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy chất
lượng giáo dục là vấn đề quan trọng hàng đầu để giúp con người phát triển một
cách toàn diện.
Trong hệ thống giáo dục Quốc dân thì giáo dục Tiểu học giữ một vị trí hết
sức quan trọng. Nó đặt cơ sở vững chắc cho toàn hệ thống giáo dục. Trong đó
môn Toán giữ một vai trò vô cùng quan trọng vì nó giúp cho học sinh phát triển
tư duy trừu tượng, tư duy logic và các kĩ năng tính toán cần thiết và thiết thực
cho đời sống hàng ngày của trẻ. Các kiến thức được truyền thụ rất toàn diện và
phong phú, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu rất cơ bản, tạo
cho các em tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với xã hội để
có khả năng học tiếp lên Trung học cơ sở. Môn Toán ở Tiểu học là môn học
chiếm thời lượng lớn chỉ sau môn Tiếng Việt đủ cho thấy tầm quan trọng của nó,
nó là hành trang để các em bước vào cuộc sống.
Trong dạy học toán ở bậc Tiểu học, phần dạy yếu tố hình học là một mạch
kiến thức vô cùng quan trọng, nó giúp cho học sinh giải quyết được các bài toán
thực tế trong cuộc sống.
Vì vậy, khi “dạy yếu tố hình học” trong toán học chúng ta cần phải dạy như
thế nào để đạt được hiệu quả tối ưu nhất? Đây chính là vấn đề vô cùng cấp thiết
và không hề đơn giản chút nào. Có lẽ đây không chỉ là những trăn trở, suy nghĩ
của riêng bản thân tôi, mà chắc chắn sẽ còn là của nhiều bạn đồng nghiệp khác
đang mang trên mình trách nhiệm to lớn của một người Thầy. Vì thế tôi đã đi
sâu tìm hiểu ''Một số biện pháp dạy yếu tố hình học cho học sinh lớp 3A
Trường Tiểu học Lương Sơn 2, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh hóa. ''
phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt và sáng tạo trong cách nghĩ,
cách làm. Trong đó “ yếu hình tố học” có thể nói là một bộ phận gắn kết mật
thiết với các mạch kiến thức của toán học để tạo thành một môn toán thống nhất.
Kiến thức hình học cùng với yếu tố đại số, đo lường và giải toán đã góp phần
làm phát triển toàn diện năng lực học toán của người học sinh.
“Yếu tố hình học” không chỉ là tiền đề để học tốt các môn học khác mà
còn là bàn đạp vững chắc cho nhiều ngành nghề khác nhau trong cuộc sống thực
tiễn, góp phần giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng, năng lực tư duy, sáng
tạo, kĩ năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, suy luận lô gíc
và rèn luyện tính cẩn thận, chính xác, sáng tạo.“Yếu tố hình học” còn cung cấp
cho học sinh những hiểu biết cần thiết về hình dạng, vị trí, kích thước... của các
vật với những tình huống toán học trong cuộc sống hằng ngày của các em. Cùng
với tri thức toán học “yếu tố hình học” còn rèn cho học sinh kĩ năng tính toán,
vẽ hình, đo đạc, ước lượng, sử dụng dụng cụ toán học. Đặc biệt là kĩ năng "Toán
học hoá" tình huống thực tế (đây là yếu tố rất cần thiết cho người lao động xã
hội mới).
Để đạt được các mục tiêu trên đòi hỏi ở mỗi giáo viên – học sinh phải có
một kế hoạch khoa học có định hướng cho việc dạy- học, đồng thời nó đòi hỏi ở
giáo viên – học sinh tính kiên trì trong quá trình thực nghiệm.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1. Thực trạng:
Trong cuộc sống của xã hội loài người, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế xã hội đòi hỏi mỗi con người cần phải có đủ đức, đủ tài, đủ năng lực trí
tuệ góp phần làm giàu cho đất nước. Vì vậy, kiến thức toán học nói chung và
2
yếu tố hình học nói riêng là một công cụ quan trọng không thể thiếu đối với mỗi
con người chúng ta.
được đề bài thì mới hiểu được yêu cầu của đề và tìm ra hướng giải, đặc biệt là
đối với các bài tập cần tóm tắt bằng hình vẽ, nếu không vẽ được hình thì khó có
thể giải được bài toán đúng.
- Về phía gia đình:
Do địa bàn ở đây là vùng nông thôn miền núi nên nền kinh tế còn nhiều
khó khăn. Đa số học sinh đến trường, gia đình chỉ quan tâm đưa đón các em khi
mới vào lớp 1, còn từ lớp 2, lớp 3 trở đi gia đình phó mặc cho nhà trường. Nhiều
gia đình bố mẹ không có khả năng kèm cặp, dạy dỗ con em mình học khi ở nhà,
để tự con học được đến đâu hay đến đấy.
3
Mặt khác, đối với chương trình lớp 3, nội dung yếu tố hình học được coi
như một bản lề khép lại giai đoạn 1 và là tiền đề mở ra một giai đoạn mới- giai
đoạn cuối của chương trình tiểu học. Nếu như chúng ta không biết phối hợp giữa
gia đình và nhà trường để giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về hình học
ngay từ lớp 3, thì càng lên lớp trên các em càng tỏ ra lúng túng, khó khăn hơn
rất nhiều.
2.2.2 Kết quả của thực trạng trên:
Đầu năm học (tháng 9 năm 2016) tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về
hình học của học sinh lớp 3A, kết quả thu được là:
Tổng số học sinh tham gia khảo sát: 18 em. Trong đó:
Tổng số
HS
Kiến thức
Kĩ năng
- Vẽ hình
9
50%
7
38,8 %
1
5,6%
9
50%
8
44,4 %
1
5,6%
10
56%
7
búa đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ cặn kẽ để đưa ra cách giải quyết sao cho
khoa học mà học sinh dễ hiểu, nhằm tránh sự lúng túng trong khi lên lớp. Cũng
từ đó xác định mục tiêu, phương pháp, đồ dùng dạy học, hệ thống câu hỏi khai
thác ở học sinh từ kiến thức cũ đã có, đi đến kiến thức mới một cách lô gíc và
hợp lí nhất, làm cho tiết học được tự nhiên mà học sinh ngày càng ham thích học
toán hơn.
2.3.3. Xác định mục tiêu cần đạt:
Một việc làm vô cùng quan trọng trước khi tiến hành cho một tiết dạy đó
là giáo viên cần xác định rõ mục tiêu, sau bài học đó học sinh sẽ nắm được
những kiến thức gì, hình thành và phát triển ở học sinh những kĩ năng nào; xác
định mức giới hạn của bài, để truyền đạt kiến thức sao cho vừa sức đối với học
sinh nhưng phát huy được vốn tích cực của các em, mà tránh được sự quá tải,
nặng nề trong tiết học. Thực tế, phần nhiều giáo viên khi soạn bài chỉ xem qua
loa phần mục tiêu trong sách giáo viên. Vì thế, họ không nắm chắc được mục
tiêu của tiết học nên rất lúng túng khi thực hiện bài dạy. Ngược lại, một số giáo
viên do quá say mê đi sâu khai thác, truyền thụ kiến thức cho học sinh mỗi lúc
một mở rộng thêm, dần dần vô tình đã làm cho học sinh quá tầm suy nghĩ mà trở
nên chán nản, không nắm được bài, làm cho tiết học không mang lại kết quả
cao. Chính vì lẽ đó mà giáo viên cần phải có khả năng tự xác định mục tiêu, nội
dung và giới hạn kiến thức của tiết học thì mới có thể chủ động, tự nhiên trong
quá trình dạy học.
2.3.4. Chuẩn bị đồ dùng cho mỗi tiết học:
Với đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học thì tư duy trừu tượng của
các em chưa phát triển, mà tư duy cụ thể chiếm ưu thế hơn. Vì vậy, ở mỗi tiết
học hình giáo viên đều phải chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo, bởi đồ dùng dạy
học vừa là phương tiện truyền tải thông tin, vừa là nội dung của quá trình truyền
thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh và điều khiển hoạt động
nhận thức cho các em từ trực quan đến tư duy trừu tượng.
Khi sử dụng đồ dùng dạy học, giáo viên cần chú ý mấy điểm sau:
+ Đồ dùng dạy học phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, đủ kích thước
Bước 1: Giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan để giúp học sinh có khái
niệm về hình.
Bước 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý giúp học sinh thực hành trên đồ dùng
trực quan để nhận ra đặc điểm về hình.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh vẽ hình.
Bước 4: Giáo viên đưa ra một số mô hình hình học khác nhau, đặt ở các
vị trí khác nhau để học sinh nhận dạng hình mới học. Khi học sinh đưa ra nhận
xét về hình, giáo viên nên đặt câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích'' vì sao?'' bởi từ
câu hỏi này đã nhắc nhở các em trở lại các căn cứ cơ sở về đặc điểm của hình
vừa học để trả lời.
Bước 5: Giúp học sinh liên hệ với các hình ảnh xung quanh lớp học và
ngoài thực tế về các vật có dạng hình vừa học.
Bước 6: Hướng dẫn học sinh làm bài tập.
Bước 7: Củng cố, dặn dò học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài ''hình vuông'':
6
Giáo viên cho học sinh quan sát hình vuông và giới thiệu ''đây là hình
vuông''.
Hỏi: Hình vuông gồm có mấy góc? Mấy cạnh? (4góc, 4cạnh)
-Yêu cầu học sinh dùng ê ke để kiểm tra các góc của hình vuông và trả lời câu
hỏi:
''các góc của hình vuông như thế nào?'' (đều là góc vuông).
-Yêu cầu học sinh lên đo 4 cạnh của hình vuông rồi trả lời câu hỏi:''em có nhận
xét gì về 4 cạnh của hình vuông?'' (4cạnh đều bằng nhau).
? Vậy hình vuông có đặc điểm gì? (có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau).
- Giáo viên rút ra kết luận về hình vuông và yêu cầu nhiều học sinh nhắc lại.
Hướng dẫn học sinh dùng thước và ê ke để vẽ hình vuông.
đếm số hình chữ nhật trong hình bên:
B
A
-Ta xét các hình chữ nhật tạo bởi 2 cạnh M
AB và MN và các đoạn thẳng nối các điểm
trên 2 cạnh AB, DC ta đếm được 10 hình P
chữ nhật.
D
N
Q
C
-Tương tự đếm các hình chữ nhật tạo bởi 2 cạnh MN và PQ, PQ và CD đều có
10 hình chữ nhật.
-Tiếp tục xét các hình chữ nhật tạo bởi 2 cạnh AB và PQ và các đoạn thẳng nối
các điểm trên 2 cạnh AB, DC ta đếm được 10 hình chữ nhật.
-Tương tự ta tính được số hình chữ nhật tạo bởi 2 cạnh MN và DC, AB và DC
đều có 10 hình.
Vậy số hình chữ nhật đếm được trong hình bên là:
10 + 10 + 10 + 10 + 10 + 10 = 60 (hình)
1.3. Đối với các bài tập dạng vẽ đoạn thẳng vào hình cho trước để được một số
hình theo yêu cầu, giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát kĩ hình, đếm số
hình đã có sẵn rồi xác định vị trí của đoạn thẳng trên hình để được số hình theo
yêu cầu. VD:Vẽ thêm đoạn thẳng vào hình dưới đây để có 9 hình chữ nhật:
Ta thấy trong hình đã có sẵn 3 hình chữ nhật. Trong đó
có 2 hình đơn và 1 hình đôi, cần xác định vị trí của đoạn
thẳng sao cho đoạn thẳng này cắt hình chữ nhật lớn làm
4 hình đơn và 4 hình đôi để khi kết hợp với một hình
lớn ta được 9 hình. Vậy có thể đặt đoạn thẳng ở các vị trí là:
- Giáo viên lưu ý nhấn mạnh các số đo chiều dài và chiều rộng phải cùng một
đơn vị đo.
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập vận dụng.
Khi học sinh đã nắm được quy tắc và vận dụng làm tốt các bài tập, giáo viên
cần đưa ra các câu hỏi giúp học sinh suy luận:
Hỏi:+ Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta lấy chiều dài cộng chiều rộng rồi nhân
với 2. Vậy muốn tính nửa chu vi hình chữ nhật ta làm thế nào?
+ Giáo viên chỉ vào chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật và hỏi: Tổng số
đo chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật là gì? (là nửa chu vi).
+ Khi biết chu vi và chiều dài muốn tính chiều rộng hình chữ nhật ta làm thế
nào? (Lấy chu vi chia cho 2 rồi trừ đi chiều dài).
+ Khi biết chu vi và chiều rộng, muốn tìm chiều dài hình chữ nhật ta làm thế
nào? (Lấy chu vi chia cho 2 rồi trừ đi chiều rộng).
- Cuối cùng giáo viên củng cố lại cách tính chu vi hình chữ nhật.
2.3.6.3. Dạng bài tính diện tích (gồm các nội dung: Diện tích hình vuông,
diện tích hình chữ nhật):
Trước hết giáo viên cần phải giúp học sinh nắm được khái niệm cơ bản về
diện tích chính là bề mặt của hình, từ đó làm rõ nguồn gốc thực tế của diện tích
bằng cách cho học sinh quan sát hình vẽ, tự xếp hình để đi đến cách tính diện
tích của hình.
Khi dạy dạng bài này ta cần thực hiện qua các bước đó là:
9
Bước 1: Ôn lại về diện tích.
Bước 2: Xác định diện tích hình chữ nhật.
Bước 3: Hướng dẫn tính diện tích hình chữ nhật.
Bước 4: Xây dựng quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.
Bước 5: Hướng dẫn thực hành.
- Giáo viên lưu ý cho học sinh các số đo chiều dài và chiều rộng phải cùng một
đơn vị đo.
-Yêu cầu nhiều học sinh nhắc lại quy tắc và học thuộc quy tắc tại lớp.
10
-Hướng dẫn học sinh làm bài tập. Bước này cần để các em tự hoạt động. Giáo
viên chỉ theo dõi, giúp đỡ những em chưa hiểu bằng các câu hỏi gợi mở để các
em hiểu và tự làm bài, tránh áp đặt, làm thay cho học sinh.
- Sau khi học sinh đã vận dụng làm tốt các bài tập, giáo viên cần yêu cầu học
sinh dựa vào quy tắc nêu cách tính chiều dài hình chữ nhật khi biết diện tích và
chiều rộng; tính chiều rộng khi biết diện tích và chiều dài.
- Cuối cùng giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại cách tính diện tích; tính chiều
dài; tính chiều rộng của hình chữ nhật.
2.3.6.4. Minh họa bằng một tiết dạy cụ thể:
Trên đây là một số ý kiến chủ quan của bản thân nhằm nâng cao chất lượng
dạy học yếu tố hình học ở lớp 3, tôi đã vận dụng vào giảng dạy trực tiếp ngay
trên lớp 3A mà tôi chủ nhiệm, kết quả học tập của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Sau
đây tôi xin trình bày một giáo án minh hoạ:
Toán
Tiết 96: Điểm ở giữa - trung điểm của đoạn thẳng
Tìm hiểu kiến thức sẵn có ở HS: Trong cuộc sống hằng ngày, học sinh thường
đã gặp và sử dụng các từ "ở giữa", chẳng hạn như bạn này ''ngồi giữa"hai bạn
kia hay em ''đứng giữa" bố và mẹ...Vì vậy khi dạy bài này giáo viên cần khai
thác kinh nghiệm sẵn có ở học sinh, hỗ trợ giúp các em tự khám phá, chiếm lĩnh
kiến thức mới.
I. Mục tiêu: Giúp học sinh:
- Hiểu thế nào là điểm ở giữa hai điểm.
- Hiểu thế nào là trung điểm của một đoạn thẳng.
Lan?'' (ở giữa hai bạn).
- Giáo viên tiếp: Tính từ ngoài vào trong ta thấy bạn Hùng đến bạn Nam rồi đến
bạn Lan, còn tính từ trong ra ngoài thì đầu tiên là bạn Lan, đến bạn Nam rồi đến
bạn Hùng. Vậy ta nói: Bạn Nam ''ngồi giữa'' hai bạn Hùng và Lan. Nhưng trong
toán học, điểm này ở giữa hai điểm kia được hiểu như thế nào? Tiết học hôm
nay ''điểm ở giữa - Trung điểm của đoạn thẳng'' sẽ giúp các em hiểu được điều
đó.
2. Dạy học bài mới:
Hoạt động 1: Giới thiệu điểm ở giữa.
- Giáo viên yêu cầu học sinh lấy bảng
-Học sinh thực hiện lần lượt theo
con và nêu các lệnh:
từng lệnh của giáo viên.
+Kẻ đường thẳng.
+Vẽ hai điểm A,B trên đường thẳng.
+Vẽ điểm O ở giữa hai điểm A,B
A
O
B
- Giáo viên sửa lỗi cho những em làm còn
lúng túng.
- Giáo viên treo băng giấy vẽ hình ảnh
-Học sinh quan sát băng giấy trả
điểm O ở giữa hai điểm A,B yêu cầu học
lời câu hỏi.
sinh nhận xét:
+Nêu thứ tự của các điểm tính từ trái sang
A đến O đến B.
phải
+Nêu thứ tự của các điểm tính từ phải sang
- Học sinh xác định: N là điểm ở
giữa hai điểm M và P.
Q
- Hình (b) và hình (c) không có
điểm ở giữa.
(Hình c)
+ N là điểm ở giữa hai điểm M,P vì sao?
+ở hình b),K không phải là điểm ở giữa 2
điểm I và N vì sao?
+Hình c), P không phải là điểm ở giữa 2 điểm
O và Q vì sao?
- Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại kết luận
Hoạt động 2: Giới thiệu trung điểm của đoạn
thẳng.
- Giáo viên yêu cầu HS làm bảng con theo
lượt lần lượt các lệnh:
+Kẻ đoạn thẳng PQ có độ dài 12cm.
+Vẽ điểm M ở giữa 2 điểm P,Q sao cho:
PM = 6cm.
- GV giúp đỡ học sinh còn lúng túng.
- Yêu cầu học sinh đo độ dài đoạn thẳng PM.
? So sánh độ dài đoạn PM và độ dài đoạn MQ?
+Vậy điểm M có cách đều 2 điểm P và Q
không?
- GV treo băng giấy vẽ hình ảnh điểm M là
Trung điểm của đoạn thẳng AB và yêu cầu HS
nhận xét:
-Vì 3 điểm M,N,P thẳng hàng.
- GV kết luận: M là điểm ở giữa 2 điểm A và B,
đoạn thẳng AM bằng đoạn thẳng MB. Ta nói M
là trung điểm của đoạn thẳng AB.
? Vậy để M là trung điểm của đoạn thẳng AB - M là điểm ở giữa 2 điểm A và
cần thoả mãn điều kiện nào?
B.
- GV dán băng giấy ghi 2 điều kiện để M là
- Độ dài đoạn thẳng MA bằng
trung điểm của đoạn thẳng AB và băng giấy
độ dài đoạn thẳng MB
ghi kết luận (SGK) lên bảng.
-Học sinh quan sát và đọc cá
nhân, đọc đồng thanh.
- GV đưa ra các ví dụ yêu cầu HS xác định trung
điểm của đoạn thẳng:
C
E
D
(Hình a)
M
P
N
I
H
K
tập.
-HS tự làm bài rồi nêu miệng
kết quả.
-HS khác nhận xét.
-HS hai bàn một nhóm trao
14
đổi với nhau.
- GV vẽ hình bài tập 2 và dán băng giấy của bài
tập 3 lên bảng.
-Yêu cầu đại diện từng nhóm trình bày kết quả -Đại diện mỗi nhóm trình bày
và giải thích cách làm.
kết quả, nhóm khác nhận xét.
- GV nhận xét, kết luận ý đúng.
- Củng cố lại kiến thức về trung điểm của đoạn
thẳng.
Bài 4:
Yêu cầu HS làm bài cá nhân.
-HS làm bài cá nhân, kiểm tra
kết quả lẫn nhau.
- GV củng cố cho HS cách vẽ hình theo mẫu.
- GV chấm một số vở của học sinh.
3. Củng cố dặn dò:
-Yêu cầu HS nhắc lại thế nào là điểm ở giữa,
- 1, 2 HS nhắc lại.
thế nào là trung điểm của đoạn thẳng.
- GV nhận xét giờ học, dặn HS về nhà làm bài
TL
SL
TL
- Vẽ hình
9
50%
9
50%
0
0%
- Ghi nhớ,
vận dụng công
thức
7
38,9%
11
2 huyện Thường Xuân, nên đề tài nghiên cứu của tôi đã thu được một số kết quả
đáng khích lệ sau:
- Phân tích được cơ sở tâm lí học của học sinh Tiểu học trong quá trình
nhận thức.
- Thống kê được các dạng toán về hình học trong nội dung chương trình
lớp 3.
- Phân tích và chỉ ra được các bước quan trọng trong quá trình hướng dẫn
học sinh vẽ hình, ghi nhớ, vận dụng công thức, nhận dạng hình.
- Phân tích và nêu một số ví dụ cụ thể cho việc thực hiện từng bước trong
quá trình hướng dẫn học sinh vẽ hình, ghi nhớ, vận dụng công thức, nhận dạng
hình.
- Đặc biệt là đã nêu lên được một số biện pháp cụ thể trong việc hướng
dẫn học sinh học yếu tố hình học.
Để đạt được kết quả cao trong việc học yếu tố hình học đòi hỏi người học
sinh tính tích cực, độc lập sáng tạo trong suy nghĩ, khả năng thực hành. Vì vậy
giáo viên phải là người nắm được đặc điểm tâm lí, kết quả học tập của học sinh.
Từ đó phân loại đối tượng. Lên kế hoạch, lựa chọn phương pháp dạy học phù
hợp, khuyến khích động viện học sinh kịp thời. Tổ chức cho học sinh học nhóm
kèm cặp lẫn nhau. Giáo viên thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả và sửa
chữa những thiếu sót của học sinh. Phối hợp với phụ huynh tạo điều kiện và có
kế hoạch cho học sinh học ở nhà. Để làm được việc này giáo viên cần tôn trọng
học sinh, nhiệt tình trong giảng dạy, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
Bằng kinh nghiệm nhỏ trên tôi nhận thấy học sinh có rất nhiều tiến bộ
trong việc vẽ hình, ghi nhớ, vận dụng công thức, nhận dạng hình. Tạo được
niềm say mê học tập ở học sinh. Cuốn hút các em thêm yêu thích môn toán, với
mong muốn được khám phá bầu trời trí thức của khoa học tự nhiên.
Việc nắm vững các dạng bài trong học yếu tố hình học sẽ giúp các em có
được kĩ năng tính toán, vẽ hình, đo đạc, ước lượng, sử dụng dụng cụ toán học
trong thực tế. Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã áp dụng và nó đã mang lại
- Cần đầu tư mua sắm bổ sung thêm các thiết bị, đồ dùng dạy học để phục vụ
cho việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh đạt kết quả.
- Nhà trường cần tổ chức các buổi hội thảo về việc sử dụng đồ dùng dạy học
hàng năm để giáo viên rút kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau trong quá trình làm và
sử dụng đồ dùng dạy học ở các tiết học.
- Cần thống nhất cách sử dụng đồ dùng dạy học trong từng môn, từng tiết học
sao cho hợp lí.
Trên đây là một số biện pháp tôi đã - đang và tiếp tục thực hiện để dạy tốt
“yếu tố hình học ở lớp 3”. Do điều kiện khả năng và thời gian có hạn nên đề tài
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp
ý kiến của Hội đồng Khoa học các cấp và tất cả các đồng nghiệp để đề tài được
hoàn chỉnh hơn, góp phần làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội mới.
17
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 1 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
NGƯỜI THỰC HIỆN
Trịnh Thị Minh
18
Một số kinh nghiệm rèn chữ
viết cho HS lớp 1
Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Phòng
GD&ĐT
Thường Xuân
Phòng
GD&ĐT
Thường Xuân
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
Xếp loại B
Năm 2013
Xếp loại B
Năm 2015
Năm học đánh
giá xếp loại