Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn toán cho học sinh lớp 3 ở trường tiểu học đông hòa - Pdf 57

MỤC LỤC:
ĐỀ MỤC

Trang

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

2

1. Lí do chọn đề tài.

2

2. Mục đích nghiên cứu.

2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.

2
3

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

3

1. Cơ sở lí luận.

3



16

a) Chuẩn bị thiết kế bài dạy.

16

b) Điều kiện tiến hành một tiết dạy đạt hiệu quả.

16

c) Những yêu cầu chung của một tiết dạy trên lớp.

16

d) Thực hiện lập kế hoạch bài dạy.
4. Hiệu quả việc áp dụng các biện pháp vào dạy học.
III. KẾT LUẬN

17
17
18

1. Bài học kinh nghiệm.

18

2. Kết luận.

19

giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn
Toán là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải
nghiên cứu, tìm những biện pháp giảng dạy hay, giúp học sinh dễ hiểu, phù hợp
để hình thành kiến thức, kĩ năng nhằm giúp học sinh học “Hoàn thành tốt” môn
Toán. Thấm nhuần tinh thần đó, thời gian qua bản thân tôi đã không ngừng
nghiên cứu, tìm tòi, chủ động nắm bắt để giảng dạy đạt kết quả. Tuy nhiên, đây
cũng chỉ là thành công bước đầu.
Chính vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu và đưa ra "Một số giải pháp nâng cao
hiệu quả dạy học môn Toán cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học Đông Hòa".
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán cho học
sinh lớp 3 ở trường Tiểu học Đông Hòa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách Toán lớp 3.
- Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh lớp 3B chưa hoàn thành môn
Toán.

2


- Nghiên cứu những giải pháp, phương pháp giáo dục hay, phù hợp để khắc sâu
kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm và học tốt môn Toán, để nâng
cao hiệu quả dạy học môn Toán lớp 3.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, với học sinh lớp
3B.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
- Phương pháp thực hành luyện tập.
- Phương pháp thực nghiệm, đối chiếu, so sánh.

3


Môn Toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết,
ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những kiến thức kĩ năng Toán học
là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống.
Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư
duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân
tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, ...). Nó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ,
làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao
động.
Giáo dục Toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học. Do đó, môn Toán
có nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là:
Trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết
cho việc học tập tiếp hoặc đi vào cuộc sống. Giúp học sinh biết vận dụng kiến
thức vào hoạt động thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện
thói quen phương pháp và tác phong làm việc khoa học, phát triển phù hợp với
tâm lí của từng lứa tuổi. Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học còn lại.
2. Thực trạng của việc dạy học Toán lớp 3 ở Trường Tiểu học Đông Hòa.
Trường Tiểu học Đông Hòa là trường thuộc vùng xa trung tâm huyện, đa số
các em đều là con các gia đình làm nông nghiệp. Đời sống của đa số gia đình còn
rất khó khăn về điều kiện kinh tế nên ảnh hưởng không ít đến việc học tập của
các em. Một số em môn Toán còn chưa hoàn thành, phương pháp học tập chưa rõ
ràng, còn thụ động trong việc tiếp thu bài. Điều đáng nói ở đây là trình độ nhận
thức của phụ huynh còn nhiều hạn chế. Hơn phần nửa số học sinh là con nhà
nghèo, cận nghèo và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Ngoài giờ học ở trường, về
nhà các em còn phụ giúp gia đình để kiếm sống. Một số học sinh cha mẹ phải đi
làm ăn xa không trực tiếp dạy dỗ, chăm sóc, giao phó cho ông bà, thầy cô giáo ...
Vì vậy, các em còn mải chơi chưa chú ý về học tập. Những bài học, bài tập cô
giao còn xao lãng. Trách nhiệm nặng nề thuộc về người giáo viên trực tiếp đứng


%

8

26,7

Chưa nắm
vững đoc,
viết, so sánh
số tự nhiên.
SL
%

Chưa đặt
tính và
thực hiện
tính đúng.
SL
%

Giải toán
có lời văn
chưa được
SL

%

8


12
48
60

30
18
42

24
36
54

12
30
24

48
18
36

60
42
54

Cách chơi:
Phát cho mỗi em một bảng. Giáo viên yêu cầu HS nối tiếp nhau lần lượt đọc
mỗi em 1 phép tính bất kì trong bảng nhân 6 nhưng không nêu kết quả. Học sinh
nghe và tự tìm kết quả khoanh tròn vào số trong ô có kết quả đúng. Nếu học sinh
nào khoanh đúng, đủ 3 ô hàng ngang hoặc hàng dọc thì em đó thắng. Giáo viên
nhận xét, tuyên dương học sinh thắng cuộc, khuyến khích động viên học sinh làm

- Hướng dẫn phân hàng:
VD số: 6931.
+ Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
+ Số 6931: Có 6 nghìn, 9 trăm, 3 chục, 1 đơn vị.
+ Đọc số 6931: sáu nghìn, chín trăm ba mươi mốt.
Giáo viên viết: 6931.
Phân tích: 6
9
3
1
6 nghìn 9 trăm 3 chục 1 đơn vị.
Hoặc: lớp nghìn
lớp đơn vị.
+ Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải).
+ Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó.
+ Học sinh đọc: Sáu nghìn, chín trăm ba mươi mốt.
- Hơn thế nữa người giáo viên còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như
sau:
VD: Số 6931 và 6911.
+ Số 6931 đọc là: Sáu nghìn, chín trăm ba mươi mốt.
+ Số 6911 đọc là: Sáu nghìn, chín trăm mười một.
- Từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng hàng đơn vị của hai
số là khác nhau chỗ mốt và một. Nghĩa là số 6931, hàng đơn vị đọc là mốt, còn
số 6911 hàng đơn vị đọc là một. Tuy cùng hàng và đều là số “1” nhưng tên gọi
lại khác nhau. Giúp học sinh phát hiện và đọc và nhận ra cách đọc của một vài số
lại có cách đọc tương tự trên:
VD: Số 4105 và 4125 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm” và
“lăm”.
VD: Số 3010: Học sinh nhiều em đọc là “Ba nghìn không trăm linh mười”.
Giáo viên hướng dẫn các em. Trong số tự nhiên chỉ được đọc“linh một, linh

Để tìm số bé nhất trong các số: 6091 ; 6190 ; 6901 ; 6019.
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm tương tự bài tập 3a:
- Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau. Cụ
thể trên bảng phần được xoá là:
6091
6190

6091

69 01
60 19
6019
Số bé nhất 6019.
60
601
- Phân theo hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị.
- So sánh từng hàng để chọn ra số lớn nhất trong hàng như: hàng nghìn đều
bằng nhau là 4. Đến hàng trăm chọn được hai số lớn là 7 có trong 4735 và 4753.
Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này và tìm được số lớn nhất là 4753.
* Giải pháp 3: Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân,
chia cột dọc).
Đặt tính cũng là một việc hết sức quan trọng trong quá trình làm tính. Nếu
học sinh không biết cách đặt tính hoặc tính sai sẽ dẫn đến kết quả sai. Vì thế để
học sinh khi thực hiện phép tính tính đúng kết quả phải nắm vững cách đặt tính,
các thành phần của phép tính cũng như mối quan hệ giữa các thành phần của
phép tính trong khi tính cộng trừ, nhân chia.
* Đối với phép cộng, trừ: (giúp học sinh nhớ và áp dụng)
- Phép cộng:
VD: 5341 + 1488 = 6829
Số hạng

+ Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu.
8652 - x = 4735
x = 8265 - 4735
x = 3917
+ Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó.
4-0=4 ;

5-0=5

- Đặt tính và tính:
Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị theo hàng
đơn vị, hàng chục theo hàng chục, hàng trăm theo hàng trăm, hàng nghìn theo
hàng nghìn). Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang
trái). Nên lưu ý học sinh đối với phép trừ có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp.

10


VD: Phép cộng có nhớ một lần.
• 6 cộng 8 bằng 14, viết 4 nhớ 1.
+
• 3 cộng 4 bằng 7, thêm 1 bằng 8, viết 8.
536
• 5 cộng 2 bằng 7, viết 7.
- GV nói: Khi kẻ vạch ngang dưới hai số, tất cả các em đều dùng bằng thước.
- Nhắc học sinh chú ý: Trong phép cộng, trừ chỉ nhớ số 1, không nhớ 2,3,
4,5,6,7,8,9.( trừ khi có nhiều số hạng cộng với nhau như bài tập 1b trang 156).
* Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng).
- Phép nhân: VD: 2125 x 3 = 6375
Thừa số Thừa số

2035
3
6105

• 3 nhân 5 bằng 15, viết 5 nhớ 1.
• Không viết 1 nhớ 5.
• 3 nhân 3 ....
Nhắc thêm cho học sinh:

11


Nếu trường hợp như: 9 nhân 3 bằng 27, thì viết 7 nhớ 2, . . . ( đối với phép
nhân thì chỉ có nhớ 1, 2, . . . 8, không có nhớ 9).
- Phép chia:
VD: 6375 : 3 = 2125
+ Muốn tìm thương, ta lấy số bị chia, chia cho số chia. 6375 : 3 = 2125
+ Muốn tìm số bị chia chưa biết, ta lấy thương nhân với số chia.
x : 3 = 2125
x = 2125 x 3
x = 6375
+ Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương.
36 : x = 9
x = 36 : 9
x= 4
+ Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó.
5 : 1 = 5; ....., 7 : 1 = 7
+ 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0.
0: 6=0 ; 0: 8 = 0
* Nhắc thêm cho học sinh: không thể chia cho 0.

số chia
1257
:
4

Số dư lần chia 1
Số dư lần chia 2

1257 4
Hạ
314
05
17
1

Thương tìm được.

Số dư lần chia cuối cùng
(Phép chia có dư).
+ Khi hạ hàng nào phải hạ xuống dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết sẽ thực hiện
hàng đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp.
+ Nhắc học sinh trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các
phép cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng
đơn vị, hàng chục, ... Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tự từ trái sang phải,
hoặc từ hàng cao nhất đến hàng thấp nhất (hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị).
Nhìn chung, các em có tiến bộ rõ rệt. Các em không còn đặt tính sai, cộng,
trừ, nhân, chia không viết lộn kết quả và quên số nhớ nữa.
Đối với các em còn chậm, chưa hoàn thành, trong mỗi tiết học Toán người
giáo viên phải gọi các em lên bảng được ít nhất 1, 2 lần thực hiện phép tính. Giáo
viên phải thường xuyên quan tâm đến các em có kĩ năng tính toán còn chậm,

- GV Hỏi – HS nêu: + Cái đã cho: 40 kg đường, 8 túi.
+ Cái cần tìm: Có 15 kg đường đựng trong bao nhiêu túi?
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt bài toán.
40 kg đường: 8 túi.
15 kg đường: . . . túi?
Bước 3: Tìm hướng giải:
+ Bài toán hỏi gì? (có 15 kg đường thì đựng trong bao nhiêu túi?)
+ Muốn biết 15kg đường đựng trong mấy túi, ta phải làm gì? (tìm xem 1 túi đựng
được bao nhiêu ki-lô-gam đường).
+ Muốn tìm được 1 túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường ta làm thế nào?
- Gợi mở cho học sinh đặt lời giải và chọn phép tính giải.
Số k-lô-gam đường đựng trong 1 túi là:
40 : 8 = 5 (kg)
+ Hỏi tiếp: Biết được mỗi túi 5kg đường. Vậy nếu có 15 kg đường thì đựng trong
mấy túi như thế?
- Gợi mở để cho học sinh chọn lời giải và phép tính.
Số túi đựng 15kg đường là:
15 : 5 = 3 (túi)
Đáp số: 3 túi.
- Song song với qui trình hướng dẫn giải, giáo viên luôn lưu ý học sinh cách trình
bày bài giải sao cho phù hợp với trình tự yêu cầu của đề, cụ thể như sau:
Bài giải
Số ki-lô-gam đường đựng trong mỗi túi là:
40 : 8 = 5 (kg)
Số túi đựng 15 kg đường là:
15 : 5 = 3 (túi)
Đáp số: 3 túi.

14


VD1: Giáo viên hỏi cho học sinh (T) giơ tay nhanh và trả lời nhanh đúng bài
toán:
75 x 2 +
= 158
+ 75 nhân 2 cộng mấy bằng 158?
+ HS giơ tay nhanh và trả lời: 75 nhân 2 cộng 8 bằng 158.
VD2: Hãy tìm số chẵn thích hợp điền vào ô vuông.
2 x

8 +

4 = 20

15


* Giải pháp 6: Chuẩn bị bài dạy của giáo viên:
- Để đạt được kết quả trên thì đòi hỏi giáo viên phải có tinh thần công tác giảng
dạy nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu, vượt nhiều khó khăn để dồn về công
sức vào nhiệm vụ giảng dạy.
- Để học sinh chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh
hoạt kiến thức đó trong luyện tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải
chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy trước khi lên lớp.
- Để chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy người giáo viên phải chuẩn bị những yêu
cầu sau:
a) Chuẩn bị thiết kế bài dạy.
* Những việc làm để chuẩn bị bài dạy.
Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu
kiến thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của
chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn (sách giáo viên). Sưu

biệt đến hai đối tượng Hoàn thành tốt và chưa hoàn thành.
d) Thực hiện lập kế hoạch bài học.
- Giáo viên thực hiện tiết học theo trình tự của kế hoạch bài học, có điều chỉnh
thời gian các phần nhưng đảm bảo nội dung trọng tâm của bài.
- Cần quan tâm đến hoạt động của học sinh, sao cho học trực tiếp giải quyết vấn
đề qua các bước suy luận, thảo luận thực hành phát biểu, báo cáo kết quả...
- Cần quan tâm đối tượng khác nhau về trình độ để giao việc, đặt câu hỏi thích
hợp. Có động viên khuyến khích, biểu dương kịp thời các tiến bộ, cố gắng của
học sinh. Nhưng phải nghiêm khắc đối với học sinh lười biếng, vô trách nhiệm.
Giáo viên phải linh động, khéo léo xử lí tình huống diễn ra sao cho đạt mục đích
yêu cầu của tiết dạy.
4. Hiệu quả việc áp dụng các biện pháp vào dạy học.
Áp dụng những giải pháp trên trong năm học 2018 – 2019 tại lớp 3B Trường
tiểu học Đông Hòa. Tôi nhận thấy học sinh trong lớp có tiến bộ rõ rệt so với đầu
năm. Học sinh nắm được các kiến thức cơ bản về Toán lớp 3 như: thuộc hết các
bảng nhân, chia; nắm được cách đặt tính và cách tính; cách so sánh số nhanh gọn
chính xác; nắm chắc thứ tự thực hiện các phép tính trong một biểu thức; thực
hiện nhân chia số có nhiều chữ số nhanh gọn; xác định được các dạng toán giải
để giải đúng; Biết vận dụng để tính nhanh. Quan trọng hơn nữa là học sinh biết tự
làm việc với sách giáo khoa; biết cách đọc sách và tự giải quyết vấn đề.
Qua thời gian đứng lớp giảng dạy theo cách làm nêu trên đã đưa chất lượng
lớp tôi có kết quả rất khả quan.
Kết quả kiểm tra chất lượng cuối học kì I:
Điểm


số

10


SL
3

%
10

SL
2

%
6,7

SL
1

Kết quả khảo sát cuối tháng 2:
Đã nắm vững Biết đặt tính Giải toán
đọc, viết, so
và thực hiện có lời văn
sánh số tự
tính đúng.
chưa thành
nhiên.
thạo.
SL
%
SL
%
SL
%


III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Sau khi nắm thực trạng học sinh về môn Toán. Tôi đã kịp thời áp dụng một
số giải pháp nêu trên mang lại kết quả khả quan. Qua đó tôi rút ra được một số
kinh nghiệm như:
- Cần khảo sát nắm chắc điều kiện hoàn cảnh từng đối tượng học sinh và
phân loại được năng lực học của học sinh từ đó đưa ra biện pháp thiết thực, nâng
chất lượng phù hợp đối với từng học sinh.
- Kêu gọi lực lượng Phụ huynh học sinh kết hợp hỗ trợ giúp các em về điều
kiện học Toán cũng như học lý thuyết và thực hành giải các bài tập ở nhà để kết
quả dạy, học Toán càng khả quan hơn.
- Theo dõi, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến học sinh “Chưa hoàn thành”
nội dung bài học và đề ra những biện pháp khắc phục.
- Giáo viên phải nhiệt tình, luôn quan tâm tận tình đến mọi đối tượng học
sinh, không ngại khó.
- Tổ chức nhiều hình thức học tập, với nhiều phương pháp đảm bảo tính
vừa sức.
- Kèm học sinh “Chưa hoàn thành” và bồi dưỡng học sinh “Hoàn thành tốt”.
- Trong giảng dạy cần phân loại học sinh thật hợp lí, để có phương pháp
giảng dạy phù hợp từng đối tượng.
- Đối với học sinh mất kiến thức cơ bản, cần chú ý lấp dần các lỗ hổng kiến
thức cho các em bằng cách phối hợp nhiều phương pháp như: Tổ chức phụ đạo,
nhắc lại kiến thức cơ bản, chú trọng thực hành giải bài tập, yêu cầu vừa sức và
khuyến khích để từng bước khôi phục lòng tin của em, ...
- Tăng cường phát huy phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm theo
hướng phù hợp giữa nội dung bài dạy và đối tượng học sinh đang học. Chú ý
khai thác các khía cạnh gây hứng thú của bộ môn, tạo niềm say mê học tập cho
học sinh.
- Giáo viên tham khảo kĩ nội dung bài, xác định yêu cầu trọng tâm bài dạy

kiện học hỏi nhau để gnâng cao trình độ chuyên môn hơn nữa.
- Tổ chức báo cáo kinh nghiệm hay về dạy học cho giáo viên học hỏi.
Trên đây là những giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán cho học
sinh lớp 3 ở trường Tiểu học Đông Hòa nhằm giúp các em học tốt môn Toán góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, tôi
rất mong sự giúp đỡ, góp ý, bổ sung của ban giám hiệu nhà trường, các cấp quản
lý giáo dục, chị em đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và tôi có được những
kinh nghiệm bổ ích áp dụng cho những năm học sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
XÁC NHẬN CỦẢ THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Đông Hòa, ngày 4 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết:

Lê Thị Năm

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status