Thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tọc mông tại 2 xã huyện quản bạ tỉnh hà giang - Pdf 57

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

PHẠM THỊ BÍCH HỒNG

THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG THỂ THẤP CÒI
Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC MÔNG
TẠI 2 XÃ HUYỆN QUẢN BẠ TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.01.63

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ XUÂN SƠN

THÁI NGUYÊN, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ
công trình nào khác.
Thái Nguyên,tháng 5 năm 2019
Người cam đoan

Phạm Thị Bích Hồng


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô

SD

: Standard deviation - Độ lệch chuẩn

SDD

: Suy dinh dưỡng

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

UNICEF : United Nations Children’s Fund - Quỹ nhi đồng liên hiệp
quốc
UNFPA

: United Nations Fund for Population Activities - Quỹ dân số
Liên hiệp quốc

WHO

: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................... 1

2.5.4. Thực hành về chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ .................................... 29
2.6. Phương pháp thu thập số liệu................................................................... 30
2.6.1. Đo chỉ số nhân trắc................................................................................ 30
2.6.2. Phỏng vấn.............................................................................................. 31
2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................... 31
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu........................................................................ 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 33
3.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018........................ 33
3.2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 39
Chương 4. BÀN LUẬN .................................................................................. 47
4.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018........................ 47
4.2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 54
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 64
1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018........................ 64
2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 64
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................
PHỤ LỤC ...........................................................................................................


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin chung về trẻ dưới 5 tuổi tham gia nghiên cứu ............... 33
Bảng 3.2. Thông tin chung về các bà mẹ tham gia nghiên cứu ...................... 34
Bảng 3.3. Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo thể ........................... 36

dinh dưỡng không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, khả năng phát
triển của trẻ mà còn là gánh nặng lớn cho xã hội. Tại Việt Nam, nhận thức
được vai trò quan trọng trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em,
Chính phủ đã sớm ban hành và cho triển khai thực hiện nhiều chủ trương,
chính sách và văn bản liên quan đến phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em như:
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 - 2010 [31]; Chương trình
mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm giai
đoạn 2006 - 2010, trong đó có dự án phòng chống suy dinh dưỡng [32];
Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 [41]…
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực sau khi triển khai các chính
sách, văn bản, chương trình liên đến quan phòng chống suy dinh dưỡng nhưng
tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở nước ta vẫn còn ở mức cao. Năm 2015, tỉ lệ suy
dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi của nước ta là 24,6%, suy dinh
dưỡng nhẹ cân là 14,1% và suy dinh dưỡng gầy còm là 6,8% [8]. Tỉ lệ suy
dinh dưỡng, đặc biệt là tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn chiếm cao và còn
chênh lệch giữa các vùng sinh thái, đặc biệt là vùng núi phía Bắc và Tây
Nguyên [19]. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi ở khu vực
miền núi phía Bắc là 30,3% và Tây Nguyên là 34,2% [9].
Trong các thể suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng thấp còi phản ánh tình
trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài, là biểu hiện phản ánh điều kiện sống, các vùng
địa lý, dịch vụ y tế nghèo nàn, điều kiện nhà ở kém và chật chội [80]. Mục tiêu
trong kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng của Việt Nam là giảm tỉ lệ
suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn quốc xuống dưới 21,5%,
riêng vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên xuống dưới 28,0% [9].


2

Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với dân số 833.692
người, trong đó tỉ lệ người dân tộc Mông chiếm cao nhất (32,8%), tỉ lệ người

1.1. Thông tin chung về suy dinh dưỡng
1.1.1. Khái niệm về suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng (SDD)
Suy dinh dưỡng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển do thiếu protein,
năng lượng và các vi chất dinh dưỡng mà nguyên nhân là do chế độ ăn không
đảm bảo nhu cầu protein và năng lượng, tình trạng kèm theo là các bệnh nhiễm
khuẩn. Bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau,
nhưng đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của
trẻ em [3], [4]. SDD có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, tuy nhiên trẻ em bị tác
động nghiêm trọng nhất là SDD protein - năng lượng, đặc biệt là trẻ em dưới 5
tuổi do nhu cầu năng lượng tương đối cao và đặc biệt tính cảm nhiễm cao đối
với bệnh nhiễm khuẩn [3], [4].
1.1.2. Suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi
SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi được thể hiện ở tình trạng chiều cao
của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều
cao theo tuổi" (Height/Age) thấp dưới -2 Z-Score (hoặc dưới -2 SD so với
chuẩn tăng trưởng, WHO 2006).
Tỉ lệ thấp còi cao nhất thường xảy ra ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi [64]. Tỉ lệ
hiện mắc SDD thấp còi phổ biến hơn tỉ lệ hiện mắc SDD thiếu cân ở mọi nơi
trên thế giới vì có những trẻ bị thấp còi trong giai đoạn sớm của cuộc đời có
thể đạt được cân nặng bình thường sau đó nhưng vẫn có chiều cao thấp.
1.1.3. Hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả
cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính. Khuynh hướng thay đổi gia
tăng


4

về chiều cao ở người trưởng thành bắt nguồn từ 2 năm đầu tiên của cuộc đời

5

SDD làm cho trẻ em dễ bị cảm nhiễm với các bệnh nhiễm trùng, nhất là
các bệnh đường hô hấp, đường ruột và khi mắc thì diễn biến xấu hơn, gia tăng
tỉ lệ tử vong. SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài,
làm cho trẻ em ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng nên SDD ngày càng
trở nên nặng nề hơn. SDD làm trẻ em kém phát triển về thể chất. Mức độ
chậm phát triển tăng song song với thời gian kéo dài của bệnh và nhóm tuổi
của trẻ. Các bằng chứng khoa học đã cho thấy, giai đoạn đầu tiên của cuộc đời
từ trong bụng mẹ đến 2 tuổi, nếu trẻ em bị SDD có thể để lại những hậu quả
về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo sang thế hệ sau. Nếu tình
trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ càng bị ảnh
hưởng trầm trọng hơn. SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần, nhất là ảnh
hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6
tuổi. Trí thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12
tháng tuổi. Tác hại của SDD càng nặng, nếu bệnh xuất hiện lúc cơ quan chưa
trưởng thành. Ngoài ra, SDD tác động tiêu cực về mặt xã hội: Tầm vóc của
dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua
nhiều thế hệ. Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những
người SDD trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối
ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn đối với các nước đang phát triển. Nguồn
nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể lực của các
lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản. Như vậy, SDD vừa ảnh
hưởng trước mắt, trực tiếp đến phát triển của trẻ; vừa dẫn đến các hậu quả
không khắc phục được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học
tập kém, giảm khả năng lao động người lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc
dân. Mặt khác, điều trị SDD phức tạp, tốn kém, trong khi việc phát hiện sớm
và dự phòng SDD có thể thực hiện được nhờ các biện pháp chăm sóc sức khoẻ
ban đầu.
1.1.4. Các phương pháp đánh giá SDD trẻ em trong cộng đồng

họ. Thực tế, theo dõi cân nặng là việc tương đối dễ thực hiện ở cộng đồng
hơn cả, do đó tỉ lệ


7

thiếu cân theo tuổi được sử dụng rộng rãi để tính tỉ lệ chung của SDD [3].
- Chiều cao/tuổi (H/A): Chiều cao theo tuổi thấp được gọi là SDD thấp
còi (stunting), biểu hiện SDD trong quá khứ [4]. Thấp còi được xem là hậu
quả của tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài và tích lũy hoặc mắc các bệnh
nhiễm khuẩn tái diễn. Đồng thời, nó cũng phản ánh đó là hậu quả của vệ sinh
môi trường kém và SDD sớm. Chỉ số này được dùng để đánh giá SDD trong
quá khứ, nhưng chỉ số này không nhạy, vì sự phát triển chiều cao là từ từ. Như
vậy, khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã muộn. Tỉ lệ trẻ em thấp còi được
xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo. Đây là chỉ tiêu tốt để đánh giá sự
cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội. Thông thường ở các nước đang phát triển,
tỉ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỉ lệ này ổn định, sau đó
chiều cao trung bình đi song song với chiều cao tương ứng ở các quần thể
tham khảo.
- Cân nặng/chiều cao (W/H): Cân nặng theo chiều cao phản ánh thể
trạng so với chiều cao; cân nặng/chiều cao thấp là biểu hiện SDD cấp tính, do
vậy cần phải ưu tiên can thiệp [3]. Cân nặng/chiều cao thấp (Wasting) chính là
thiếu hụt cơ thể (khối nạc, khối mỡ, xương) khi so sánh tổng số cần có của
đứa trẻ có cùng chiều cao (hay chiều dài). Cân nặng theo chiều cao thấp, phản
ánh sự không tăng cân hay mất cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao. Nó
còn phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến tình trạng này. Tỉ lệ cân nặng/chiều cao thấp thường xuất hiện nhiều
ở trẻ 12 - 24 tháng tuổi, do đây là thời kỳ trẻ hay mắc bệnh và thiếu ăn do
thiếu chăm sóc. SDD cấp tính tiến triển rất nhanh ở trẻ em bị sụt cân hoặc
không tăng cân. Chỉ số cân nặng/chiều cao có ưu điểm là không cần biết tuổi

Thể s
dinh
NT G Đ
hh ầ
á
- - - Bì
22 2 n
T TS
T ừ ừD
v




có 156 triệu trẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23,0% tổng số trẻ dưới 5
tuổi. Nhiều bằng chứng cho thấy mặc dù số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi
còn cao,


10

nhưng tỉ lệ phân bố không đều ở các khu vực trên thế giới [78]. Sự phân tích
dựa trên các dữ liệu khẳng định rằng thấp còi vẫn là một vấn đề y tế công cộng
quan trọng của nhiều nước và tiếp tục cản trở sự phát triển thể chất và tinh
thần của trẻ. Thêm vào đó, nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của trẻ.
Các báo cáo của UNICEF và WHO đều cho biết, số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD
thấp còi còn rất cao trên thế giới, nhưng gánh nặng này phân bố không đồng
đều, đặc biệt con số này còn đặc biệt cao ở2 châu lục là châu Phi và châu Á.
Báo cáo của UNICEF năm 2013 cho biết, khu vực Sub-Saharan của châu Phi
và Nam Á chiếm khoảng 3/4 tổng số trẻ em thấp còi trên toàn thế giới [75].
Báo cáo gần đây của UNICEF (2017) thấy tỉ lệ SDD thấp còi trên toàn
thế giới ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 32,7% năm 2000 (tương ứng 198,4
triệu trẻ mắc) xuống còn 22,9% năm 2016 (tương ứng 154,8 triệu trẻ mắc)
[79]. Hình 1.1. trên đây cho thấy sự phân bố SDD thấp còi tại các khu vực
trên thế giới với tỉ lệ SDD thấp còi chiếm cao ở khu vực Đông Phi (26,7%),
Trung Phi (32,5%) và Tây Phi là 31,5%. Tỉ lệ SDD thấp còi ở khu vực Nam Á
là 34,% và khu vực Đông Nam Á là 25,8%. Tỉ lệ SDD ở khu vực Bắc Mỹ là
2,3% và Nam Mỹ là 9,5% [79]. Nhìn chung tỉ lệ SDD thấp còi dao động khác
nhau tùy từng vùng nhưng tập trung cao tại khu vực châu Phi và châu Á. Báo
cáo của UNICEF cũng nhận định trong năm 2016, hơn một nửa (56,0%) trẻ
em dưới 5 tuổi khu vực châu Á bị SDD thấp còi và hơn một phần ba (38,0%)
trẻ em dưới 5 tuổi khu vực châu Phi bị SDD thấp còi [79].



SDD thể nhẹ cân là 14,3% và SDD thể gầy còm là 11,1% [52]. Nghiên cứu tại
Tanzania (2017) cho kết quả tỉ lệ SDD thấp còi là 41,9%; SDD thể nhẹ cân là
46,0% và SDD thể gầy còm là 24,7%. Trong đó có 33,0% mắc cả SDD thấp
còi lẫn nhẹ cân và 12,0% mắc SDD cả 3 thể [66].
Nghiên cứu ở vùng Sindh, Pakistan (2016) cho tỉ lệ SDD thấp còi là
48,2% (95% CI: 47,1% - 50,3%), SDD thể nhẹ cân là 39,5% (95% CI: 38,4%
41,5%) và SDD thể gầy còm là 16,2% (95% CI: 15,5% - 17,9%) [61]. Báo cáo
tổng quan của Mohseni M. và cs (2018) cho tỉ lệ SDD thấp còi ở Iran là 12,4%
(95% CI: 8,3% - 18,5%), SDD thể nhẹ cân là 10,5% (95% CI: 7,1% - 15,4%)
và SDD thể gầy còm là 7,8% (95% CI: 4,8% - 12,6%) [67]. Nghiên cứu ở Bắc
Sudan trên 1447 trẻ < 5 tuổi cho tỉ lệ SDD thấp còi là 42,5%; SDD thể nhẹ cân
là 32,7% và SDD thể gầy còm là 21,0% [72]. Báo cáo tổng quan về SDD tại
Ethiopia của Abdulahi Ahmed và cs (2017) cho tỉ SDD thấp còi là 42,0%
(95% CI: 37,0% - 46,0%), SDD thể nhẹ cân là 33,0% (95% CI: 27,0% 39,0%) và SDD thể gầy còm là 15,0% (95% CI: 12,0% - 19,0%) [49].
1.2.2. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt
Nam
SDD thấp còi ở trẻ em Việt Nam còn là một thách thức quan trọng đối
với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Trong những năm qua,


13

mặc dù Việt Nam được đánh giá là quốc gia thành công trong việc giảm
nhanh tỉ lệ


14

SDD trẻ em nói chung và SDD thấp còi nói riêng. Tỉ lệ SDD thấp còi ở trẻ em
dưới 5 tuổi tại Việt Nam năm 1990 là 56,5%, giảm xuống còn 36,5% năm


16

29.6

Tỉ lệ SDD thấp còi (%)

30

29.3
24.6

23.8

Năm 2015

Năm 2017

20

10

0

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2010


SDD của trẻ em trong nghiên cứu ở mức rất cao: SDD thấp còi là 41,5%; thể
nhẹ cân là 35,4%, thể gầy còm là 8,4%. SDD độ I thể thấp còi là 27,5% [16].
Nghiên cứu của Ngọc Xuân Chấn (2011) tại xã Yên Hà, Quảng Bình thấy: Tỉ
lệ SDD của trẻ em trong nghiên cứu cũng ở mức rất cao: thể thấp còi là
38,6%, thể nhẹ cân là 34,4%, thể gầy còm là 9,4%. SDD độ I thể nhẹ cân là
27,2%, thể thấp còi là 25,6%. Độ tuổi có tỉ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 40 - 60
tháng tuổi [11]. Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Mai (2013) tại tỉnh Khánh
Hòa cho kết quả: tỉ lệ SDD trẻ em từ 0 - 36 tháng tuổi tại các xã nghiên cứu
thuộc các huyện thị đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa ở mức thấp với tỉ lệ
SDD thấp còi 18,4%, SDD nhẹ cân 10,1%, SDD gày còm 3,6% và béo phì
2,6% [24]. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ (2013) cho tỉ lệ SDD trẻ em từ
12 - 24 tháng tại huyện Tiên Lữ thể thấp còi 29,4%, nhẹ cân là 7,6% và gầy
còm là 3,0% [48].
Nghiên cứu của Đinh Đạo (2014) tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng
Nam cho tỉ lệ SDD thấp còi 62,8%, SDD thể nhẹ cân 36,5% và SDD thể gầy
còm 8,4% [13]. Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cs (2014) tại thành phố Phủ
Lý cho tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi 7,5%, nhẹ cân 4,4% và gầy còm
7,2% [21]. Nghiên cứu của Bùi Xuân Minh và cs (2015) ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Raglai tại hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, tỉnh


Khánh Hòa cho kết quả tỉ lệ SDD thấp còi là 68,7%, nhẹ cân là 56,5%; SDD
trẻ trai



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status