ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHẠM THỊ BÍCH HỒNG
THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG THỂ THẤP CÒI
Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC MÔNG
TẠI 2 XÃ HUYỆN QUẢN BẠ TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.01.63
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ XUÂN SƠN
THÁI NGUYÊN, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Thái Nguyên,tháng 5 năm 2019
Người cam đoan
Phạm Thị Bích Hồng
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô
khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện
SD
: Standard deviation - Độ lệch chuẩn
SDD
: Suy dinh dưỡng
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UNICEF : United Nations Children’s Fund - Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
UNFPA
: United Nations Fund for Population Activities - Quỹ dân số Liên
hiệp quốc
WHO
: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN ................................................................................. 3
2.6.2. Phỏng vấn .............................................................................................. 31
2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................... 31
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu ........................................................................ 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 33
3.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018 ........................ 33
3.2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 39
Chương 4. BÀN LUẬN .................................................................................. 47
4.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018 ........................ 47
4.2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 54
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 64
1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018 ........................ 64
2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 64
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................
PHỤ LỤC ...........................................................................................................
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin chung về trẻ dưới 5 tuổi tham gia nghiên cứu ............... 33
Bảng 3.2. Thông tin chung về các bà mẹ tham gia nghiên cứu ...................... 34
Bảng 3.3. Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo thể ........................... 36
Bảng 3.4. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo mức độ .................................... 36
Bảng 3.5. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo giới .......................................... 37
Bảng 3.6. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo xã ............................................ 37
dưỡng giai đoạn 2001 - 2010 [31]; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng,
chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm giai đoạn 2006 - 2010, trong
đó có dự án phòng chống suy dinh dưỡng [32]; Chiến lược Quốc gia về dinh
dưỡng 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 [41]…
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực sau khi triển khai các chính
sách, văn bản, chương trình liên đến quan phòng chống suy dinh dưỡng nhưng
tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở nước ta vẫn còn ở mức cao. Năm 2015, tỉ lệ suy
dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi của nước ta là 24,6%, suy dinh
dưỡng nhẹ cân là 14,1% và suy dinh dưỡng gầy còm là 6,8% [8]. Tỉ lệ suy dinh
dưỡng, đặc biệt là tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn chiếm cao và còn chênh
lệch giữa các vùng sinh thái, đặc biệt là vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên [19].
Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi ở khu vực miền núi phía Bắc
là 30,3% và Tây Nguyên là 34,2% [9].
Trong các thể suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng thấp còi phản ánh tình
trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài, là biểu hiện phản ánh điều kiện sống, các vùng
địa lý, dịch vụ y tế nghèo nàn, điều kiện nhà ở kém và chật chội [80]. Mục tiêu
trong kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng của Việt Nam là giảm tỉ lệ suy
dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn quốc xuống dưới 21,5%, riêng
vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên xuống dưới 28,0% [9].
2
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với dân số 833.692
người, trong đó tỉ lệ người dân tộc Mông chiếm cao nhất (32,8%), tỉ lệ người
dân tộc Tày 23,2%, Dao 14,9% và Kinh 12,8% [12]. Thống kê năm 2017 tại Hà
Giang cho thấy tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thấp còi là 34,3%, suy dinh
dưỡng thể nhẹ cân là 22,3% và suy dinh dưỡng gầy còm là 7,0% [12].
Quản Bạ là một huyện miền núi nghèo, thuộc biên giới phía Bắc tỉnh Hà
Giang; huyện có 22 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó người Mông
chiếm đa số. Người dân ở Quản Bạ còn nhiều khó khăn về kinh tế cũng như
SDD có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, tuy nhiên trẻ em bị tác động nghiêm
trọng nhất là SDD protein - năng lượng, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi do nhu cầu
năng lượng tương đối cao và đặc biệt tính cảm nhiễm cao đối với bệnh nhiễm
khuẩn [3], [4].
1.1.2. Suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi
SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi được thể hiện ở tình trạng chiều cao
của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều
cao theo tuổi" (Height/Age) thấp dưới -2 Z-Score (hoặc dưới -2 SD so với
chuẩn tăng trưởng, WHO 2006).
Tỉ lệ thấp còi cao nhất thường xảy ra ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi [64]. Tỉ lệ hiện
mắc SDD thấp còi phổ biến hơn tỉ lệ hiện mắc SDD thiếu cân ở mọi nơi trên
thế giới vì có những trẻ bị thấp còi trong giai đoạn sớm của cuộc đời có thể đạt
được cân nặng bình thường sau đó nhưng vẫn có chiều cao thấp.
1.1.3. Hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả
cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính. Khuynh hướng thay đổi gia tăng
4
về chiều cao ở người trưởng thành bắt nguồn từ 2 năm đầu tiên của cuộc đời
chủ yếu thông qua tăng chiều dài chân. Thời kỳ này là thời kỳ tăng trưởng cao
nhất sau khi sinh và do đó rất nhạy cảm với các yếu tố bất lợi. Trẻ thấp còi ở
thời kỳ này ít có cơ hội đạt chiều cao bình thường khi trưởng thành hoặc đòi
hỏi thời gian dài qua nhiều thế hệ [80]. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho
thấy SDD trong giai đoạn phát triển quan trọng của con người - trước và trong
quá trình mang thai và trong hai năm đầu đời của trẻ - đã “lập trình” cho khả
năng của mỗi cá nhân trong việc điều tiết tăng trưởng và ảnh hưởng đến sự phát
triển của não bộ. Do đó SDD đầu đời có thể dẫn đến những tổn thương không
phục hồi được đối với sự phát triển của não, hệ miễn dịch và tăng trưởng thể
lực. Trẻ có não kém phát triển ở những năm đầu đời sẽ có nguy cơ về các bệnh
kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm
trọng hơn. SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần, nhất là ảnh hưởng đến sự
phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6 tuổi. Trí thông
minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12 tháng tuổi. Tác
hại của SDD càng nặng, nếu bệnh xuất hiện lúc cơ quan chưa trưởng thành.
Ngoài ra, SDD tác động tiêu cực về mặt xã hội: Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm
tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua nhiều thế hệ. Khả
năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người SDD trong quá
khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối ưu, là một sự lãng phí vô
cùng lớn đối với các nước đang phát triển. Nguồn nhân lực trong tương lai cũng
sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan
đến sức khỏe sinh sản. Như vậy, SDD vừa ảnh hưởng trước mắt, trực tiếp đến
phát triển của trẻ; vừa dẫn đến các hậu quả không khắc phục được như tầm vóc
người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động người
lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân. Mặt khác, điều trị SDD phức tạp, tốn
kém, trong khi việc phát hiện sớm và dự phòng SDD có thể thực hiện được nhờ
các biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu.
1.1.4. Các phương pháp đánh giá SDD trẻ em trong cộng đồng
6
Để đánh giá, phân loại SDD trong cộng đồng, theo Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) nên sử dụng các chỉ số nhân trắc học, đó là cân nặng theo tuổi (W/A),
chiều cao theo tuổi (H/A), và cân nặng theo chiều cao (W/H).
Các chỉ số này được hình thành từ các số đo cân nặng, chiều cao, tuổi, giới
cụ thể của một trẻ và sẽ được thể hiện bằng các giá trị bách phân vị (Percentile)
hoặc giá trị độ lệch chuẩn SD (Standard Deviation). Sau đó, để nhận định các
kết quả này, ta chọn một quần thể tham chiếu để so sánh. Thực tế đã có nhiều
bằng chứng cho rằng trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng tốt thì có thể đạt
được các kích thước gần như nhau mà không phụ thuộc vào giống nòi. Chính vì
điều kiện kinh tế, xã hội. Thông thường ở các nước đang phát triển, tỉ lệ thấp
còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỉ lệ này ổn định, sau đó chiều cao
trung bình đi song song với chiều cao tương ứng ở các quần thể tham khảo.
- Cân nặng/chiều cao (W/H): Cân nặng theo chiều cao phản ánh thể trạng
so với chiều cao; cân nặng/chiều cao thấp là biểu hiện SDD cấp tính, do vậy
cần phải ưu tiên can thiệp [3]. Cân nặng/chiều cao thấp (Wasting) chính là thiếu
hụt cơ thể (khối nạc, khối mỡ, xương) khi so sánh tổng số cần có của đứa trẻ
có cùng chiều cao (hay chiều dài). Cân nặng theo chiều cao thấp, phản ánh sự
không tăng cân hay mất cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao. Nó còn phản
ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình
trạng này. Tỉ lệ cân nặng/chiều cao thấp thường xuất hiện nhiều ở trẻ 12 - 24
tháng tuổi, do đây là thời kỳ trẻ hay mắc bệnh và thiếu ăn do thiếu chăm sóc.
SDD cấp tính tiến triển rất nhanh ở trẻ em bị sụt cân hoặc không tăng cân. Chỉ
số cân nặng/chiều cao có ưu điểm là không cần biết tuổi của trẻ, vì vậy có thể
tránh được một dữ liệu (tính tuổi) đôi khi rất khó thu thập hoặc không chính
xác. Đồng thời chỉ số này còn có một ưu điểm là không phụ thuộc vào yếu tố
dân tộc, vì trẻ dưới 5 tuổi cơ thể phát triển như nhau trên toàn cầu.
1.1.5. Cách đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
8
Năm 1983, WHO đề nghị lấy số liệu của NCHS Hoa Kỳ làm quần thể
tham chiếu và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi, mặc dù cũng
còn một số nước áp dụng các quần thể tham chiếu địa phương. Theo phân bố
thống kê, thường lấy âm 2 độ lệch chuẩn (-2SD (Standard deviation) của số
trung bình làm giới hạn ngưỡng. Ví dụ: Khi có cân nặng của một trẻ A, ta có
thể đối chiếu với số liệu tham chiếu NCHS của đứa trẻ cùng giới và tuổi. Nếu
cân nặng của trẻ A nhỏ hơn ngưỡng -2SD của trẻ cùng giới và tuổi trong bảng,
nghĩa là trẻ A bị SDD thể thiếu cân. Từ đó người ta tính được tỉ lệ trẻ có cân
nặng ở dưới ngưỡng -2SD ở vùng điều tra.
Từ < -2SD đến -3SD
Từ < -3SD
Đánh giá
SDD mức độ
vừa
SDD mức độ
Từ < -3SD
Từ < -3SD
nặng
Đánh giá trên quần thể: WHO đã đưa ra bảng phân loại sau đây để nhận
định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng của thiếu dinh dưỡng [84].
Bảng 1.3. Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng [84]
9
Chỉ tiêu
Mức độ thiếu dinh dưỡng (%)
Thấp
Trung bình
Cao
≥ 15
1.2. Thực trạng SDD thấp còi trẻ em trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi trên Thế giới
Mặc dù tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới đã được cải
thiện khá nhiều trong những năm qua, tuy nhiên tỉ lệ SDD của trẻ vẫn còn khá
cao, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Năm 2016, theo ước tính của
WHO, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations Children’s Fund UNICEF) và Ngân hàng Thế giới (World Banks - WB), từ năm 2000 đến năm
2016, SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể: SDD thấp còi giảm từ 32,7%
xuống còn 22,9% (tương ứng 154,8 triệu trẻ) [79]. Báo cáo năm 2012 của
UNICEF, WHO và World Bank thấy: tỉ lệ SDD thấp còi giảm từ 35,5% năm
1990 xuống còn 26,0% năm 2011 (từ 253 triệu trẻ xuống 165 triệu trẻ); SDD
thể nhẹ cân giảm từ 36,0% năm 1990 xuống còn 16,0% năm 2011 (từ 159
triệu trẻ xuống 101 triệu trẻ); SDD gầy còm giảm từ 11% năm 1990 xuống
còn 8,0% năm 2011 (từ 58 triệu trẻ xuống còn 52 triệu trẻ) [76].
Đối với SDD thấp còi: theo báo cáo của UNICEF năm 2013 cũng cho
thấy, có khoảng 165 triệu trẻ em trên toàn cầu, chiếm trên 1/4 trẻ em dưới 5
tuổi bị thấp còi trong năm 2011 (khoảng 26,0%) [75]. Số trẻ dưới 5 tuổi tử vong
hàng năm tuy đã giảm so với những năm 1990 nhưng vẫn còn xấp xỉ 7 triệu,
trong đó có khoảng 2,3 triệu trẻ chết vì những nguyên nhân liên quan đến SDD
[77]. Báo cáo của WHO cũng cho thấy, đến năm 2015 trên toàn cầu có 156
triệu trẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23,0% tổng số trẻ dưới 5 tuổi.
Nhiều bằng chứng cho thấy mặc dù số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn cao,
10
nhưng tỉ lệ phân bố không đều ở các khu vực trên thế giới [78]. Sự phân tích
dựa trên các dữ liệu khẳng định rằng thấp còi vẫn là một vấn đề y tế công cộng
quan trọng của nhiều nước và tiếp tục cản trở sự phát triển thể chất và tinh thần
nhiên có 2 vùng là khu vực biển Caribbean (trừ Australia và New Zealand) và
châu Phi là tỉ lệ SDD thấp còi giảm chậm hoặc không giảm [79].
Tại khu vực châu Á, các nghiên cứu ở một số nước như Lào, Ấn Độ trong
những năm qua đều cho thấy tỉ lệ thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi cũng khá cao.
Nghiên cứu của Phengxay M và cộng sự, năm 2007, cho thấy tỉ lệ trẻ em thấp
12
còi là 54,6%, nhẹ cân 35%, gầy còm 6%. Trẻ em thuộc nhóm 12 – 23 tháng
tuổi Khmu có tỉ lệ thấp còi cao (65% - 66%) và nhẹ cân cao (40% - 45%) [68].
Một nghiên cứu khác thực hiện tại vùng nông thôn Ấn Độ để xác định tỉ lệ SDD
thấp còi trên 673 trẻ, kết quả cho thấy tỉ lệ SDD thấp còi là 39,2% [54].
Một số nghiên cứu khác về SDD: Nghiên cứu tại Milot Valley, Haiti cho
tỉ lệ SDD thấp còi là 14,8%; SDD thể nhẹ cân là 16,1% và SDD thể gầy còm là
15,3% [70]. Nghiên cứu của Amare Desalegne và cs (2015) cho tỉ lệ SDD
chung ở Bure Town, Bắc Ethiopia là 35,5%; trong đó SDD thấp còi là 24,9%;
SDD thể nhẹ cân là 14,3% và SDD thể gầy còm là 11,1% [52]. Nghiên cứu tại
Tanzania (2017) cho kết quả tỉ lệ SDD thấp còi là 41,9%; SDD thể nhẹ cân là
46,0% và SDD thể gầy còm là 24,7%. Trong đó có 33,0% mắc cả SDD thấp
còi lẫn nhẹ cân và 12,0% mắc SDD cả 3 thể [66].
Nghiên cứu ở vùng Sindh, Pakistan (2016) cho tỉ lệ SDD thấp còi là
48,2% (95% CI: 47,1% - 50,3%), SDD thể nhẹ cân là 39,5% (95% CI: 38,4% 41,5%) và SDD thể gầy còm là 16,2% (95% CI: 15,5% - 17,9%) [61]. Báo cáo
tổng quan của Mohseni M. và cs (2018) cho tỉ lệ SDD thấp còi ở Iran là 12,4%
(95% CI: 8,3% - 18,5%), SDD thể nhẹ cân là 10,5% (95% CI: 7,1% - 15,4%)
và SDD thể gầy còm là 7,8% (95% CI: 4,8% - 12,6%) [67]. Nghiên cứu ở Bắc
Sudan trên 1447 trẻ < 5 tuổi cho tỉ lệ SDD thấp còi là 42,5%; SDD thể nhẹ cân
là 32,7% và SDD thể gầy còm là 21,0% [72]. Báo cáo tổng quan về SDD tại
Ethiopia của Abdulahi Ahmed và cs (2017) cho tỉ SDD thấp còi là 42,0% (95%
CI: 37,0% - 46,0%), SDD thể nhẹ cân là 33,0% (95% CI: 27,0% - 39,0%) và
SDD thể gầy còm là 15,0% (95% CI: 12,0% - 19,0%) [49].
14
40
36.5
29.6
Tỉ lệ SDD thấp còi (%)
30
29.3
24.6
23.8
Năm 2015
Năm 2017
20
10
0
Năm 2000
Một số nghiên cứu khác về SDD tại Việt Nam: Nghiên cứu của Lương
Thị Thu Hà tại hai xã của huyện Phú Lương, Thái Nguyên năm 2008 cho tỉ lệ
SDD của trẻ em trong nghiên cứu ở mức rất cao: SDD thấp còi là 41,5%; thể
nhẹ cân là 35,4%, thể gầy còm là 8,4%. SDD độ I thể thấp còi là 27,5% [16].
Nghiên cứu của Ngọc Xuân Chấn (2011) tại xã Yên Hà, Quảng Bình thấy: Tỉ
lệ SDD của trẻ em trong nghiên cứu cũng ở mức rất cao: thể thấp còi là 38,6%,
thể nhẹ cân là 34,4%, thể gầy còm là 9,4%. SDD độ I thể nhẹ cân là 27,2%, thể
thấp còi là 25,6%. Độ tuổi có tỉ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 40 - 60 tháng tuổi [11].
Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Mai (2013) tại tỉnh Khánh Hòa cho kết quả: tỉ
lệ SDD trẻ em từ 0 - 36 tháng tuổi tại các xã nghiên cứu thuộc các huyện thị
đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa ở mức thấp với tỉ lệ SDD thấp còi 18,4%,
SDD nhẹ cân 10,1%, SDD gày còm 3,6% và béo phì 2,6% [24]. Nghiên cứu
của Nguyễn Anh Vũ (2013) cho tỉ lệ SDD trẻ em từ 12 - 24 tháng tại huyện
Tiên Lữ thể thấp còi 29,4%, nhẹ cân là 7,6% và gầy còm là 3,0% [48].
Nghiên cứu của Đinh Đạo (2014) tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng
Nam cho tỉ lệ SDD thấp còi 62,8%, SDD thể nhẹ cân 36,5% và SDD thể gầy
còm 8,4% [13]. Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cs (2014) tại thành phố Phủ
Lý cho tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi 7,5%, nhẹ cân 4,4% và gầy còm 7,2%
[21]. Nghiên cứu của Bùi Xuân Minh và cs (2015) ở trẻ em dưới 5 tuổi người
dân tộc Raglai tại hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh
Hòa cho kết quả tỉ lệ SDD thấp còi là 68,7%, nhẹ cân là 56,5%; SDD trẻ trai
16
cao hơn trẻ gái ở thể nhẹ cân và gầy còm [26]. Nghiên cứu của Trần Thị Thanh
(2016) thấy tỉ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi huyện Cư Kuin tỉnh Đăk Lăk ở thể
SDD thấp còi là 37,6%, nhẹ cân 28,0% và gầy còm là 7,4%. Tình trạng SDD
thấp còi trẻ em ở dân tộc thiểu số cao hơn trẻ em dân tộc Kinh: 46,2% so với
31,9%, p =0,001 [30]. Nghiên cứu của Hoàng Văn Phương (2018) thấy tình
trạng SDD ở trẻ 36 - 59 tháng tuổi tại huyện Thanh Liêm ở thể thấp còi là
cứu khác tại Bangladesh cho thấy trẻ thuộc hộ gia đình có chỉ số nghèo cao có
nguy cơ mắc SDD thấp còi cao hơn 2,892 lần so với nhóm không nghèo (p