Thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc mông tại 2 xã huyện quản bạ tỉnh hà giang - Pdf 61

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

PHẠM THỊ BÍCH HỒNG

THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG THỂ THẤP CÒI
Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC MÔNG
TẠI 2 XÃ HUYỆN QUẢN BẠ TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.01.63

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ XUÂN SƠN

THÁI NGUYÊN, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên,tháng 5 năm 2019
Người cam đoan

Phạm Thị Bích Hồng


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô
khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện


: Standard deviation - Độ lệch chuẩn

SDD

: Suy dinh dưỡng

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

UNICEF : United Nations Children’s Fund - Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
UNFPA

: United Nations Fund for Population Activities - Quỹ dân số
Liên hiệp quốc

WHO

: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN ................................................................................. 3
1.1. Thông tin chung về suy dinh dưỡng .......................................................... 3

2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................... 31
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu ........................................................................ 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 33
3.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018 ........................ 33
3.2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5
tuổi người dân tộc Mông ......................................................................... 39
Chương 4. BÀN LUẬN .................................................................................. 47
4.1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018 ........................ 47
4.2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5
tuổi người dân tộc Mông ......................................................................... 54
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 65
1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc
Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm 2018 ........................ 65
2. Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
người dân tộc Mông ................................................................................ 65
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................
PHỤ LỤC ...........................................................................................................


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin chung về trẻ dưới 5 tuổi tham gia nghiên cứu ............... 33
Bảng 3.2. Thông tin chung về các bà mẹ tham gia nghiên cứu ...................... 35
Bảng 3.3. Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo thể ........................... 36
Bảng 3.4. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo mức độ .................................... 36
Bảng 3.5. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo giới .......................................... 37
Bảng 3.6. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo xã ............................................ 37
Bảng 3.7. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo tháng tuổi của trẻ .................... 37

mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm giai
đoạn 2006 - 2010, trong đó có dự án phòng chống suy dinh dưỡng [32]; Chiến
lược Quốc gia về dinh dưỡng 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 [41]…
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực sau khi triển khai các chính
sách, văn bản, chương trình liên đến quan phòng chống suy dinh dưỡng
nhưng tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở nước ta vẫn còn ở mức cao. Năm 2015, tỉ
lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi của nước ta là 24,6%, suy
dinh dưỡng nhẹ cân là 14,1% và suy dinh dưỡng gầy còm là 6,8% [8]. Tỉ lệ
suy dinh dưỡng, đặc biệt là tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn chiếm cao và
còn chênh lệch giữa các vùng sinh thái, đặc biệt là vùng núi phía Bắc và Tây
Nguyên [19]. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi ở khu vực
miền núi phía Bắc là 30,3% và Tây Nguyên là 34,2% [9].
Trong các thể suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng thấp còi phản ánh tình
trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài, là biểu hiện phản ánh điều kiện sống, các vùng
địa lý, dịch vụ y tế nghèo nàn, điều kiện nhà ở kém và chật chội [80]. Mục tiêu
trong kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng của Việt Nam là giảm tỉ lệ
suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn quốc xuống dưới 21,5%,
riêng vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên xuống dưới 28,0% [9].


2
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với dân số 833.692
người, trong đó tỉ lệ người dân tộc Mông chiếm cao nhất (32,8%), tỉ lệ người
dân tộc Tày 23,2%, Dao 14,9% và Kinh 12,8% [12]. Thống kê năm 2017 tại Hà
Giang cho thấy tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thấp còi là 34,3%, suy dinh
dưỡng thể nhẹ cân là 22,3% và suy dinh dưỡng gầy còm là 7,0% [12].
Quản Bạ là một huyện miền núi nghèo, thuộc biên giới phía Bắc tỉnh
Hà Giang; huyện có 22 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó người
Mông chiếm đa số. Người dân ở Quản Bạ còn nhiều khó khăn về kinh tế cũng
như điều kiện chăm sóc trẻ. Do đó, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng

em [3], [4]. SDD có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, tuy nhiên trẻ em bị tác
động nghiêm trọng nhất là SDD protein - năng lượng, đặc biệt là trẻ em dưới 5
tuổi do nhu cầu năng lượng tương đối cao và đặc biệt tính cảm nhiễm cao đối
với bệnh nhiễm khuẩn [3], [4].
1.1.2. Suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi
SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi được thể hiện ở tình trạng chiều cao
của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều
cao theo tuổi" (Height/Age) thấp dưới -2 Z-Score (hoặc dưới -2 SD so với
chuẩn tăng trưởng, WHO 2006).
Tỉ lệ thấp còi cao nhất thường xảy ra ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi [64]. Tỉ lệ
hiện mắc SDD thấp còi phổ biến hơn tỉ lệ hiện mắc SDD thiếu cân ở mọi nơi
trên thế giới vì có những trẻ bị thấp còi trong giai đoạn sớm của cuộc đời có
thể đạt được cân nặng bình thường sau đó nhưng vẫn có chiều cao thấp.
1.1.3. Hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả
cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính. Khuynh hướng thay đổi gia


4
tăng về chiều cao ở người trưởng thành bắt nguồn từ 2 năm đầu tiên của cuộc
đời chủ yếu thông qua tăng chiều dài chân. Thời kỳ này là thời kỳ tăng trưởng
cao nhất sau khi sinh và do đó rất nhạy cảm với các yếu tố bất lợi. Trẻ thấp
còi ở thời kỳ này ít có cơ hội đạt chiều cao bình thường khi trưởng thành hoặc
đòi hỏi thời gian dài qua nhiều thế hệ [80]. Ngày càng có nhiều bằng chứng
cho thấy SDD trong giai đoạn phát triển quan trọng của con người - trước và
trong quá trình mang thai và trong hai năm đầu đời của trẻ - đã “lập trình” cho
khả năng của mỗi cá nhân trong việc điều tiết tăng trưởng và ảnh hưởng đến
sự phát triển của não bộ. Do đó SDD đầu đời có thể dẫn đến những tổn
thương không phục hồi được đối với sự phát triển của não, hệ miễn dịch và
tăng trưởng thể lực. Trẻ có não kém phát triển ở những năm đầu đời sẽ có

Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ
càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn. SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần,
nhất là ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn
trẻ em dưới 6 tuổi. Trí thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào
thai và dưới 12 tháng tuổi. Tác hại của SDD càng nặng, nếu bệnh xuất hiện
lúc cơ quan chưa trưởng thành. Ngoài ra, SDD tác động tiêu cực về mặt xã
hội: Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng SDD không
được cải thiện qua nhiều thế hệ. Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí
lực của những người SDD trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt
đến mức tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn đối với các nước đang phát
triển. Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể
lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản. Như vậy,
SDD vừa ảnh hưởng trước mắt, trực tiếp đến phát triển của trẻ; vừa dẫn đến
các hậu quả không khắc phục được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé,
kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động người lớn và ảnh hưởng tới thu
nhập quốc dân. Mặt khác, điều trị SDD phức tạp, tốn kém, trong khi việc phát
hiện sớm và dự phòng SDD có thể thực hiện được nhờ các biện pháp chăm
sóc sức khoẻ ban đầu.


6
1.1.4. Các phương pháp đánh giá SDD trẻ em trong cộng đồng
Để đánh giá, phân loại SDD trong cộng đồng, theo Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) nên sử dụng các chỉ số nhân trắc học, đó là cân nặng theo tuổi (W/A),
chiều cao theo tuổi (H/A), và cân nặng theo chiều cao (W/H).
Các chỉ số này được hình thành từ các số đo cân nặng, chiều cao, tuổi,
giới cụ thể của một trẻ và sẽ được thể hiện bằng các giá trị bách phân vị
(Percentile) hoặc giá trị độ lệch chuẩn SD (Standard Deviation). Sau đó, để
nhận định các kết quả này, ta chọn một quần thể tham chiếu để so sánh. Thực tế
đã có nhiều bằng chứng cho rằng trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng tốt

Như vậy, khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã muộn. Tỉ lệ trẻ em thấp còi
được xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo. Đây là chỉ tiêu tốt để đánh
giá sự cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội. Thông thường ở các nước đang phát
triển, tỉ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỉ lệ này ổn định,
sau đó chiều cao trung bình đi song song với chiều cao tương ứng ở các quần
thể tham khảo.
- Cân nặng/chiều cao (W/H): Cân nặng theo chiều cao phản ánh thể
trạng so với chiều cao; cân nặng/chiều cao thấp là biểu hiện SDD cấp tính, do
vậy cần phải ưu tiên can thiệp [3]. Cân nặng/chiều cao thấp (Wasting) chính là
thiếu hụt cơ thể (khối nạc, khối mỡ, xương) khi so sánh tổng số cần có của
đứa trẻ có cùng chiều cao (hay chiều dài). Cân nặng theo chiều cao thấp, phản
ánh sự không tăng cân hay mất cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao. Nó
còn phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến tình trạng này. Tỉ lệ cân nặng/chiều cao thấp thường xuất hiện nhiều
ở trẻ 12 - 24 tháng tuổi, do đây là thời kỳ trẻ hay mắc bệnh và thiếu ăn do
thiếu chăm sóc. SDD cấp tính tiến triển rất nhanh ở trẻ em bị sụt cân hoặc
không tăng cân. Chỉ số cân nặng/chiều cao có ưu điểm là không cần biết tuổi
của trẻ, vì vậy có thể tránh được một dữ liệu (tính tuổi) đôi khi rất khó thu


8
thập hoặc không chính xác. Đồng thời chỉ số này còn có một ưu điểm là
không phụ thuộc vào yếu tố dân tộc, vì trẻ dưới 5 tuổi cơ thể phát triển như
nhau trên toàn cầu.
1.1.5. Cách đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
Năm 1983, WHO đề nghị lấy số liệu của NCHS Hoa Kỳ làm quần thể
tham chiếu và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi, mặc dù cũng
còn một số nước áp dụng các quần thể tham chiếu địa phương. Theo phân bố
thống kê, thường lấy âm 2 độ lệch chuẩn (-2SD (Standard deviation) của số
trung bình làm giới hạn ngưỡng. Ví dụ: Khi có cân nặng của một trẻ A, ta có


Bình thường

Từ < -2SD đến

Từ < -2SD đến

SDD mức độ

-3SD

-3SD

Từ < -2SD đến -3SD
Từ < -3SD

vừa
SDD mức độ

Từ < -3SD

Từ < -3SD

nặng


9
Đánh giá trên quần thể: WHO đã đưa ra bảng phân loại sau đây để
nhận định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng của thiếu dinh dưỡng [84].
Bảng 1.3. Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng [84]

≥ 40

SDD thể gầy còm (W/H)



11

Hình 1.1. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở một số khu vực trên thế giới [79]
Tỉ lệ SDD thấp còi trong những năm qua có xu hướng giảm dần ở hầu
hết các khu vực. Theo công bố của Stevens trên tạp chí Lancet năm 2012, tại
các nước đang phát triển trong gian đoạn từ 1985 cho đến 2011, tỉ lệ SDD
thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi đã giảm từ 47% (95%CI 44,0%; 50,3%) xuống
còn 29,9% (95%CI 27,1%; 32,9%) [71]. Dự đoán đến năm 2020, tỉ lệ SDD
thấp còi trên toàn thế giới tiếp tục giảm. Tỉ lệ thấp còi ở các nước đang phát
triển sẽ giảm xuống còn khoảng 16,3% vào năm 2020 (so với 29,8% năm
2000). Tuy nhiên có 2 vùng là khu vực biển Caribbean (trừ Australia và New
Zealand) và châu Phi là tỉ lệ SDD thấp còi giảm chậm hoặc không giảm [79].
Tại khu vực châu Á, các nghiên cứu ở một số nước như Lào, Ấn Độ
trong những năm qua đều cho thấy tỉ lệ thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi cũng khá
cao. Nghiên cứu của Phengxay M và cộng sự, năm 2007, cho thấy tỉ lệ trẻ em


12
thấp còi là 54,6%, nhẹ cân 35%, gầy còm 6%. Trẻ em thuộc nhóm 12 – 23
tháng tuổi Khmu có tỉ lệ thấp còi cao (65% - 66%) và nhẹ cân cao (40% 45%) [68]. Một nghiên cứu khác thực hiện tại vùng nông thôn Ấn Độ để xác
định tỉ lệ SDD thấp còi trên 673 trẻ, kết quả cho thấy tỉ lệ SDD thấp còi là
39,2% [54].
Một số nghiên cứu khác về SDD: Nghiên cứu tại Milot Valley, Haiti
cho tỉ lệ SDD thấp còi là 14,8%; SDD thể nhẹ cân là 16,1% và SDD thể gầy
còm là 15,3% [70]. Nghiên cứu của Amare Desalegne và cs (2015) cho tỉ lệ
SDD chung ở Bure Town, Bắc Ethiopia là 35,5%; trong đó SDD thấp còi là
24,9%; SDD thể nhẹ cân là 14,3% và SDD thể gầy còm là 11,1% [52].
Nghiên cứu tại Tanzania (2017) cho kết quả tỉ lệ SDD thấp còi là 41,9%;
SDD thể nhẹ cân là 46,0% và SDD thể gầy còm là 24,7%. Trong đó có 33,0%

nhất ở vùng Tây Nguyên (gần 50% năm 2002 xuống còn khoảng 35% năm
2011), tiếp đến là Vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ (khoảng
40% năm 2002 và giảm chậm còn khoảng 30 - 35% năm 2011). Các vùng
còn lại là Duyên hải Nam Trung Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đồng
bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ, tuy có sự khác biệt về tỉ lệ SDD thấp
còi năm 2002 (dao động trong khoảng từ 26% đến 34%) nhưng tính cho
đến năm 2011, tỉ lệ này đã xấp xỉ bằng nhau và ở vào khoảng trên dưới
25%. Một điều đáng chú ý sự biến động về tỉ lệ SDD thấp còi tại vùng
Đông Nam Bộ là khá lớn. Tỉ lệ SDD thấp còi đột ngột giảm thấp các năm
2005 và năm 2010, lần lượt là 21,6% và 19,2% [42].


14

40

36.5
29.6

Tỉ lệ SDD thấp còi (%)

30

29.3
24.6

23.8

Năm 2015


nông thôn, miền núi so với các thành phố lớn và các khu đô thị. Tỉ lệ SDD


15
giảm, nhưng vẫn còn cao tại các vùng núi, nông thôn trong khi tại các thành
phố, khu đô thị có xu hướng tăng tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì. Báo cáo tại Hà
Giang của Viện Dinh Dưỡng cho tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi năm
2013 là 35,4%; tỉ lệ SDD thấp còi năm 2014 là 35,2% [43], [44]. Thống kê
năm 2017 tại Hà Giang cho thấy tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thấp
còi là 34,3%, suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 22,3% và suy dinh dưỡng thấp
còi là 7,0% [12].
Một số nghiên cứu khác về SDD tại Việt Nam: Nghiên cứu của Lương
Thị Thu Hà tại hai xã của huyện Phú Lương, Thái Nguyên năm 2008 cho tỉ lệ
SDD của trẻ em trong nghiên cứu ở mức rất cao: SDD thấp còi là 41,5%; thể
nhẹ cân là 35,4%, thể gầy còm là 8,4%. SDD độ I thể thấp còi là 27,5% [16].
Nghiên cứu của Ngọc Xuân Chấn (2011) tại xã Yên Hà, Quảng Bình thấy: Tỉ
lệ SDD của trẻ em trong nghiên cứu cũng ở mức rất cao: thể thấp còi là
38,6%, thể nhẹ cân là 34,4%, thể gầy còm là 9,4%. SDD độ I thể nhẹ cân là
27,2%, thể thấp còi là 25,6%. Độ tuổi có tỉ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 40 - 60
tháng tuổi [11]. Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Mai (2013) tại tỉnh Khánh
Hòa cho kết quả: tỉ lệ SDD trẻ em từ 0 - 36 tháng tuổi tại các xã nghiên cứu
thuộc các huyện thị đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa ở mức thấp với tỉ lệ
SDD thấp còi 18,4%, SDD nhẹ cân 10,1%, SDD gày còm 3,6% và béo phì
2,6% [24]. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ (2013) cho tỉ lệ SDD trẻ em từ
12 - 24 tháng tại huyện Tiên Lữ thể thấp còi 29,4%, nhẹ cân là 7,6% và gầy
còm là 3,0% [48].
Nghiên cứu của Đinh Đạo (2014) tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng
Nam cho tỉ lệ SDD thấp còi 62,8%, SDD thể nhẹ cân 36,5% và SDD thể gầy
còm 8,4% [13]. Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cs (2014) tại thành phố Phủ
Lý cho tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi 7,5%, nhẹ cân 4,4% và gầy còm

đình, qua đó liên quan đến suy dinh dưỡng. Không những thế, đói nghèo chủ


17
yếu rơi vào những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp, khó có cơ hội tiếp
xúc với kỹ năng, thông tin và với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đã có
nhiều nghiên cứu khẳng định về có sự liên quan chặt chẽ giữa yếu tố kinh tế
gia đình với tình trạng SDD trẻ em. Nghiên cứu cho thấy hộ có kinh tế trung
bình và giàu thì con ít có nguy cơ mắc SDD thấp hơn 0,66 lần (95%CI: 0,45 0,95, p < 0,05) và 0,63 (95%CI: 0,45 - 0,95, p < 0,05) so với hộ nghèo [57].
Nghiên cứu khác tại Bangladesh cho thấy trẻ thuộc hộ gia đình có chỉ số
nghèo cao có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao hơn 2,892 lần so với nhóm
không nghèo (p < 0,001) [56]. Nghiên cứu trên 389 trẻ của Tariku E.Z và cs
(2018) thấy trẻ sống ở hộ nghèo có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao hơn 2,15
lần (95%CI: 1,00 - 4,60); trẻ sống ở hộ trung bình có nguy cơ mắc SDD thấp
còi cao hơn 2,90 lần (95%CI: 1,39 - 6,04) so với trẻ sống ở hộ giàu [74].
Bên cạnh đó, nghề nghiệp của bố hoặc mẹ là yếu tố quyết định thu
nhập trong gia đình, qua đó liên quan đến đói nghèo và suy dinh dưỡng.
Nghiên cứu của Mazengia Amare Lisanu và cs (2018) thấy bố có nghề nghiệp là
nông dân thì con có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao hơn 5,23 lần (95%CI: 1,55 17,64) [65]. Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cs (2014) cho kết quả: mẹ
làm cán bộ viên chức thì con bị SDD chiếm 3,8%, thấp hơn so với mẹ làm
nghề khác (13,6%), mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [21].
Cần nhận thức được rằng các yếu tố văn hoá xã hội, sinh thái đều có liên quan
tới đói nghèo và SDD trẻ em. Nhiều yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến phát
triển chiều cao góp phần tăng nguy cơ SDD thấp còi. Các yếu tố này ít nhiều ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe của đứa trẻ đang lớn thông qua môi
trường sống và vệ sinh của chúng. Nghiên cứu của Lê Cảnh Dũng và cs
(2011) thấy yếu tố liên quan đến tỉ lệ SDD trẻ em cao ở đồng bằng sông
Cửu Long chính là do yếu tố nghèo và phát triển nông thôn kém [15].
- Liên quan giữa gia đình đông con, mồ côi cha mẹ với SDD:
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status