Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn luyện từ và câu - Pdf 57

MỤC LỤC
Trang
b. Khó khăn:............................................................................................................................4
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................20

1


1. Mở đầu
1.1 Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm
Mục tiêu quan trọng của chương trình Tiếng Việt tiểu học là dạy cho học
sinh một công cụ để giao tiếp và học tập. Nhưng để sử dụng Tiếng Việt như một
công cụ giao tiếp và học tập thì trước hết học sinh phải nắm được vốn từ tiếng
Việt. Từ là đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, nếu không làm chủ được vốn
từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó để học tập cũng
như trong giao tiếp. Ngoài ra, vốn từ ngữ của một người càng giàu bao nhiêu thì
khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác và tinh tế bấy nhiêu. Vì vậy, làm
giàu vốn từ cho học sinh là việc làm rất quan trọng và cần thiết.
Mặt khác, với học sinh tiểu học, vốn từ mà các em có được chủ yếu dựa
trên kinh nghiệm sống và cách hiểu tự nhiên còn nhiều hạn chế. Đa số các em
chỉ mới hiểu được một số nét nghĩa của từ hoặc chỉ nắm nghĩa một cách chung
chung chứ chưa đầy đủ và chưa chính xác. Đặc biệt, khả năng vận dụng các từ
đã học vào giao tiếp và học tập còn nhiều hạn chế, học sinh còn gặp khó khăn
và bị lúng túng trong việc tìm từ và sử dụng từ. Làm giàu vốn từ cho học sinh
ngoài việc cung cấp thêm các từ mới, giúp học sinh hiểu nghĩa của từ còn tạo
tính thường trực của từ nhằm nâng cao khả năng lựa chọn và sử dụng từ của
học sinh khi học các môn học nói riêng và trong cuộc sống nói chung. .
Thế nhưng việc học luyện từ và câu ở trường tiểu học, đặc biệt ở học sinh
lớp 2 (là lớp đầu tiên làm quen và học phân môn này) thì thật không dễ chút nào.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi nhận thấy nhiều giáo viên chưa chú trọng
việc làm giàu vốn từ cho học sinh. Mặt khác, một số giáo viên chưa có sự sáng

+ Phương pháp đọc sách và tài liệu.
+ Phương pháp thực nghiệm.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Với mục tiêu chung của môn Tiếng Việt thì mục tiêu của phân môn Luyện
từ và câu là một bộ phận nhỏ của môn Tiếng Việt hết sức cần thiết để giúp học
sinh mở rộng và phát triển vốn từ làm cho vốn ngôn ngữ của các em càng
phong phú; việc giúp học sinh nắm ý nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ để bồi
dưỡng cho các em thói quen dùng từ chính xác, nói – viết thành câu, có ý thức
sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong học tập và giao tiếp.
Thông qua mục tiêu chương trình cũng như cụ thể hóa được vai trò của
nhân tố từ ngữ trong việc sử dụng tiếng Việt. Bên cạnh đó, phân môn Luyện từ
và câu ở lớp 2 còn góp phần quan trọng giúp học sinh mở rộng và phát triển
vốn từ. Từ đó, học sinh sẽ có một vốn từ nhất định để hình thành thói quen
dùng từ, nói và viết thành câu: có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong học
tập, giao tiếp và thích học Tiếng Việt. Do đó, người giáo viên dạy lớp 2 (hay
dạy bậc Tiểu học) cần phải hội đủ các yếu tố như: Có kiến thức sâu rộng và
chính xác của phân môn này, nắm vững mục tiêu chung cũng như mục tiêu của
từng bài dạy; có những hiểu biết cơ bản về nội dung bài học, về ý đồ của sách
giáo khoa và về cấu trúc của từng bài theo các thông tin thể hiện ở sách giáo
khoa; có năng lực giảng dạy nhất định, biết xử lý và linh hoạt sáng tạo trong
quá trình dạy – học. Đây chính là cơ sở vững chắc để giúp học sinh lĩnh hội
kiến thức một cách tốt nhất, các em biết vận dụng thành công vốn từ trong học
tập và giao tiếp.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
a. Thuận lợi:
- Nhà trường:
+ Nhà trường thường mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ, trao đổi kinh
nghiệm lẫn nhau. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn trường đều tạo điều kiện

số học sinh trong
4
lớp biết dùng một số mẫu câu đơn giản.

Đoạn văn kể về ông (hoặc bà) của em.
+ Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học Luyện
từ và câu.
Kết quả khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm của lớp 2A (lớp
thực nghiệm) và lớp 2B (lớp đối chứng)
Lớp
2A
2B

Tổng số
HS
34
34

HTT
SL
5
6

TL
14,5%
17,4%

HT
SL
15

thống câu hỏi và hình thức thực hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu, chưa phân
loại đối tượng học sinh để dạy học cho phù hợp.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu và vận dụng: “Một số biện
pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Luyện từ và câu”
2.3 Một số biện pháp thực hiện.
Biện pháp 1: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn
từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ.
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học trong đó dưới sự
hướng dẫn của giáo viên mà các thành viên trong nhóm thực hiện việc trao đổi,
thảo luận, chất vấn và chia sẻ lẫn nhau.
Quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp
thảo luận nhóm trong quá trình dạy học làm giàu vốn từ đặc biệt là trong nhiệm
vụ mở rộng vốn từ cho học sinh. Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng
phương pháp cá nhân làm việc độc lập, phương pháp vấn đáp để dạy các bài
tập mở rộng vốn từ. Số lượng từ ngữ học sinh nắm được trong giờ học không
cao và không bền vững. Khi huy động vốn từ theo chủ đề, mỗi học sinh chỉ huy
động được khoảng 1, 2 từ, nhiều nhất là 4, 5 từ. Thậm chí có học sinh không
huy động được một từ ngữ nào. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực
trạng trên là do giáo viên ít vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực vào trong giờ học, không tạo được điều kiện để học sinh có thể hoạt động
nhiều hơn với từ, lặp đi, lặp lại các thao tác với từ để có thể nhớ từ một cách
bền vững. Hơn nữa, khả năng giao tiếp của học sinh hiện nay còn yếu, học sinh
diễn đạt chưa rõ ràng, mạch lạc vì trong quá trình học, học sinh không được
thao tác nhiều với từ. Vì thế, trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng phương
pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học
sinh luyện tập sử dụng từ.
Cách thực hiện:
Để vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào trong bài dạy đạt hiệu quả,
giáo viên phải thực hiện các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị ở nhà

M: học sinh
………….

Chỉ đồ vật
M: ghế
…………..

Chỉ con vật
M: Chim sẻ
…………..

Chỉ cây cối
M: Xoài
…………..

Ví dụ 2: Ở bài tập 1, Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về Bác Hồ, Tuần 30, TV2 –
Tập 2 – Trang 104, ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu
học tập sau:
PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 4, trong thời gian 2 phút, tìm các từ:
a. Nói lên tình cảm của Bác Hồ đối với thiếu nhi ………………………..
.……………………………………………………………………………
b. Nói lên tình cảm của Bác Hồ đối với thiếu nhi ………………………..
……………………………………………………………………………
- Học sinh thảo luận nhóm
Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáo
viên quan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết, đảm bảo mọi nhóm
đều thảo luận sôi nổi, hiệu quả.
- Các nhóm báo cáo kết quả.
Trong thời gian các nhóm báo cáo kết quả, giáo viên tạo điều kiện cho các

khí trong lớp học, tạo ra sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ
vũ nhiệt tình của các bạn trong lớp. Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú
hơn với việc học từ ngữ trong các bài tập mở rộng vốn từ, làm giảm bớt đi sự
khô khan của bài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại,
quản lý vốn từ đúng, sử dụng từ chính xác, linh hoạt.
7


Thứ nhất: Trò chơi ghép nhanh tên sự vật
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật( người, đồ vật, con vật, cây cối,..) được vẽ
dưới đây. (bài tập 1 tuần 3, TV2 – Tập 1, trang 26)
Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người. Hãy tìm từ chỉ
mỗ hoạt động đó. (Bài tập 2 tuần 7, trang 59, TV2 –Tập 1)
Ví dụ 3: Hãy nêu tên các con vật có trong hình (Bài tập 3 tuần 16 trang
134, TV 2, tập 1).
a. Đối với dạng bài này, giáo viên chuẩn bị 2 bộ đồ dùng để chơi: mỗi bộ
gồm 1 số đồ vật thật hoặc tranh ảnh đại diện cho nghĩa của từ được nêu trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 2, các thẻ từ (bìa giấy) ghi tên các đồ vật (tranh ảnh)
- Giáo viên hoặc một học sinh là trọng tài để đánh giá kết quả.
b. Cách thực hiện:
- Chơi theo từng cặp 2 học sinh hoặc 2 nhóm học sinh (mỗi nhóm từ 2 đến 4
người chơi - Các đồ vật hoặc tranh ảnh đã được sắp xếp hoặc treo thành 2 nhóm.
Mỗi học sinh (hoặc mỗi nhóm) tham gia trò chơi được phát một bộ thẻ từ ghi tên
các đồ vật (tranh ảnh). Học sinh (hoặc nhóm) nào dán đúng và nhanh nhất các tên
(từ) vào đồ vật hoặc tranh thích hợp thì thắng cuộc.
Thứ hai: Trò chơi tìm nhanh từ cùng chủ đề
a. Mục tiêu
- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh
b. Chuẩn bị: bảng phụ hoặc giấy nháp

giáo viên và hai học sinh giúp giáo viên làm trọng tài.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chơi:
- Từ 2 đến 4 người chơi. Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau (10, 12 quân)
- Trọng tài lật 1 quân bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộ bài của
người chơi). Những người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ
đồng nghĩa với quân bài của trọng tài để đánh ra.
- Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh quân
bài đó đã "ăn", nếu sai thì người đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ được "ăn ".
Trường hợp 2 - 3 người cũng ra quân bài đúng thì cũng được “ăn".
- Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được "ăn" nhiều nhất sẽ
thắng cuộc. Như vậy, người thắng cuộc nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa.
Bước 3: Học sinh thực hiện trò chơi
Bước 4: giáo viên thay mặt cho tổ trọng tài công bố nhóm tìm được nhiều từ
đúng và chính xác nhất, rồi tuyên dương nhóm tìm được nhiều từ đúng và nhanh.
Các cặp từ đồng nghĩa nói về chủ đề học tập dùng làm bộ bài để chơi và bộ
bài để cầm cái: học tập - học hành, siêng năng - chăm chỉ, vui vẻ - phấn khởi,
giảng dạy - dạy dỗ, bài tập - bài vở, chăm chú - chú ý, lễ phép - lễ độ, thông minh
- sáng dạ, vâng lời - nghe lời, kiên nhẫn - kiên trì....
Thứ tư: Trò chơi tìm nhanh từ trái nghĩa
Mục tiêu: Học sinh nhận biết nhanh từ trái nghĩa, làm giàu vốn từ của học
sinh luyện trí thông minh, nhanh mắt nhanh tay
Cách chuẩn bị và cách chơi giống như cách chơi tìm nhanh từ đồng nghĩa
Áp dụng trò chơi này khi dạy bài 1 tuần 16: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ
sau: tốt, nhanh, ngoan, trắng, cao, khỏe ( TV2, tập 1, trang 133)
Các cặp từ trái nghĩa chỉ hoạt động, tính chất dùng làm bộ bài để chơi: tốt xấu, ngoan - hư, nhanh - chậm, trắng - đen, cao - thấp, khỏe - yếu, đẹp - xấu,
ngắn - dài...
Thứ năm: Trò chơi thi đoán từ
a. Mục tiêu: Trò chơi này giúp cho học sinh có kĩ năng đoán nhanh một từ
khi biết nghĩa hoặc một số dấu hiệu hình thức của từ đó. Củng cố về nghĩa từ và
mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh.

Trò chơi học tập rất hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không
nên lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi gây nhàn chán
đối với học sinh. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ về điều kiện vật chất
và cách thức thể lệ chơi. Trong lúc chơi, giáo viên cần hướng dẫn, động viên
hoàn thành tốt bài tập, tạo sự hưng phấn, thích thú trong tiết học. Tổ chức trò
chơi trong giờ mở rộng vốn từ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thời gian
ngắn, nội dung kiến thức thay đổi theo từng bài học… Vì vậy, tổ chức trò chơi
phải linh hoạt, khéo léo, không làm ảnh hưởng đến thời gian và đảm bảo chất
lượng dạy học.

Trò chơi: “Em biết tuốt” Mở rộng vốn từ về . (Bài tập 2, TV2, tập 1, trang 137)
10


Biện pháp 3: Vận dụng hợp lý và linh hoạt các hình thức thi đua,
khen thưởng nhằm khuyến khích học sinh mạnh dạn, chủ động, sáng tạo
trong giờ học theo tinh thần hợp nhất giữa Thông tư 22 và Thông tư 30.
Thi đua gắn với khen thưởng là một động lực không thể thiếu được
trong quá trình học của học sinh. Hình thức thi đua, khen thưởng rất phù hợp
với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học. Các em cố gắng phấn đấu vì động
cơ rất đơn giản: Cố gắng để được tích sao, được cô giáo khen, được bạn bè
mến phục, cố gắng để làm vui lòng ông bà, bố mẹ… Trong giờ học mở rộng
vốn từ, nhờ không khí thi đua, học sinh sôi nổi hơn, hăng say hơn, khen
thưởng giờ mở rộng vốn từ là sự công nhận kết quả mà học sinh đạt được
(Học sinh tìm ra từ mới, phát hiện ra nghĩa mới câu từ, đặt được câu hỏi, đoạn
văn hay …). Nếu được khen đúng lúc, học sinh sẽ cảm thấy tự tin và phấn đấu
hơn. Hiện nay, giáo viên ít sử dụng khen thưởng nên giờ học trầm, không sôi
nổi và chất lượng dạy học vốn từ cũng bị hạn chế do lý do này.
- Trong quá trình dạy mở rộng vốn từ tôi đã vận dụng phương pháp thi
đua, khen thưởng như sau:

từ cho học sinh
a. Đối với bài hệ thống hóa vốn từ
Hệ thống hóa vốn từ là yêu cầu học sinh tìm từ hoặc phân loại từ theo một
dấu hiệu chung nào đó. Do đó, đối với dạng bài tập này ngoài việc dựa vào các
ví dụ mẫu trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm từ thì giáo viên có
thể sử dụng những đồ dung trực quan nhằm gợi ý, định hướng cho học sinh
trong việc tìm từ, hệ thống hóa vốn từ.
Ví dụ 1: Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:
- Cây lương thực, thực phẩm.
M: lúa
- Cây ăn quả
M: cam
- Cây lấy gỗ
M: lim
- Cây bóng mát
M: phượng
- Cây hoa
M: cúc
( TV2, tập 2, trang 87)
Làm bài tập trên, mặc dù đã có những từ mẫu (còn gọi là từ điểm tựa), để
giúp HS hiểu rõ yêu cầu bài tập. Nhưng đối tượng HS yếu thường lúng túng khi
kể tên cũng như phân loại cây theo nhóm. Vì thế, giáo viên chuẩn bị tranh ảnh
một số loại cây để giúp HS nhớ tên gọi từ đó có cơ sở xếp vào các nhóm theo
yêu cầu bài.

Ví dụ 2: Hãy giải nghĩa từng từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó: trẻ
12


con, xuất hiện, cuối cùng, bình tĩnh.(TV2, Tập 2, trang 137)

đang làm gì? Các bạn thiếu nhi dâng hoa ở lăng Bác thể hiện điều gì?). Như
vậy với câu hỏi gợi mở cùng tranh hỗ trợ các em đã có thể đặt được câu với
từ yêu quý, biết ơn.
Ví dụ 4 : Bài: Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về loài thú. Dấu chấm, dấu phẩy,
TV2, tập 2, trang 55
Hãy chọn tên con vật thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây:
a/ Dữ như…
c/ Khỏe như…
b/ Nhát như….
d/ Nhanh như….
( thỏ, voi, hổ (cọp), sóc)
Đối với các bài tập này, đối tượng HS yếu còn lúng túng tôi tung một số
13


tranh ảnh có thể hiện đặc điểm, hoạt động các con vật (tranh vẽ voi đang kéo
gỗ, hổ đang vồ bắt thú, chú sóc đang chuyền cành, chú thỏ đang nấp vào bụi
rậm tránh các con vật dữ). Như vậy, từ những hình ảnh trên đã giúp học sinh
có cơ sở sử dụng từ để điền từ đúng tạo thành những câu thành ngữ thích hợp
trên cơ sở thấy được đặc điểm của các con vật.
Biện pháp 5: Hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho
học sinh.
- Theo quan điểm của giáo dục học, tự học là quá trình tự mình hoạt động
lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng
dẫn trực tiếp của cơ sở giáo dục. Tự học có thể bằng cách đọc tài liệu, sách
giáo khoa, nghe đài, xem truyền hình, thăm bảo tàng, triển lãm…
- Tự học gắn liền với tự ý thức và tự giáo dục. Ở học sinh tiểu học, tự ý
thức và tự giáo dục của các em đang hình thành và phát triển. Do vậy, tự học
của học sinh tiểu học khác với tự học của các cấp học trên (THCS, THPT) về
yêu cầu, mức độ, phạm vi… Tự học của học sinh tiểu học chỉ giới hạn ở việc



Khi làm bài: Đọc kỹ đề bài, làm bài ra giấy nháp, sửa chữa cho chính xác
rồi mới viết vào vở. Nếu gặp những từ chưa hiểu rõ nghĩa học sinh phải tự tra
từ điển hoặc hỏi người lớn để hiểu nghĩa.
Trong khi học bài, làm bài, học sinh phải tập thói quen cẩn thận, chắc
chắn, thực hiện đến nơi đến chốn các nhiệm vụ được giao và bố trì thời gian tự
học hợp lí. Trong buổi tự học, cần giành thời gian để ôn bài vừa học, làm các
bài tập, chuẩn bị cho bài ngày hôm sau.
Thứ nhất: Tập cho học sinh thói quen dựa vào sức mình là chính.
Trong bất kỳ kình thức hoạt động nào, dù hoạt động độc lập hay thảo luận
nhóm, học sinh cũng đều phải có ý thức dựa vào bản thân mình là chính. Học
sinh phải tích cực suy nghĩ để tìm từ theo chủ đề, tìm ra dấu hiệu chung của các
từ để thực hiện nhiệm vụ phân loại và quản lí vốn từ … Giáo viên chấn chỉnh
ngay những học sinh có thói quen ỉ lại, dựa dẫm vào các bạn khác trong lớp,
không tích cực học tập, suy nghĩ, thụ động đón nhận tri thức có sẵn.
Thứ hai: Đa dạng hóa các hình thức làm giàu vốn từ.
Hoạt động tự học làm giàu vốn từ của học sinh được tiến hành dưới nhiều
hình thức khác nhau như: Tự học cá nhân, tự học theo nhóm, tự học trên lớp, tự
học ở nhà… Đối với đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2, khả năng tự học của
các em đã dần dần được hình thành cho nên trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp
dụng tất cả các hình thức tự học trên. Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn cho từng cặp
học sinh tự học theo hình thức nhóm đôi. Xây dựng “Đôi bạn cùng tiến” thi đua
và giúp đỡ nhau học tập trên lớp và ở nhà. Nhờ hình thức này, học sinh trao đổi
với nhau các vấn đề liên quan đến từ và vốn từ. Qua quá trình thực hiện tôi
thấy hình thức này đã mang lại hiệu quả tích cực.
Thứ ba: Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của học sinh.
Khi giao bất kỳ nhiệm vụ gì cho học sinh, giáo viên đều phải kiểm tra,
đánh giá, xem xét học sinh có thực hiện không? Kết quả thực hiện như thế nào?
Nếu giao nhiệm vụ tự học, giáo viên không kiểm tra, đánh giá thì học sinh sẽ

- Hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường.
II. CHUẨN BỊ:
1. Phương pháp dạy học:
- Phương pháp trực quan, thảo luận nhóm, hỏi – đáp, trò chơi học tập, cá
thể hóa, đóng vai.
2. Đồ dùng dạy học:
- Bài giảng trình chiếu điện tử, bảng thông minh cho HĐ1, băng giấy cho
BT3, bông hoa thưởng.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC:
* Khởi động (1’): Bài hát “ Bé yêu biển lắm”
Hoạt động 1: Củng cố kiến thức (4’):
- GV chọn một dãy bàn (hàng dọc) cho học sinh đứng dậy nối tiếp nhau nói
ra các từ chứa tiếng biển. HS nào đến lượt mà không nói được sẽ thua cuộc.
- GV dựa vào bài chính tả “Vì sao cá không biết nói?” đặt câu hỏi: Theo
người anh, vì sao cá không biết nói?
- HS trả lời. GV và cả lớp nhận xét và tuyên dương HS trả lời đúng.
2. Bài mới (25’):
* Giới thiệu bài: GV giới thiệu mục tiêu bài và ghi tựa đề.
Hoạt động 2: Bài tập 1: Xếp các loài cá theo nhóm
* Mục tiêu: HS phân biệt được các loại cá nước mặn và nước ngọt trong
cuộc sống.
- 2 HS đọc yêu cầu của đề bài.
- HS quan sát trên màn hình và nối tiếp nhau đọc tên các loài cá có trong hình.
- GV chia nhóm và tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm 4 phân biệt các
loại cá nước mặn và nước ngọt theo 2 nhóm rồi gắn trên bảng.
- Nhóm nào nhanh nhất sẽ được dán trên bảng, các nhóm còn lại sẽ để ở vị
trí của nhóm mình.
- Nhóm nào làm xong có thể tìm thêm các loài cá nước mặn và nước ngọt
mà em biết.
- Các nhóm cử nhóm trưởng và tiến hành thảo luận

để nói về hình dạng, cách sống và cách bảo vệ con vật đó.
- GV và HS tuyên dương bạn sắm vai tốt nhất.
- GV giáo dục ý thức bào vệ môi trường .
- GV nhận xét tiết học.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục:
- Nhờ áp dụng nhiều biện pháp nên vốn từ của học sinh ngày càng phong
phú và bền vững, học sinh có thể huy động nhanh từ theo chủ đề khi giáo viên
yêu cầu hoặc khi viết đoạn văn.

17


Đoạn văn kể về ông (hoặc bà) của em.
- Học sinh thích làm bài tập hơn, hào hứng với trò chơi học tập, thảo luận
nhóm sôi nổi, tự mình khám phá ra từ mới, nắm nghĩa từ, sử dụng từ. Vận dụng
các biện pháp làm giàu vốn từ đã đề xuất làm cho lớp học sôi nổi hơn nhiều.
Kết quả khảo sát cuối tháng 3 của lớp 2A (sử sụng biện pháp làm giàu vốn
từ cho học sinh) và lớp 2B (không sử sụng biện pháp làm giàu vốn từ cho học
sinh):
HTT
HT
CHT
Tổng
Lớp
số HS
SL
TL
SL
TL
SL

Sau khi áp dụng các biện pháp làm giàu vốn từ và đạt được một số kết quả
như trên, tôi nhận thấy việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 sẽ giúp các em
có kĩ năng sử dụng từ để giao tiếp một cách thường trực. Ngoài ra, các em còn
có thể lựa chọn trong vốn từ của mình những từ ngữ gợi tả, gợi cảm để viết
những câu văn hay, sinh động, giàu hình ảnh.
3.2 Kiến nghị:
- Giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu như: thảo luận
nhóm, trò chơi học tập và biện pháp thi đua khen thưởng. Bên cạnh đó, giáo
viên cần tự trau dồi vốn từ cho mình để có những hiểu biết sâu sắc về các
nhiệm vụ làm giàu vốn từ ở tiểu học.
- Ban giám hiệu nhà trường tham mưu cho cấp trên mua sắm các trang
thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho việc dạy học, tổ chức các câu lạc bộ Tiếng Việt
để học sinh được giao lưu và học hỏi lẫn nhau.
18


- Các cấp quản lý giáo dục cần tổ chức thêm các chuyên đề Tiếng Việt để
tất cả giáo viên được học hỏi thêm kinh nghiệm về cách làm giàu vốn từ cho
học sinh.
Trên đây là một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông
qua phân môn Luyện từ và câu mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng vào công tác
giảng dạy trong năm học. Tuy đã cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu
sót. Bản thân rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các đồng nghiệp và cấp
lãnh đạo.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status