SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG VÀ ĐẸP CHO HỌC SINH LỚP 1
Người thực hiện
Chức vụ
Đơn vị công tác
SKKN thuộc môn
: Nguyễn Thị Phương
: Giáo viên
: Trường Tiểu học Lý Tự Trọng
: Tiếng Việt
THANH HÓA, NĂM 2019
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài:............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu:.....................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
2 . NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM....................................................2
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm........................................................2
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm........................3
hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn góp phần rèn
luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học Tiếng Việt trong nhà
trường.
Dạy Tập viết là chúng ta đã trao cho các em chìa khoá để mở ra những
cánh cửa tri thức bước vào tương lai. Chữ viết là công cụ để các em vận dụng
suốt đời. Viết đúng mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh giúp học sinh có điều kiện ghi
chép bài học tốt, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn.Viết xấu tốc độ chậm sẽ
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập. Vì vậy dạy học sinh viết đúng, viết
đẹp là rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức tốt như: tính kỉ luật, tính
cẩn thận, óc thẩm mỹ và sáng tạo. Như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng
nói: “Chữ viết là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết
cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỷ
luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô và bạn đọc bài vở
của mình” .
Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, sự bùng nổ của khoa
học Công nghệ thông tin,chữ viết cũng có máy tính làm thay. Vậy việc rèn chữ
có quan trọng không? Từ năm 2001-2002. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết
định về việc tổchức thi viết chữ đẹp hằng năm cho giáo viên và học sinh Tiểu
học. Cho đến nay đã khơi dạy trong học sinh, giáo viên và toàn xã hội về ý thức
cần viết chữ đẹp. Chữ viết đẹp của học sinh là vấn đề được mọi người trong và
ngoài ngành Giáo dục và Đào tạo quan tâm lo lắng. Người xưa đã nói: “Nét chữ
- nết người” là hàm hai ý sau: Thứ nhất, nét chữ thể hiện tính cách con người;
Thứ hai, thông qua rèn luyện chữ viết mà giáo dục nhân cách con người .
Ngày 14/6/2002 Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành mẫu chữ viết
trong trường Tiểu học theo Quyết định số 31/2002/QĐ-BGD . Đây chính là việc
nhìn nhận tầm quan trọng và ý nghĩa của chữ viết. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao
rèn chữ viết đẹp cho học sinh chính là yêu cầu bức xúc của người giáo viên. Bởi
chữ viết là cần thiết và cấp bách. Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy, tôi luôn
băn khoăn về vấn đề chữ viết của các em. Làm thế nào để giúp các em viết
đúng, viết đẹp. Các bậc cha mẹ sẽ hạnh phúc và sung sướng biết bao nhiêu khi
học chủ yếu là hình thành những kĩ năng cơ bản. Dạy chữ để dạy người. Dạy
người là mục tiêu cơ bản của giáo dục tiểu học. Giáo dục tiểu học là cơ hội tốt
nhất,cơ hội cuối cùng hình thành và giữ gìn bản sắc Việt Nam. Thực hiện tốt
mục tiêu giáo dục tiểu học là đảm bảo sự bền vững lâu dài của đất nước.
* Vị trí và tầm quan trọng của việc rèn chữ viết đúng,viết đẹp cho học
sinh lớp 1:
- Số lượng giờ tập viết: Ở kì 1: 2 tuần có 2 tiết tập viết riêng và một phần
ba thời gian tập và luyện viết trong giờ học vần. Kì 2: 1 tuần /1 tiết và đến tuần
25 có thêm mỗi tuần 2 tiết chính tả.
Hơn nữa lớp 1 là lớp học nền móng của quá trình học ở tiểu học, chính vì
vậy việc rèn chữ viết cho các em viết đúng, viết đẹp là rất quan trọng. “Nét chữ
-nết người” nét chữ là thể hiện tính cách của con người, hơn nữa thông qua việc
rèn chữ viết mà giáo dục nhân cách con người. Như vậy phong trào giữ vở sạch,
viết chữ đẹp vừa là mục đích, vừa là phương tiện của quá trình giáo dục toàn
diện nhân cách của học sinh. Có viết được chữ đúng thì học sinh mới có khả
năng học được các môn học khác.
Chữ viết là sáng tạo kỳ diệu của con người. Sự xuất hiện của chữ viết
đánh dấu một giai đoạn phát triển về chất của ngôn ngữ. Chữ viết và dạy chữ
viết được mọi người quan tâm. Việc rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh Tiểu học
đã được nhiều thế hệ thầy, cô giáo quan tâm, trăn trở, góp nhiều công sức cải
tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy chữ viết. Dạy Tập viết là dạy
học sinh có những khái niệm cơ bản về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình
2
dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo các chữ cái, vị trí dấu thanh, dấu phụ, các khái
niệm liên kết nét chữ, hoặc liên kết chữ cái… Từ đó hình thành cho các em
những biểu tượng về hình dáng, đường nét các con chữ, độ rộng, độ cao sự cân
đối, tính thẩm mĩ của chữ viết.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Về phía học sinh:
- Ngày đầu tiên vào lớp Một các em chưa có những khái niệm về đường
kẻ, dòng kẻ, độ cao, khoảng cách giữa các nét chữ và giữa những chữ cái, chữ
ghi tiếng, cách viết các chữ thường, dấu thanh và chữ số.
- Cách cầm bút chưa đúng
- Tư thế ngồi viết chưa đúng
- Kỹ thuật viết con chữ và chữ chưa đúng
- Một bộ phận không nhỏ học sinh viết chữ chưa đúng mẫu các chữ cái để
ghi âm, vần, tiếng, không đúng cỡ chữ (độ cao, độ rộng) ghi dấu thanh không
đúng vị trí.
3
- Các em còn quá nhỏ nên chưa có ý thức, hiếu động và thiếu kiên trì,chưa
hứng thú đối với việc rèn chữ. Các em chưa tự giác trong học tập.
- Một số thói quen đã được hình thành ngay từ khi còn ở lứa tuổi mẫu
giáo.
- Một số em học sinh chưa đủ đồ dùng học tập hoặc đồ dùng không đảm
bảo yêu cầu. Có những em viết bút kim, bút mực chảy không đều, có những em
ngòi bút mực bị gai. Bảng con, phấn viết không đảm bảo.
- Trong giờ tập viết GV chưa hướng dẫn một cách cơ bản, tỉ mỉ về việc
viết đúng mẫu, chữ viết chưa đúng quy trình từ nét đầu tiên đến khi kết thúc một
con chữ.
Từ những khó khăn, hạn chế nêu trên làm cho chất lượng dạy phân môn
Tập viết ở các trường hiện nay chưa cao. Đó là một thực tế mà những người giáo
viên trực tiếp giảng dạy rất băn khoăn, lo lắng. Vậy làm thế nào để nâng cao
chất lượng dạy phân môn Tập viết và nâng cao chất lượng chữ viết của học
sinh? (nghĩa là giúp học sinh viết đúng, viết đẹp). Tôi đã dựa vào những nguyên
nhân đó để tìm ra “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng và đẹp cho học sinh
lớp 1”.
chữ, có em dấu chạm vào chữ, dấu không đúng chữ ghi âm chính…..
Từ đó, tôi thấy mạnh dạn đưa ra một số giải pháp thiết thực để nâng cao
chất lượng dạy phân môn Tập viết cho học sinh lớp 1,cụ thể là :
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Giáo viên cần nắm chắc kiến thức, viết tốt mẫu chữ quy định để
dạy học sinh.
Việc nắm chắc các mẫu chữ hiện hành theo chuẩn của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và việc viết tốt mẫu chữ quy định là một yêu cầu cần thiết không thể
thiếu được đối với người giáo viên Tiểu học. Đây chính là một tiêu chí mà mọi
giáo viên phải đặt ra và thực hiện. Có nắm chắc các mẫu chữ thì giáo viên mới
viết đúng và đẹp theo chuẩn được từ đó mới hướng được dẫn học sinh viết đúng
và đẹp. Chữ mẫu của giáo viên được coi như “khuôn vàng, thước ngọc”, chuẩn
mực để học sinh noi theo. Lứa tuổi của các em là lứa tuổi hay “bắt chước” và
làm theo mẫu. Giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế. Đặc biệt là
4
học sinh lớp 1. Người giáo viên phải coi trọng việc trình bày trên bảng là trang
viết mẫu mực của mình để học sinh học tập. Do vậy tôi thường xuyên phải tự
luyện chữ sao cho đúng và đẹp. Mỗi năm học tôi đều có vở tập viết của mình
viết sẵn, vừa để luyện chữ vừa thuận tiện cho việc hướng dẫn và làm mẫu cho
học sinh tập viết. Tôi còn sưu tầm những bài viết, vở viết sạch đẹp của học sinh
những năm học trước để giới thiệu cho học sinh học tập.
Việc viết mẫu của giáo viên là một thao tác trực quan trên bảng lớp giúp
học sinh nắm bắt được quy trình từng nét của chữ cái. Do vậy khi viết mẫu cho
học sinh tôi viết chậm lại đủ để cho học sinh quan sát, vừa viết vừa kết hợp nhịp
nhàng với giảng giải, phân tích: Đặt bút từ điểm nào, rê bút như thế nào, đưa bút
vào vị trí nào, thứ tự các nét viết ra sao, dừng bút ở điểm nào? Tôi phân tích cả
cách viết dấu phụ, dấu thanh để học sinh dễ dàng nhận biết được cách viết. Tôi
hướng dẫn cả về khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng (bằng một con chữ o) để
với độ cao 4 đơn vị là: Y, G.
* Mẫu chữ số: Chữ số được viết với độ cao 2 đơn vị.
5
2.3.2. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện vật chất, thiết bị dạy - học:
Việc chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học học của nhà
trường, giáo viên và học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy- học ở
Tiểu học. Đó chính là điều kiện dẫn tới sự thành công của việc dạy - học ở bất
cứ môn học nào đặc biệt nhất là phân môn dạy Tập viết trong trường tiểu học.
a. Ánh sáng phòng học: Phòng học phải đủ ánh sáng cho mọi học sinh
ngồi học theo quy định của vệ sinh học đường.
- Mỗi phòng cần có 4 bóng đèn tuýp 1,2m.
b. Bảng lớp: Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải ngang tầm với đầu học
sinh ngồi học, kích thước 1,2m x 2,9m. Chất lượng bảng chống loá, trên bảng có
dòng kẻ phù hợp, bên phải là dòng kẻ ô li nhỏ giống như trong vở Tập viết của
học sinh để giáo viên viết mẫu và hướng dẫn viết vở. Bảng lớp phải luôn luôn
được xoá sạch bằng khăn lau sạch, có độ ẩm vừa phải.
c. Bàn ghế học sinh: Bàn ghế học sinh: Đầy đủ về số lượng và đảm bảo
về chất lượng, trung bình 2 học sinh/1 bàn. Tránh tình trạng học sinh ngồi chật
chội sẽ khó viết. Kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao trung bình của học
sinh lớp 1.
d. Bảng con, phấn, giẻ lau: Yêu cầu học sinh dùng bảng Mic hai mặt có
dòng kẻ ô li giống trong vở Tập viết của các em. Phấn Mic hoặc phấn Thiên
Long trắng có chất liệu tốt, không dùng phấn cứng quá hoặc kém chất lượng.
Giẻ lau phải mềm, sợi bông thấm nước, giữ độ ẩm vừa phải, có thể gấp nhiều
lần, độ dày thích hợp và luôn sạch. Bảng con, giẻ lau đảm bảo đủ cho từng học
sinh mỗi em một cái, học sinh phải có hộp đựng phấn.
e. Vở tập viết và bút: Vở Tập viết phải do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành
hàng năm. Giấy viết phải đảm bảo không bị thấm mực, dòng kẻ phải ngay ngắn,
chán trong giờ học.
Để giúp học sinh có kĩ năng, kĩ sảo sử dụng đồ dùng học tập đúng cách
và thành thạo đạt hiệu quả cao trong giờ Tập viết tôi thường hướng dẫn học sinh
thực hiện theo yêu cầu của giáo viên.
a. Cách sử dụng đồ dùng dạy - học khi viết bảng con:
- Bảng con phải luôn luôn được lau sạch sẽ bằng khăn lau sạch.
- Học sinh viết bảng con: Yêu cầu ngồi viết đúng tư thế, cầm và điều
khiển phấn đúng cách, giơ bảng và xoá bảng theo các lệnh của giáo viên:
Lệnh 1: Giáo viên gõ một tiếng thước yêu cầu học sinh viết chữ ghi âm,
vần hoặc chữ ghi tiếng, chữ ghi từ vào bảng con.
Lệnh 2: Giáo viên gõ tiếng thước thứ hai yêu cầu học sinh giơ bảng ngay
ngắn.
Lệnh 3: Giáo viên gõ tiếng thước thứ ba học sinh bỏ bảng xuống.
Lệnh 4: Giáo viên gõ tiếng thước thứ tư học sinh đọc và xoá bảng.
b. Cách sử dụng đồ dùng dạy - học khi viết vở Tập viết hay Luyện viết:
- Vở Tập viết, Luyện viết lớp 1 cần bọc bìa, dán nhãn vở, giữ gìn sạch sẽ,
không để quăn mép, hoặc giây bẩn. Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngay
ngắn trước mặt. Nếu tập viết chữ nghiêng (tự chọn) cần để vở hơi nghiêng sao
cho mép vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 .
- Bút chì dùng ở 8 tuần đầu lớp 1 cần được gọt cho cẩn thận đầu chì không
quá nhọn hay dày quá để dễ viết rõ nét chữ.
- Bút mực cần sử dụng loại bút có quản, ngòi bút nét thanh, nét đậm ra
đều mực. Để tránh bẩn tay tôi thường hướng dẫn học sinh tỉ mỉ cách lấy mực,
đậy nắp và lau sạch mực ở phần ngoài của bút bằng giấy lau thấm.
Khi viết vở tôi hướng dẫn học sinh thưc hiện theo các lệnh sau:
Lệnh 1: Giáo viên gõ tiếng thước thứ nhất và yêu cầu học sinh đặt bút vào
điểm có dấu chấm trong vở viết một dòng chữ ghi âm hoặc chữ ghi tiếng.
Lệnh 2: Giáo viên gõ tiếng thước thứ hai yêu cầu học sinh đặt bút vào
điểm có dấu chấm viết một dòng chữ ghi tiếng hoặc từ.
Lệnh 3, lệnh 4,.. tương tự như vậy cho đến hết bài.
Học sinh mới vào lớp 1 chưa có khái niệm về đơn vị đo độ dài nên chưa
thể tự ước lượng được khoảng cách từ 25cm - 30cm nên tôi cho học sinh chống
cùi chỏ tay trên mặt bàn, ngửa bàn tay ra, áp trán vào sát lòng bàn tay để ước
lượng khoảng cách mặt với vở và luôn giữ ở vị trí cố định như vậy khi viết, em
nào quên có thể tự ước lượng lại được.
c. Cách cầm bút:
- Cầm bút bằng ba đầu ngón tay: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa
- Khi viết dùngba ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút
nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động mềm mại, thoải mái.
- Không nên cầm bút tay trái.
Tôi cũng làm mẫu và hướng dẫn tỉ mỉ cách cầm bút: Ngón cái và ngón trỏ
đặt ở phía trên, ngón giữa ở phía dưới đỡ đầu bút cách đầu bút khoảng 1 đốt
ngón tay. Cầm bút xuôi theo chiều ngồi, bút đặt nghiêng so với giấy khoảng
. Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng
. Khi viết đưa bút từ trái qua phải, từ
trên xuống dưới, các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải nhẹ tay.
d. Cách để vở, xê dịch vở khi viết:
Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngay ngắn trước mặt. Nếu tập viết
chữ nghiêng (tự chọn) cần để vở hơi nghiêng sao cho mép vở phía dưới cùng với
mép bàn tạo thành một góc khoảng
. Khi viết độ nghiêng của nét chữ cùng
với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông
như vậy dù viết theo kiểu chữ
đứng hay chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ khác nhau về
con chữ o vì là nét cong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm dừng bút.
Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét tôi nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc các
em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật.
b. Dạy cách rê bút: Là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy
theo đường nét viết trước hoặc tạo ra việt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên.
(Từ rê được hiểu theo nghĩa di chuyển chậm đều đều, liên tục trên bề mặt của
giấy, do vậy giữa đầu bút và mặt giấy không có khoảng cách)
c. Dạy cách lia bút: Là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm
đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy. Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa
nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh về quy trình viết một chữ cái, rèn kĩ
thuật nối chữ, viết liền mạch người giáo viên cần lưu ý sử dụng các thuật ngữ
trên cho chính xác.
+ Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ m tôi hướng dẫn như sau:
- Nét 1: Đặt bút giữa đường kẻ 2 (ĐK 2) và đường kẻ 3 (ĐK 3), viết nét
móc xuôi trái chạm ĐK3, dừng bút ở ĐK 1.
- Nét 2: Từ điểm dừng bút nét 1, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc
xuôi thứ hai có độ rộng bằng một ô li rưỡi; dừng bút ở ĐK 1.
9
- Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét
móc hai đầu (độ rộng bằng nét 2); dừng bút ở ĐK2.
d. Rèn viết đúng trọng tâm các nhóm chữ:
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái,
để học sinh viết đúng kĩ thuật, viết đẹp, nắm chắc mẫu chữ. Tôi chia chữ viết
thành các nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ gồm những
nét nào, những nét chữ nào học sinh hay viết sai, học sinh gặp khó khăn gì khi
viết các nhóm chữ đó để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết đúng và đẹp
mẫu chữ trong trường Tiểu học cỡ vừa như sau:
con chữ o viết một nét cong tròn đều đi qua 4 chấm thì sẽ được chữ o tròn đều
và đẹp. Sau đó tôi hướng dẫn học sinh ghép với các nét cơ bản khác để tạo thành
chữ.
Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nét nối,
nhất là chỗ rê bút, từ điểm dừng bút của con chữ vừa viết, rê bút lên viết liền
mạch đến đâu mới được nhấc bút. Ở phần đầu học chữ ghi âm, học sinh đã được
10
hướng dẫn rất kĩ về độ cao, độ rộng của từng nét chữ, con chữ. Khi dạy sang
phần vần tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chữ song tôi vẫn thường
xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ cái, những chữ cái nào có độ cao
bằng nhau, nét nối giữa các chữ cái trong một chữ ghi tiếng, khoảng cách giữa
các chữ ghi tiếng (bằng một con chữ o).
Khi hướng dẫn học sinh viết chữ nét thanh, nét đậm, tôi vừa viết mẫu vừa
nói rõ quy trình viết (viết như quy trình),chỉ khác bằng một mẹo nhỏ để học sinh
dễ làm theo: Chú ý viết các nét rê lên đưa nhẹ tay hơn một chút tạo nét thanh bé,
nét kéo xuống theo chiều đầu ngòi bút tạo nét đậm hơn nét thanh một chút. Đối
với bút mực học sinh cần viết úp ngòi xuống, cổ tay, cánh tay để vuông góc.Với
học sinh trung bình, yếu tôi chỉ yêu cầu các em viết đúng cỡ chữ, thẳng hàng,
ngay ngắn, đều nét, liền mạch. Đối với học sinh viết đẹp, tôi yêu cầu ở mức độ
cao hơn các em viết được chữ nét thanh, nét đậm. Nét chữ có độ mịn, mượt,
không sần sùi. Chữ viết thẳng đứng, các nét chữ song song với nhau, đều nét,
liền mạch, ngay ngắn và sạch đẹp.
Khi dạy học sinh cỡ chữ nhỏ tôi cũng thường xuyên luyện theo cách đó
giúp các em nhớ lâu và viết đều nét, liền mạch, đúng độ cao, độ rộng các chữ
cái.
2.3.6. Khắc sâu những lỗi học sinh thường gặp khó khăn.
Giáo viên cần nhấn mạnh chỗ ghi dấu thanh với vần, từng loại vần. Cái
khó với học sinh là không biết ghi dấu thanh ở vị trí nào nhất là những chữ có từ
hoặc những tiếng, những từ ngữ khó có âm đầu hay nhầm lẫn như: l/n, x/s, tr/ch,
r/d, thanh hỏi, thanh ngã . . .
* Tôi chú trọng hướng dẫn cách phát âm l/n như sau:
- Cánh phát âm n: Thẳng lưỡi, đầu lưỡi chạm lợi dưới, hơi thoát ra ngoài
qua cả mũi và miệng.
- Cánh phát âm l: Đầu lưỡi cong lên, chạm lợi trên hơi thoát ra ngoài qua
2 bên rìa, xát nhẹ.
Mặt khác tôi chú ý dạy học sinh nắm chắc cách kết hợp giữa âm và vần
như:
+ Chữ ghi âm k thường kết hợp được với các chữ ghi âm: e, ê, i, (đứng
sau). Ví dụ: ki, ke, kê,…
+ Chữ ghi âm k thường kết hợp được với các vần có âm: e, i, ê đứng
trước như: kiến, kền, kèn,…
+ Chữ ghi âm gh chỉ kết hợp được với các chữ ghi âm: e, ê, i, (đứng
sau).Ví dụ: ghi, ghê, ghe.
+ Chữ ghi âm gh chỉ kết hợp được với các vần có âm: e, i, ê đứng
trước.Ví dụ: ghềnh,…
+ Chữ ghi âm ngh chỉ kết hợp được với các chữ ghi âm: e, ê, i, (đứng
sau). Ví dụ: nghi, nghề, nghe,…
+ Chữ ghi âm ngh chỉ kết hợp được với các vần có âm: e, i, ê đứng
trước.Ví dụ: nghiền, nghênh,…
+ Chữ ghi âm g hoặc ng chỉ kết hợp được với các âm hoặc vần có âm: o,
ô, ơ, u, ư, a, ă, â đứng trước.Ví dụ: ga, gô, go,.. nga, ngo, ngô,…
+ chữ ghi âm c không kết hợp được với âm e, i, ê mà chỉ kết hợp được
với các âm hoặc vần có âm: o, a, ô, ơ, u, ư, â, ă đứng trước.
- Ngoài ra tôi còn giải nghĩa từ, giúp học sinh đọc đúng, hiểu đúng.
- Khi học sinh viết bài tôi chú ý quan sát và sửa lỗi cho các em, chỉ ra các
lỗi sai mà học sinh hay mắc giúp các em tự sửa lỗi.
Kết hợp với dạy tập viết, chính tả, cùng với các môn học khác tôi thấy các
em tiến bộ rõ rệt sau mỗi tuần học. Cuối tuần vào giờ hoạt động tập thể, tôi lại
Tập tô các chữ hoa theo trình tự bảng chữ cái ( A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê,
G, H, I, K, L, M, N,…).
Tập viết các vần bằng chữ thường, cỡ vừa và nhỏ (là các vần đã ôn luyện
ở bài đọc trước đó).
Tập viết các từ ngữ bằng chữ thường cỡ vừa và nhỏ (là các từ ngữ gắn với
nội dung bài đọc, với các vần đã được ôn luyện trong bài đọc).
a/ Quy trình dạy Tập viết trong tiết học vần:
+ Hướng dẫn học sinh viết bảng
- Giới thiệu mẫu chữ viết (theo bìa mẫu chữ Dạy Tập viết - TBDH tối
thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp): Giáo viên chỉ vào chữ mẫu, nêu rõ
đặc điểm, cấu tạo, cách viết.
- Giáo viên viết mẫu (trên bảng phụ hoặc bảng lớp).
- Hướng dẫn học sinh viết chữ ghi âm (vần) vào bảng con.
- Hướng dẫn học sinh viết chữ ghi tiếng, từ mới.
+ Hướng dẫn học sinh viết trong vở Tập viết 1.
b. Quy trình dạy Tập viết trong tiết Tập viết:
A. Kiểm tra bài cũ
- Giáo viên kiểm tra bài viết ở nhà trong vở Tập viết.
- Học sinh lần lượt viết bảng (bảng lớp, bảng con) 2 từ ngữ đã học ở tiết
trước.
B. Dạy bài mới
1. Giới thiệu bài
2. Hướng dẫn học tô chữ hoa
- Hướng dẫn học sinh quan sát và nhận xét chữ hoa:
+ Học sinh quan sát chữ hoa trên bảng phụ và trong vở Tập viết.
+ Giáo viên nhận xét số lượng nét và kiểu nét của chữ mẫu.
+ Giáo viên nêu quy trình viết và hướng dẫn viết (vừa nói vừa tô chữ
trong khung chữ)
- Học sinh tập tô 1-2 chữ hoa cho mỗi chữ trong vở Tập viết.
13
sinh viết đúng hoặc biểu dương những học sinh viết đẹp; giúp học sinh thấy rõ
thành công hay hạn chế trong bài tập viết của các em.
Trong quá trình dạy viết, tôi còn để học sinh tự nhận xét chữ viết, tự sửa
chữa cho nhau khi cần thiết. Những em viết yếu, ngoài sự kèm cặp của cô giáo
còn được sự giúp đỡ của các bạn trong nhóm, trong lớp.
Tốc độ viết cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng chữ viết. Thời gian đầu
tôi cho các em viết chậm. Khi viết đẹp tôi mới cho tăng dẫn tốc độ viết, tạo cho
các em thói quen khi viết song mỗi chữ, mỗi từ, phải nhẩm lại kiểm tra độ chính
xác.
Một phương pháp không thể thiếu khi rèn chữ viết là phương pháp luyện
tập, mỗi học sinh ngoài vở tập viết bắt buộc ra tôi còn cho các em chuẩn bị 2
loại vở nữa là vở ô li (loại giấy đẹp) và vở thực hành luyện viết để hướng dẫn
tập viết ở nhà và luyện tập vào giờ học tăng buổi (buổi chiều).
Mỗi loại vở tôi đều thường xuyên chấm nhận xét , nêu ưu khuyết điểm
cho từng em.
2.3.9. Tổ chức các trò chơi và phong trào thi đua “Giữ vở sạch - Viết
chữ đẹp”.
14
Để việc dạy - học phân môn Tập viết thành công phải có sự hướng dẫn tỉ
mỉ, từng li, từng tí của giáo viên. Mặt khác, giáo viên còn phải hiểu tâm lý lứa
tuổi học sinh. Không nên cho các em ngồi viết liền trong một thời gian dài dễ
gây mỏi tay và chán. Cần thường xuyên tổ chức các trò chơi thi viết chữ đẹp
trong mỗi tiết học. Tổ chức thi “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” trong từng tháng.
Động viên khen ngợi kịp thời những tổ hay cá nhân thực hiện tốt, đặc biệt những
tổ hay cá nhân có tiến bộ tạo cho học sinh sự hứng khởi hăng hái thi đua rèn
luyện.
Trong các tiết sinh hoạt lớp cuối tuần tôi thường dành khoảng 10 phút để
tổng kết đánh giá việc rèn chữ viết đẹp, giữ vở sạch của học sinh và tuyên dương
65,9
78
13
9
31,7
22
1
0
2,4
0
Nếu so sánh qua quá trình rèn luyện chữ viết trong thời gian ngắn và kết
quả khảo sát ban đầu, tôi thấy số lượng học sinh chữ viết đạt loại A nâng lên cao,
đặc biệt số học sinh chữ viết loại C không còn nữa. Lần đầu, khi chưa áp dụng
biệp pháp nâng cao chất lượng chữ viết, trong quá trình viết các em hay mắc lỗi
sai về tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở. Một số em chữ viết còn tẩy xoá
nhiều, vở còn bị quăn góc, các chữ còn sai nhiều về độ cao, độ rộng, khoảng
cách, các nét nối, điểm đặt bút, điểm dừng bút chưa đúng nên chất lượng chữ
viết cũng như chất lượng vở sạch còn thấp.
Lần thứ hai, sau khi áp dụng biện pháp nâng cao chất lượng chữ viết mà
tôi đưa ra vào dạy Tập viết ở lớp 1A do tôi chủ nhiệm, tôi thấy kết quả có nhiều
chuyển biến. Các bài viết đạt loại A là 32 em = 78 %; số bài viết loại C không
còn nữa. Đa số các em ngồi viết đúng tư thế, cầm bút đúng cách và viết đúng kĩ
thuật. Viết cẩn thận, nắn nót đã thành thói quen của học sinh. Một số em khi mới
vào học đến giờ Tập viết rất ngại nhưng từ khi các em nắm được kĩ thuật viết
hết lòng vì học sinh. Mỗi giáo viên phải nắm chắc kiến thức, quy trình kỹ thuật
viết chữ để dạy tốt từng tiết Tập viết cho học sinh. Phải đưa ra phương pháp dạy
học cụ thể để phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp mình tuân theo
nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.Phải phân loại chữ viết học
sinh thành từng nhóm chính để có kế hoạch rèn chữ cho từng đối tượng học
sinh.Giáo viên thường xuyên nhận xét, tuyên dương, khích lệ sự tiến bộ về chữ
viết của học sinh trong từng bài viết để học sinh phấn khởi tích cực rèn luyện.
- Trong dạy học Tập viết cần phải thường xuyên tổ chức các trò chơi thi
viết nhanh, viết đẹp tạo sự hứng thú rèn luyện cho học sinh.
- Cần tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh viết chưa đẹp, chưa đúng. Từ
đó tìm ra biện pháp giúp đỡ học sinh khắc phục yếu điểm. Sự phối hợp giữa cha
mẹ học sinh với các thầy cô giáo sẽ tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất về
mọi mặt, giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh.
3.2. Kiến nghị :
* Đối với giáo viên:
- Cần thấy được vị trí, tầm quan trọng của phân môn Tập viết ở các lớp.
- Người giáo viên phải có một năng lực sư phạm tốt. Phải có một đức tính
kiên trì, nhẫn nại, tỉ mỉ và cẩn thận không nóng vội trong công việc. Phải có
lòng nhiệt tình, say mê, hứng thú trong công việc, hết lòng yêu thương học sinh
coi học sinh như con em của mình.
- Thường xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu tài
liệu, luyện viết chữ đúng mẫu theo chuẩn để nâng cao chất lượng chữ viết cho
bản thân.
16
- Nắm được hoàn cảnh, tâm lí, lực học của từng học sinh và chuẩn bị tốt
đồ dùng cho tiết dạy.
- Mỗi giáo viên phải là tấm gương sáng cho các em noi theo, từ tư thế
ngồi viết, cách cầm bút đến chữ viết bảng, cách trình bày bảng, cách chấm bài,
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác .
Nguyễn Thị Phương
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa , sách giáo viên môn Tiếng Việt lớp 1
2. Vở tập viết , thực hành luyện viết đúng, viết đẹp lớp 1
3. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học
4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
5 Thông tư 30, thông tư 22 của Bộ giáo dục và Đào tạo
6. Quyết định số 31/2002/QĐ-BGD
7. Tham khảo một số tài liệu trên mạng internet
18