Một số giải pháp phát huy tính tích cực rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1a thông qua môn tiếng việt trường TH quang chiểu 2 - Pdf 57

THANH HÓA, NĂM 2019
Mục Lục
Nội dung
1. Mở đầu

Trang
2

1.1. Lý do chọn đề tài

3

1.2. Mục đích nghiên cứu

3

1.3. Đối tượng nghiên cứu

3

1.4. Phương pháp nghiên cứu

3

2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2. 1. Cơ sở lý luận
2. 2. Thực trạng của vấn đề

4
4
5

dục và Đào tạo”...
Để đáp ứng được yêu cầu thì dạy học phải đổi mới toàn diện trong đó
không thiếu phần quan trọng đó là phát huy tính tích cùc tự giác của học sinh
trong học tập, đặc biệt là học sinh vùng Miền núi. Giáo dục ở Tiểu học là nền
tảng cho sự phát triển toàn diện về vốn từ tiếng việt, đồng thời có mục đích đánh
thức tiềm năng nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách …. Do vậy,
luôn luôn phải tìm ra các biện pháp giải pháp, hình thức tổ chức cho giáo viên
dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn và tự chiếm lĩnh có hiệu cao hơn.
Trong quá trình dạy học ở Tiểu học, đặc biệt là dạy học ở Vùng miền núi
nói chung và ở trường Tiểu học Quang Chiểu II, huyện Mường Lát nói riêng thì
vấn đề giúp cho học sinh dân tộc thiểu số nhận thức và phát triển về ngôn ngữ
tiếng việt (ngôn ngữ thứ hai) cũng như biết cách sử dụng từ ngữ một cách thành
thạo và để hình thành các kĩ năng sử dụng vốn từ tiếng việt để nói là một vấn đề
rất khó khăn.
Đối với các em học sinh dân tộc Hmông thì ngoài tiếng mẹ để ra thì đến
trường các em mới được tiếp cận với Tiếng việt từ mẫu giáo. Khi các em bước
vào lớp 1 thì các em vẫn đang học phát âm tiếng việt và đến lớp 2 các em mới
biết sử dụng tiếng việt một cách đơn giản nhất. Do vậy để dạy tốt môn Tiếng
Việt và giúp các em phát triển các kĩ năng : nghe - đọc - nói - viết, thì môn học
này gồm nhiều phân môn, trong đó phân môn Luyện từ và câu góp phần không
nhỏ để giúp các em phát triển toàn diện các kĩ năng trên. Thông qua phân môn
Luyện từ và câu giúp các em mở rộng và làm giàu vốn từ; các em có thể sử dụng
một cách linh hoạt như một công cụ và phương tiện giao tiếp; không những thế
mà còn giúp các em phát triển ngôn ngữ, phát triển lời nói, cao hơn nữa là phát
triển kỹ năng về ngôn ngữ và không chỉ có thế mà còn phát triển tư tưởng tình
cảm, thẩm mĩ … .
Trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thì kỹ năng nói có vị trí thứ hai
trong yêu cầu cơ bản cần đạt của học sinh. Kỹ năng nói góp một phần quan
trọng đáng kể giúp học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 1 nói riêng học tốt
các phân môn Kể chuyện, Luyện từ và câu... Kỹ năng nói tốt sẽ giúp chúng ta

khó khăn, đặc biệt là vùng có học sinh dân tộc thiểu số. Do vậy tôi luôn băn
khoăn, trăn trở với những tồn tại đã nêu. Chính vì vậy tôi đã chọn và nghiên cứu
về nội dung : “Một số giải pháp phát huy tính tích cực rèn kỹ năng nói cho
học sinh lớp 1 thông qua môn Tiếng Việt”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp cho học sinh có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp,
rèn cho học sinh nói đủ câu, lưu loát, suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt rõ ràng, trong
sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của mình.
- Giúp cho học sinh biết ứng xử các tình huống khi giao tiếp một cách
nhạy bén, lễ phép hơn.
- Đưa ra những biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1.
- Tạo cơ hội cho các em mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp, khám phá, diễn đạt
ý tưởng trước đám đông, thành công trong công việc. Đồng thời góp phần phát
triển nhân cách toàn diện cho học sinh, giúp các em có được kỹ năng sống tốt để
trở thành người có ích cho xã hội.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 1- Trường Tiểu học quang Chiểu II, xã Quang Chiểu, huyện
Mườn Lát, tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp trực quan, phương pháp quan sát.
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích.
- Phương pháp thực hành, luyện tập.
- Phương pháp kiểm nghiệm, đối chứng.
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
3


chủ định nhưng khi vào lớp 1 các em phải nói theo từng chủ đề.
- Các em rụt rè, sợ hãi khi đứng trước đám đông.
- Tư duy học sinh lớp 1 là tư duy trực quan, hình ảnh, tư duy cụ thể qua
tranh ảnh minh họa nhưng khả năng quan sát chi tiết kém.
- Bên cạnh đó người giáo viên chưa ý thức được vai trò của việc rèn luyện
kĩ năng nói, nên đã quá coi trọng hai kĩ năng đọc, viết mà bỏ qua kĩ năng nói,
dần dần trở thành thói quen “lướt qua” dạy kỹ năng này hoặc có dạy nhưng
không thường xuyên liên tục.
- Một số giáo viên chưa biết vận dụng tích hợp nội dung dạy - học kỹ
năng nói với các kỹ năng còn lại (nghe, viết, đọc ) vào các môn học khác.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
a. Thuận lợi :
Đa số học sinh vào lớp 1 các em đều có được vốn ngôn ngữ nhất định.
Nội dung dạy luyện nói lớp 1 đã bám sát trình độ chuẩn và quán triệt những định
hướng đổi mới mục tiêu dạy học ở Tiểu học. Nên việc dạy luyện nói cho học
sinh sẽ được thuận lợi hơn.
4


Trong môn Tiếng Việt 1, nội dung dạy luyện nói được cấu trúc chặt chẽ
hợp lí, sắp đặt xen kẽ vào cuối tiết học thứ hai môn Tiếng Việt. Chủ đề luyện nói
bao giờ cũng có tiếng chứa âm vần mới học. Nội dung các bài luyện nói đa dạng
phong phú về mọi lĩnh vực và tương đối gần gũi với học sinh và được tăng dần
ở mức độ theo các chủ đề giúp học sinh dễ tiếp thu bài. Sách giáo khoa trình bày
hình vẽ rõ ràng, gây hứng thú học tập cho học sinh.
b. Khó khăn:
Với lớp tôi chủ nhiệm có 21/23 học sinh là con em dân tộc thái còn nhiều
thiếu thốn. Phụ huynh sống bằng nghề nông, kinh tế còn khó khăn phải vất vả lo
cái ăn, cái mặc, nên việc tiếp xúc, dạy dỗ con cái còn hạn chế. Chưa dành nhiều
thời gian quan tâm đến việc học của con em mình, chưa cho con đi chơi, giải trí

hiểu được vấn đề mà giáo viên đặt ra. Khi nêu câu hỏi thì phải chọn học sinh có
trình độ phù hợp để trả lời, không chỉ tập trung vào những học sinh hoàn thành
tốt mà phải tạo điều kiện cho mọi đối tượng (Hoàn thành tốt, hoàn thành, chưa
hoàn thành) trả lời.
5


Ví dụ:
Khi dạy hoạt động nói theo chủ đề “bê, nghé, bé” ở bài 25: ng - ngh giáo
viên xây dựng hệ thống câu hỏi dành cho mọi đối tượng trong lớp như sau:
+ Tranh vẽ gì ? (Tranh vẽ bê, nghé, bé) Dành cho học sinh Hoàn thành và
chưa hoàn thành.
+ Bê và nghé ăn gì ? (bê và nghé ăn cỏ) Dành cho học sinh Hoàn thành và
chưa hoàn thành.
+ Bê là con của con gì ? (bê là con của con bò) Dành cho học sinh Hoàn
thành tốt.
+ Nghé là con của con gì ? (Nghé là con của con trâu) Dành cho học sinh
Hoàn thành tốt.
+ Ba nhân vật trong tranh có gì chung ? (ba nhân vật đều còn nhỏ).
- Nếu các em trả lời đúng nhưng chưa thành câu, giáo viên chú ý uốn nắn
sửa chữa ngay và cho học sinh nói lại để các em nhớ.
Ví dụ:
Khi giáo viên hỏi: + Bức tranh vẽ gì ?
Học sinh trả lời: + bê (nghé, bé).
Lúc này giáo viên yêu cầu học sinh nói lại cho thành câu như sau:
+Bức tranh vẽ bê (nghé và bê).
Cần lưu ý để tạo nên ấn tượng tốt cho các em khi giảng dạy nói chung và
khi đàm thoại nói riêng giáo viên phải thực sự gương mẫu trong việc nói năng,
nói đủ ý, diễn đạt gãy gọn và trong quá trình rèn luyện cho học sinh qua từng
câu, từng bài nên kiên trì, không nóng vội mà quát nạt, giận dỗi hay trách móc

đại diện lên trình bày. Nếu để cho các nhóm trưởng cử, thường thì các em cử các
bạn có năng lực luyện nói tốt. Tuy nhiên để tránh tình trạng chây lười, ỷ lại các
em học tốt, giáo viên có thể cho các em khác bất kì trong nhóm lên luyện nói,
đặc biệt là các em hay rụt rè, không dám nói trước đám đông.
*Bước 4:
Hướng dẫn học sinh nhận xét. Cho học sinh nhận xét cách luyện nói của
mình, không nhận xét chung chung, mà yêu cầu các em khác nhận xét cụ thể về
một nội dung luyện nói, tác phong luyện nói có tự nhiên, đã thành câu, hay rụt
rè, chưa thành câu... Với học sinh này giáo viên hướng dẫn các em khác nhận
xét về mức độ tiến bộ của bạn nhằm giúp các bạn đó tự tin và tiến bộ hơn.
*Bước 5:
Giáo viên nhận xét, tổng kết. Sau khi các em nhận xét về cách luyện nói
của bạn mình, của nhóm này với nhóm khác, Giáo viên đi đến tổng kết nhận xét
chung. Nhận xét một cách cụ thể cần khen ngợi, khuyến khích các em luyện nói
tốt. Đồng thời chỉ ra những chi tiết, những vấn đề mà các em chưa làm tốt,
khuyến khích các em bổ sung sửa chữa vào những bài luyện nói tiếp theo.
Ví dụ:
Khi dạy luyện nói về chủ đề: “ Mai sau khôn lớn ” trong bài 46 phần học
vần trong SGK Tiếng Việt 1, tập1, trang 94 tôi đã hướng dẫn học sinh luyện các
bước sau:
* Bước 1:

7


Cho học sinh đọc tên chủ đề luyện nói. Đưa tranh phần luyện nói (đã có
sẵn trong bộ đồ dung ) để kích thích sự hứng thú của học sinh. Học sinh quan sát
toàn bộ bức tranh.
*Bước 2:
Giáo viên chia nhóm đôi để học sinh thực hành nói trong nhóm trước khi

Giáo viên nhận xét, tổng kết, cụ thể những điều đã làm được để khuyến
khích khen ngợi các em. Chỉ ra chi tiết vấn đề chưa làm được, động viên các em
khắc phục trong bài luyện nói sau. Hoặc hướng dẫn học sinh tự luyện nói theo chủ
điểm “Nhà trường” trong bài đọc: “Trường em” sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 2.
Giáo viên chia lớp thành hai nhóm và yêu cầu học sinh quan sát tranh
trong sách giáo khoa, đọc câu mẫu, dựa vào câu mẫu nói câu mới theo yêu cầu.
Giáo viên cho một bên nhóm này nói câu có vần “ai”, nhóm bên kia nói câu có
vần “ay” hoặc ngược lại.
Ví dụ:
Khi đi học mình phải rửa tay chân... Khi học sinh tập nói câu, giáo viên
theo dõi chỉnh sữa câu nói của học sinh cho phù hợp nội dung, diễn đạt được ý
8


trọn vẹn. Cho học sinh hỏi đáp với nhau theo đề tài: Hỏi nhau về trường lớp.
(Các em hỏi đáp theo câu mẫu và câu các em tự nghĩ ra).

(Ảnh các em thực hành luyện nói theo nhóm đôi trước lớp)

2.3.2. Giải pháp 2: Dạy luyện nói trong kể truyện.
Giờ kể chuyện là giờ thực hành nói của học sinh. Sau khi nghe giáo viên
kể chuyện, học sinh nhớ được nội dung chính của câu chuyện, kể lại (hoặc nói)
được câu chuyện một cách tóm tắt (dựa theo tranh). Vì vậy để dạy học sinh
luyện nói tốt trong giờ kể chuyện, theo tôi có những yêu cầu và biện pháp sau:
a. Những yêu cầu đối với giáo viên.
Cần rèn giọng kể linh hoạt, phù hợp với nội dung, làm cho lời kể thật sự
hấp dẫn với học sinh. Muốn vậy, cần đọc kĩ văn bản cho thật hiểu và nhớ để xác
lập được giọng điệu kể chuyện.
b. Các bước tiến hành để dạy học sinh luyện nói trong giờ kể chuyện.
*Bước 1: Giới thiệu câu chuyện.

hiểm. Liệu Sóc có thể thoát khỏi tình thế nguy hiểm đó không? Các em hãy theo
dõi câu chuyện để tìm câu trả lời.
Bước 2: Giáo viên kể chuyện.
- Lần 1: Kể toàn bộ câu chuyện.
- Lần 2, 3: Kể tiếp nối từng đoạn (kết hợp tranh minh họa) Chú ý giọng
điệu kể:
+ Lời mở đầu truyện: kể thong thả, dừng lại ở các chi tiết Sói định ăn thịt
Sóc, Sóc van nài.
+ Lời Sóc khi còn trong tay Sói: Kể mềm mỏng, nhẹ nhàng.
+ Lời Sói thể hiện sự băn khoăn. Lời Sóc khi đứng trên cây giải thích: ôn
tồn nhưng rắn rỏi, mạnh mẽ.
* Bước 3: Học sinh kể từng đoạn theo tranh.
Giáo viên chia nhóm 2 học sinh giao nhiệm vụ. Tranh 1: Học sinh quan
sát tranh đọc các câu hỏi dưới tranh. Học sinh kể lại từng đoạn dựa theo tranh
trong nhóm. Đại diện vài nhóm thi kể, cử 2 học sinh làm giám khảo nhận xét.
cụ thể: Bạn đã nhớ nội dung đoạn chuyện chưa, kể còn thiếu hay thừa chi tiết
nào không? Có diễn cảm không? Sau đó giáo viên sửa chữa từ ngữ, câu, ý cho
học sinh diễn đạt được trôi chảy. Tương tự các tranh còn lại. Giáo viên hướng
dẫn bằng những câu hỏi gợi ý để giúp các em tự tin hơn khi kể chuyện, tạo điều
kiện cho các em được nói trước lớp.
*Bước 4:
Học sinh phân vai kể toàn bộ câu chuyện (học sinh Hoàn thành tốt)
Mỗi nhóm gồm 3 em đóng vai: Người dẫn chuyện, Sói và Sóc. Để việc
phân vai thật hứng thú, hấp dẫn với các em, nên cho các em trang phục mặt nạ
Sói và Sóc. Để học sinh nhớ chắc chắn, kể được toàn bộ câu chuyện, giáo viên
tăng dần yêu cầu với mỗi nhóm:
+ Nhóm 1: Giáo viên là người dẫn chuyện các nhân vật nhìn tranh minh
họa và câu hỏi gợi ý dưới tranh trong SGK để kể chuyện.
+ Nhóm 2: Người dẫn chuyện nhìn sách.
+ Các nhóm sau: Kể thoát li sách, thực sự nhập vai.

gì?
Gia đình Minh có những ai? Minh và những người trong gia đình đang làm gì?
Đại diện nhóm kể trước lớp. Gọi học sinh nhận xét cách kể của bạn đã
đầy đủ chưa, rõ lời, lưu loát chưa... Giáo viên tuyên dương cách nói hay, đầy đủ
và kết luận.

11


(Ảnh các em tự giới thiệu về những người trong gia đình mình)

Trong môn đạo đức giáo viên cũng thực hiện kết hợp tương tự để học sinh
luyện nói.
Ví dụ:
Khi dạy bài 13 “Chào hỏi và tạm biệt” vở bài tập Đạo đức trang 42. Hoạt
động đầu tiên ở bài tập 1 là quan sát tranh 1 và tranh 2 ở vở bài tập Giáo viên
gợi ý: Trong tranh con thấy vẽ những gì? (Trong tranh con thấy 1 cụ già và 2
bạn nhỏ). Các bạn trong tranh đang làm gì? (Bạn đang chào bà cụ: Chúng cháu
chào bà ạ)...Giáo viên cho học sinh thảo luận trong nhóm đôi hay nhóm ba (ở
hoạt động 2) theo các câu hỏi gợi ý để học sinh luyện nói với nhau trong nhóm
sau đó xung phong lên trình bày ý kiến trước lớp. Em cảm thấy thế nào khi:
+ Được người khác chào hỏi?
+ Em chào hỏi họ và được họ đáp lại?... Giáo viên cho học sinh đứng lên
nói trước lớp về cách ứng xử của mình. Học sinh khác nhận xét bạn từ, lời nói,
thái độ... và giáo viên sửa chữa, uốn nắn các em, giúp các em nhận ra cách thể
hiện, ứng xử hay nhất, lời nói hay nhất.
2.3.4. Giải pháp 4: Dạy luyện nói trong giao tiếp.
Hoạt động nói đã được hình thành trước khi vào lớp 1, nhưng để trở thành
kĩ năng thì phải được uốn nắn, rèn luyện cả quá trình giao tiếp với thầy cô, bạn
bè, người thân, ...

giáo viên là tấm gương thực tế nhất giúp cho học sinh luyện nói. Cho nên khi
giao tiếp, giáo viên cần chú mọi lúc, mọi nơi khi thể hiện lời nói của mình để
học sinh noi theo.
Ví dụ:
Khi kiểm tra bài của học sinh, giáo viên thường gọi: Em lên đọc bài...
(Giáo viên nên gọi: Thầy (Cô) mời em lên trước lớp đọc bài)...Trong lúc tiếp
chuyện với phụ huynh, giáo viên cũng cần chú ý từng lời nói, hành động, cử chỉ
để học sinh noi theo.
2.3.6. Giải pháp 6: Dạy luyện nói khi tổ chức các hoạt động ngoại
khoá.
Trong các buổi sinh hoạt sao hàng tuần, giáo viên chủ nhiệm cũng cần
hướng dẫn các em phụ trách sao soạn sẵn nội dung sinh hoạt, sao cho các câu
hỏi, câu trả lời đầy đủ về ý, rõ lời, diễn đạt được nội dung cần giao tiếp được lưu
loát, bóng bẩy hơn để các em học hỏi.
Ví dụ:
Khi các em gặp anh (chị) phụ trách sao ở mỗi lần sinh hoạt:
- Anh (Chị) chào các em!
- Chúng em chào anh (chị) ạ!
- Anh (chị) sẽ hướng dẫn cho các em chơi các trò chơi mới, các em có
thích không nào?
- Thưa anh (chị) thích ạ!...Hay lúc sinh hoạt đầu tuần, cuối tuần ngoài việc
trao đổi với nhau vấn đề học tập, giáo viên cũng nên dành ít thời gian nói
chuyện với các em. Chính lúc này các em mới cởi mở, thể hiện tâm tư, tình cảm,
lời nói của mình. Chắc chắn sẽ có em thể hiện câu nói đúng, trôi chảy, lưu loát,
đủ câu... nhưng cũng có em chưa nói lưu loát, vụng về trong câu nói của mình.
Từ đó giáo viên chỉnh sửa câu nói của các em cho phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp. Hoạt động ngoại khoá là một trong những hoạt động các em rất yêu thích
nên các em nhanh nhớ và nhớ rất lâu. Giáo viên có thể lồng ghép, hướng dẫn
theo dõi, uốn nắn các em nói thuận lợi, mang lại hiệu quả cao.
Ví dụ:

14


tích cực hơn, đã biết cách ứng xử các tình huống giao tiếp. Nó còn phù hợp với
việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay.
Giúp cho học sinh phát triển về phẩm chất, năng lực và rèn luyện kĩ năng
nói cho học sinh lớp 1. Tạo cho các em tính tích cực, tự giác, mạnh dạn, tự tin
khi nói. Đồng thời góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Đó là
điều làm cho tôi cảm thấy rất vui vì đã phát huy được theo hướng tích cực, tự
giác cho học sinh.
Sau đây là bảng so sánh chất lượng nói của học sinh khi áp dụng sáng kiến:
Kết quả cụ thể:
Lớp 1B: (Lớp đối chứng)
Năm học
2018-2019
Học kì I
Cuối năm

Số học sinh
TS
Số học sinh
nói mạch lạc,
Học
nói đủ ý
diễn đạt tốt
sinh
SL
%
SL
%

2018-2019
Học kì I
Cuối năm

Số học sinh
TS
Số học sinh
nói mạch lạc,
Học
nói đủ ý
diễn đạt tốt
sinh
SL
%
SL
%
23
4
17,4
6
26,1
23
12
52,2
8
34,8

Số học sinh Số học sinh
nói chưa đủ nhút nhát, ít
ý

sức năng động và sáng tạo, phải biết lựa chọn và kết hợp nhiều phương pháp dạy
học tích cực để giúp học sinh vừa có kiến thức vừa có kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng sống tốt đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Với những giải pháp trên,
15


tôi đã vận dụng ngay vào quá trình hình thành và rèn luyện kĩ năng nói cho học
sinh lớp 1, các em rất hứng thú khi học môn Tiếng Việt, các em đã biết nói thành
câu tự nhiên phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Những em nhút nhát, rụt rè, thụ
động đã trở nên mạnh dạn, tự tin hơn trước đám đông, biết ứng xử các tình
huống giao tiếp một cách nhạy bén, sử dụng ngôn ngữ có biểu cảm, có văn hoá
hơn. Giáo viên có hứng thú, tích cực tìm tòi tranh ảnh, vật thật để áp dụng cho
phần luyện nói có hiệu quả hơn. Sự phối hợp giữa các gia đình, hội phụ huynh,
ban đại diện cha mẹ học sinh, cũng có chiều hướng tiến bộ. Chính vì vậy hiệu
quả dạy học luyện nói đã được nâng cao rõ rệt.
Tóm lại: Rèn kĩ năng nói cho học sinh là một quá trình lâu dài người giáo
viên tuyệt đối không nóng vội khi rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh. Giáo viên
cần lưu ý không thể có kết quả nói tốt trong một sớm, một chiều mà cần có thời
gian để giúp các em sửa chữa tiến bộ trong quá trình giao tiếp được tốt hơn.
3.2. Kiến nghị
*Đối với giáo viên:
+ Thường xuyên nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là tìm ra các
giải pháp, các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh.
+ Tìm hiểu tâm lý lưa tuổi của học sinh lớp 1, đặc biệt là học sinh dân tộc
thiểu số.
+ Thường xuyên bổ sung trang thiết bị và đồ dùng dạy học cho lớp.
+ Phát huy lớp học thân thiện để gây hứng thú cho học sinh học tập.
Thanh Hóa, ngày 16 tháng 4 năm
XÁC NHẬN
2019


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status