Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử 6 ở trường THCS xuân thắng, huyện thường xuân - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 6 Ở TRƯỜNG
THCS XUÂN THẮNG, HUYỆN THƯỜNG XUÂN

Người thực hiện: Lê Thị Thu Hương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Thắng,
Huyện Thường Xuân, Tỉnh Thanh Hóa
SKKN thuộc môn: Lịch sử

THANH HÓA, NĂM 2018


MỤC LỤC
Mục lục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài

Trang
01
01

1.2. Mục đích nghiên cứu

02


3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo

16
16
18


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
THCS: Trung học cơ sở
H: Hình
Tr: Trang
SGK: Sách giáo khoa
LS 6: Lịch sử 6
HS: Học sinh
GV: Giáo viên


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Lịch sử là một khoa học chuyên nghiên cứu và dựng lại toàn bộ những
hoạt động của con người và xã hội loài người trong quá khứ. Học lịch sử là để
hiểu được cội nguồn của tổ tiên, cha ông, làng xóm, cội nguồn của dân tộc mình,
để chúng ta biết được tổ tiên, cha ông đã sống, lao động như thế nào để tạo dựng
nên đất nước như ngày hôm nay. Qua việc học lịch sử, giúp các em hiểu được
giá trị của cuộc sống và bồi dưỡng cho các em lòng tự hào dân tộc, sự biết ơn
những người có công với đất nước, từ đó các em ý thức được trách nhiệm của
mình đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.

biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử
6 ở Trường THCS Xuân Thắng". Giúp các em vừa nắm kiến thức một cách
nhanh chóng, vừa hình thành các kỹ năng khi học lịch sử, từ đó các em yêu thích


và có hứng thú với lịch sử và không quay lưng lại với lịch sử. Xem lịch sử như
một nhu cầu thiết thực của cuộc sống, nó cũng quan trọng không kém bộ môn
Toán hay môn Văn. Đồng thời góp phần thực hiện nội dung đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực trong bộ môn lịch sử trong trường THCS.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Làm cho tiết học bớt khô khan, không nặng nề mà trở nên nhẹ nhàng, sinh
động. Làm cho học sinh thêm yêu thích, có hứng thú khi học lịch sử.
Nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường THCS Xuân Thắng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh lớp 6 trong
dạy học Lịch sử ở Trường THCS Xuân Thắng.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tìm hiểu, phân tích,
tổng hợp các loại tài liệu, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của
ngành Giáo dục. Các chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên
THCS. Tìm hiểu thực trạng về vấn đề dạy và học Lịch sử hiện nay ở các trường
phổ thông. Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm
trung tâm và những biện pháp tích cự giúp học sinh hứng thú, yêu thích tiết học
lịch sử trên lớp.
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Tôi tiến hành
khảo sát đối tượng học sinh lớp 6A và lớp 6B trường THCS Xuân Thắng. Quan
sát thái độ học tập của học sinh, thực trạng học sinh ngại học môn Lịch sử,
không hứng thú với bộ môn này. Lấy phiếu thăm dò về sự yêu thích và hứng thú
của các em đối với các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng. Từ đó tôi
áp dụng những một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khi

pháp hiện đại (thảo luận nhóm, đóng vai...) và các phương pháp truyền thống
(trực quan, kể chuyện...). Để việc dạy học có hiệu quả, người giáo viên phải biết
lựa chọn các phương pháp phù hợp với bài học, với đối tượng học sinh nhằm tạo
cho học sinh hứng thú học tập. Để giúp các em học tốt, tiếp thu nhanh và nhớ
lâu thì giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng
học sinh nhằm phát huy tính tích cực, tạo hứng thú học tập của các em, để các
em tiếp thu kiến thức mà không bị gò ép. Vì vậy việc khơi dậy sự hứng thú học
tập, phát triển ý thức, ý chí, năng lực bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tự học
là con đường phát triển tối ưu của giáo dục.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Ngày nay giới trẻ ngày càng không mấy hứng thú với lịch sử, nhất là học
sinh phổ thông, các em đều cho rằng lịch sử là môn phụ, không quan trọng như
các môn Toán, Lý, Hóa, Văn... nên có thái độ xem nhẹ, thờ ơ trong việc học.
Phụ huynh thường hướng con em mình học những môn như Toán, Lý, Hóa,
Sinh, Văn, Ngoại ngữ để sau này thi vào Đại học và ra trường dễ tìm việc làm.
Thời gian gần đây, tình trạng học sinh “quay lưng” với môn Lịch sử ngày càng
gia tăng. Thực tế là điểm thi tốt nghiệp phổ thông và thi đại học môn Lịch sử rất
thấp, rất ít học sinh phổ thông đăng ký thi tốt nghiệp môn Lịch sử. Ðiều này đã
làm dư luận ngày càng quan tâm việc dạy và học môn Lịch sử ở các trường phổ
thông. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: sách giáo khoa còn
nặng nề về kiến thức, phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa thực sự thu hút
học sinh... Vấn đề cốt yếu là bây giờ chúng ta phải có những giải pháp hữu hiệu
trong việc đổi mới môn Lịch sử, làm sao để môn học này thực sự thu hút học
sinh. Làm thế nào để môn học không trở nên nặng nề, khô khan, nhàm chán, từ
đó giúp học sinh yêu thích, say mê học tập, nâng cao dần chất lượng bộ môn.
Giáo viên, đa số giáo viên ở các trường THCS đang trực tiếp đứng lớp
giảng dạy bộ môn lịch sử đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong quá
trình giảng dạy nhiều giáo viên đã sử dụng triệt để các thiết bị và đồ dùng dạy
học như : Tranh ảnh, sơ đồ, lược đồ, phim, video, máy chiếu … vào bài giảng,
giúp học sinh khắc sâu được kiến thức, tạo hứng thú cho học sinh khi học lịch

dẫn đến tình trạng các em không nắm được kiến thức lịch sử, khi giáo viên kiểm
tra bài cũ thì đa số các em không nhớ, hay quên mất một số từ đầu câu thì sẽ
quên hết nội dung kiến thức đã học. Vậy làm thế nào các em học sinh không thụ
động, có hứng thú say mê học tập, nắm được kiến thức lịch sử. Qua quá trình
giảng dạy ở trường, tôi đã rút ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực
cho học sinh nhằm đổi mới phương pháp dạy học trong môn Lịch sử.
Qua hơn 09 năm giảng dạy môn Lịch sử ở trường THCS Xuân Thắng tôi
nhận thấy với mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học đang được tiến hành đồng
bộ đã góp phần làm thay đổi cách dạy của giáo viên, cách học học sinh có phần
khởi sắc. Bản thân không ngừng tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách truyền đạt mới
với phương châm lấy học sinh làm trung tâm và giáo viên là người hướng dẫn
cho học sinh giải quyết vấn đề.
Từ những thực trạng trên. Nhằm tạo niềm say mê, hứng thú học tập, đặc
biệt phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc học tập
Lịch sử. Tôi đã rút ra và áp dụng “Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học Lịch sử 6 ở Trường THCS Xuân Thắng"
nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn Lịch sử của học sinh.
Chất lượng học sinh đầu học năm học 2016 - 2017 như sau:


Lớp
6A
6B

Giỏi
Sĩ số
học sinh SL %

Khá
SL

tiếp liên quan. Khi vào bài, giáo viên cần phải giới thiệu, dẫn dắt học sinh vào
bài mới để gây sự chú ý cho các em đồng thời tạo tình huống để học sinh suy
nghĩ, theo dõi nội dung bài học. Có thể tạo tình huống bằng các câu hỏi, bằng
câu chuyện vui vv... Biện pháp này áp dụng cho tất cả các bài học trong chương
trình lịch sử.
Cụ thể ở bài 3: Xã hội nguyên thủy (SGK-LS 6; Tr.8). Khi giới thiệu bài
mới GV có thể nêu vấn đề để thu hút học sinh như sau: Các em có thấy tò mò
muốn biết con người có nguồn gốc từ đâu và xuất hiện từ bao giờ không? Chắc
hẳn tất cả HS sẽ đồng loạt nói là "có ạ". Vậy hôm nay cô trò chúng ta sẽ cùng
tìm hiểu nội dung bài học mới để tìm hiểu xem con người chúng ta có nguồn gốc
từ đâu, và từ khi nào? Đời sống của họ trong buổi đầu sơ khai đó như thế nào?
Với cách đặt vấn đề này, sẽ tạo hứng thú ngay từ đầu tiết học, các em sẽ rất tò
mò tìm hiểu, trong quá trình tìm hiểu các em sẽ rất tích cực suy nghĩ để tìm câu
trả lời khi giáo viên đưa ra.
Ở bài 6: Văn hóa cổ đại (SGK-LS 6; Tr.16). Sau khi kiểm tra bài cũ. Giáo
viên đặt vấn đề để thu hút HS: Các em có tò mò muốn biết chữ mà các em đang
viết (a,b,c...) và chữ số 0, 1, 2, 3... được ra đời từ khi nào? Quốc gia (dân tộc)
nào trên thế giới đã sáng tạo ra chữ viết và chữ số đó không? Hôm nay cô trò
chúng mình cùng đi tìm đáp án qua nội dung bài học hôm nay nhé.
Ở bài 8: Thời nguyên thủy trên đất nước ta (SGK-LS 6; Tr.22). GV có thể
lấy ngay câu thơ của Hồ Chí Minh ở cuối bài để làm câu đặt vấn đề
" Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam "
Các em có biết "gốc tích", nguồn gốc của nước Việt Nam ta được bắt
nguồn từ khi nào? Dựa vào đâu để ta biết được gốc tích đó?...
Tương tự ở bài 12: Nước Văn Lang (SGK-LS 6 Tr. 35). GV cũng lấy câu
danh ngôn cuối bài của Hồ Chí Minh để đặt vấn đề vào bài mới
" Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta hãy cùng nhau giữ lấy nước "
Các em đã được nghe kể hoặc đọc nhiều câu truyện truyền thuyết về các

sử 6. Một số bài ví dụ cụ thể như sau:
Bài 3: Xã hội nguyên thủy GV: Giới thiệu H5 - Người tối cổ và người tinh
khôn (SGK - LS6; Tr9), GV yêu cầu HS quan sát, kết hợp với kênh chữ, cho biết
sự khác nhau giữa Người tối cổ và Người tinh khôn ở điểm nào? GV chia lớp
thành các nhóm, hai bàn một nhóm để thảo luận rồi trình bày kết quả của nhóm
mình và ghi kết quả vào phiếu học tập sau:
Đặc điểm
Người tối cổ
Người tinh khôn
Dáng đi
Khuôn mặt
Cơ thể
Bàn tay
Thể tích sọ não
GV yêu cầu các nhóm trình bày kết quả. GV nhận xét và trình chiếu kết
quả để cho HS so sánh.

Giáo viên giúp học sinh phân biệt sự khác biệt, đó là những yếu tố cơ bản
giúp Người tối cổ chuyển biến thành Người tinh khôn.
Bài 6: Văn hóa cổ đại.


Sau khi kiểm tra bài cũ. Giáo viên đặt vấn đề để thu hút HS: Các em có tò
mò muốn biết chữ mà các em đang viết (a,b,c...) và chữ số 0, 1, 2, 3... được ra
đời từ khi nào? Quốc gia (dân tộc) nào trên thế giới đã sáng tạo ra chữ viết và
chữ số đó không? Hôm nay cô trò chúng mình cùng đi tìm đáp án qua nội dung
bài học hôm nay nhé.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
HOẠT ĐỘNG 1 : Nhóm 1

Chữ viết nghĩ của con người); viết
HS: Quan sát hình 11- SGK. Trả lời
trên giấy Pa-pi-rút, trên mai
theo SGK.
rùa, thẻ tre và các tấm đất
GV: Bổ sung. Chữ tượng hình Ai Cập
sét...
ra đời 3500 TCN .
- Phát minh ra phép đếm
? Chữ viết của người phương Đông
Khoa
đến 10, các chữ số từ 1 đến
được viết trên chất liệu gì?
học
9 và số 0, tính được số Pi
HS: Trả lời theo SGK.
bằng 3,16.
GV: Hướng dẫn HS quan sát H.12,13 Công
- Kim Tự Tháp (Ai Cập)
SGK. Giới thiệu đó là những kỳ quan trình
- Thành Babilon (Lưỡng
của Thế giới.
kiến trúc Hà)
2. Người Hy Lạp và Rô-ma có những
HOẠT ĐỘNG 2: Cả lớp/nhóm.
đóng góp gì về văn hóa ?
GV: Tổ chức hướng dẫn cho HS thảo
luận. Sử dụng bảng phụ (bảng 2- Mẫu
Bảng 2
bảng thống kê những thành tựu tiêu

cần quí trọng, gìn giữ và phát huy
những giá trị tinh hoa văn hóa đó…

c...gồm 26 chữ, gọi là hệ chữ
cái La-tinh, đang được dùng
phổ biến hiện nay.
Khoa học phát triển cao, đặt
nền móng cho các ngành
khoa học sau này. Một số nhà
Các
khoa học nổi tiếng như: Tangành
lét, Pi-ta-go, Ơ-cơ-lít (Toán
khoa học học); Ác-si-mét (Vật lí); Platôn, A-ri-xtốt (Triết học); Hêrô-đốt, Tu-xi-đít (Sử học);
Stơ-ra-bôn (Địa lí)...
- Đền Pác-tê-nông ở A-ten.
Công
- Đấu trường Cô-li-đê ở Rôtrình kiến
ma.
trúc, điêu
-Tượng Lực sĩ ném đĩa, thần
khắc.
Vệ nữ ở Mi-lô...
=> Thời cổ đại loài người đã đạt những
thành tựu văn hóa đa dạng, phong phú.
2.3.3. Biện pháp dạy học theo chủ đề tích hợp.
Môn Lịch sử 6 có liên quan kiến thức với các môn học như: Ngữ Văn, Địa
lý, Giáo dục công dân. Biện pháp này áp dụng cho nhiều bài học trong chương
trình lịch sử lớp 6.
Tích hợp môn Địa lí, học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng môn địa lý để
xác định được vị trí địa lý các địa danh trên lược đồ.

HS: Quan sát hình ảnh và trả lời
? Theo em truyện Sơn Tinh Thủy Tinh nói lên
hoạt động gì của nhân dân ta thời đó ?
HS: Nhớ lại nội dung câu truyện đã được học
trong môn Ngữ văn để trả lời.
? Theo em, để chống lại sự khắc nghiệt của thiên
nhiên, người Việt xưa và nay đã có những biện
pháp gì để đối phó ?
HS: Suy nghĩ và trả lời.
GV: Nhận xét, bổ sung. Chốt ý. Người Việt cổ
đã tập hợp nhau lại đắp đập ngăn nước lũ. Ngày
nay để ứng phó với thiên tai, chúng ta có nhiều
biện pháp để bảo vệ mùa màng như thường
xuyên tu sửa cũng cố đê điều. Nghiêm cấm chặt
phá rừng, tích cực trồng rừng...vv
GV: Hướng dẫn HS quan sát hình 31, 32 SGK
? Em có suy nghĩ gì về sự xuất hiện của vũ khí
trong các hình 31, 32 ? (Vũ khí đó dùng để làm
gì?)
HS: Suy nghĩ và trả lời.
GV: Dao găm, giáo đồng ngoài việc dùng để săn
bắt, họ còn dùng làm vũ khí khi có xung đột.
Yêu cầu HS tích hợp kiến thức môn Ngữ Văn 6
Bài 2: Thánh Gióng.
? Em hãy cho biết Thánh Gióng đã sử dụng
những loại vũ khí gì khi ra trận ?
HS: Liên hệ truyện Thánh Gióng trong Ngữ văn
6
GV: Thánh Gióng dùng vũ khí bằng sắt, roi sắt,
ngựa sắt và cả cây tre. => Việc dùng vũ khí

phải chấm dứt các xung đột
đó.

2. Nước Văn Lang thành
lập


định vị trí khu vực sông Cả (Nghệ An), sông Mã
(Thanh Hoá) và vùng đất ven Sông Hồng (từ
Phú Thọ đến Hà Nội)
? Em hãy cho biết Bộ lạc Văn Lang cư trú ở
đâu? Xá định vị trí đó trên lược đồ.
HS: Dựa vào tài liệu trả lời và lên bảng xác
định vị trí khu vực cư trú của bộ lạc Văn Lang ở
khu vực Ven Sông Hồng từ Ba Vì (Hà Nội) đến
Việt Trì (Phú Thọ) ngày nay.
? Dựa vào thế mạnh của mình, Thủ lĩnh Văn
Lang đã làm gì.
HS: Dựa vào SGK trả lời.
? Nhà nước Văn Lang ra đời vào thời gian nào?
Ai đứng đầu ? Đóng đô ở đâu?
HS: Dựa vào SGK trả lời.
GV: Chốt ý: Nhà nước Văn Lang hình thành từ 1
bộ lạc có tên là Văn Lang, Người đứng đầu bộ
lạc là một người tài giỏi, có uy tín đã hợp nhất
các bộ lạc khác và thành lập ra nước Văn Lang
vào thế kỷ VII TCN. Đứng đầu là vua Hùng, cho
đóng ở Bạch Hạc
GV: Yêu cầu HS liên hệ với truyền thuyết ”Con
Rồng cháu Tiên” (Ngữ văn 6 tập 1)

TCN ở vùng Gia Ninh (Phú
Thọ), thủ lĩnh của bộ lạc
Văn Lang đã dùng tài trí
khuất phục được các bộ lạc
khác và tự xưng là Hùng
Vương, đóng đô ở Bạch
Hạc (thuộc Phú Thọ ngày
nay), đặt tên nước là Văn
Lang.

3. Nhà nước Văn Lang
được tổ chức như thế
nào ?
- Chính quyền Trung ương
gồm (Vua, lạc hầu, lạc
tướng). Vua đứng đầu nắm
mọi quyền hành trong
nước, đời đời cha truyền
con nối và đều gọi là Hùng
Vương.
- Cả nước chia thành 15 Bộ
(đứng đầu là các Lạc


– Bài Lòng biết ơn.
? Vì sao nhân dân ta lại xây lăng Vua Hùng (Phú
Thọ).
? Để tưởng nhớ công ơn của các Vua Hùng, là
học sinh em phải làm gì ?
HS: Suy nghĩ trả lời.

truyện Trầu cau, Tấm cám, Bánh trưng, bánh giầy.
? Các truyện “Trầu cau và bánh trưng, bánh giầy” cho ta biết nhân dân thời Văn
Lang đã có những tập tục gì ? Ngày nay những phong tục đó ở địa phương có
còn tồn tại không ?
HS: Nhớ lại nội dung các câu truyện để trả lời.
( tục hôn nhân, ăn trầu, nhuộm răng, gói bánh…cúng tổ tiên ngày tết.)
? Là một người con đất Việt, em sẽ làm gì để góp phần giữ gìn, bảo vệ các di
tích lịch sử, những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt ta?
GV yêu cầu HS Tích hợp kiến thức môn Giáo dục công dân 6 – Bài 6: Biết
ơn.
HS: Tích hợp môn GDCD trả lời.
..................
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tích hợp đối với nhiều bài học khác ở
chương trình lịch sử lớp 6, cũng như chương trình lịch sử các lớp 7, 8, 9.
2.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Theo số liệu khoa học mà tổ chức UNESCO đã công bố: Học sinh chỉ nhớ
15% thông tin khi nghe, 25% thông tin khi nhìn nhưng nếu được kết hợp giữa nghe
và nhìn thì thông tin thu nhận được đạt tới 65%. Như vậy khi ứng dụng công nghệ


thông tin với kênh hình, kênh chữ và các ứng dụng khác sẽ giúp học sinh học tập
chú ý hơn, tạo được cảm xúc, tìm tòi, nhận thức và khái quát hóa sự kiện, hiện
tượng.
Qua thực tế và kinh nghiệm giảng dạy của tôi, có thể khẳng định rằng:
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hỗ trợ dạy học là phương pháp đem lại
hiệu quả cao. Ứng dụng công nghệ thông tin vào hình thành kiến thức cho học
sinh trong dạy học lịch sử sẽ làm cho giờ học trở nên sinh động không bị khô
khan, tẻ nhạt, lôi cuốn được học sinh tham gia học tập tích cực, chủ động, tạo
cho các em động cơ và không khí học tập thoải mái. Đây là nền tảng cho việc
tiếp thu kiến thức khoa học lịch sử một cách hiệu quả, qua đó giáo dục và phát

thiện. Hơn nữa, sự hiểu biết của các em về lịch sử, về các lĩnh vực khác sẽ đầy
đủ hơn và sự phát triển nhân cách của các em vì thế cũng đầy đủ hơn.


Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng đã được tôi thực hiện
thường xuyên. Để có một tiết học ứng dụng công nghệ thông tin tôi đã tiến hành
soạn bài giảng sử dụng phần mềm Microsoft Office PowerPonint. Cùng với
những trang thiết bị hiện có của nhà trường đủ để đáp ứng nhu cầu áp dụng công
nghệ thông tin vào giảng dạy. Hiện nay nhà trường có 02 phòng học có ti vi
được kết nối Internet và một máy chiếu đa năng. Đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi và các đồng nghiệp thực hiện tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
giảng dạy.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Trên đây là một số biện pháp đã được tôi áp dụng cụ thể trong các tiết
dạy lịch sử trên lớp và đã phát huy tính tích cực chủ động trong học tập cảu học
sinh khối 6. Và nhận thấy kết quả học tập cũng như thái độ của học sinh thay đổi
rõ rệt theo chiều hướng tích cực.
Trước hết đối với bản thân tôi, các biện pháp này phù hợp với mục tiêu
và yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng. Phù hợp với đối tượng học sinh miền
núi, đồng thời thực việc hiện đổi mới phương pháp dạy học theo tính tích cực,
lấy học sinh làm trung tâm. Học sinh có hứng thú học, tích cực học, giáo viên
mới có động lực để giảng dạy tốt và hiệu quả, thêm yêu bộ môn mình đang dạy.
Đối với học sinh, đã tạo được hứng thú học tập cho các em, các em chủ
động, tích cực, chủ động tìm hiểu bài, quan sát, lắng nghe, về nhà biết học bài
cũ, chuẩn bị nội dung bài mới.
Qua khảo nghiệm thực tế tôi thấy có thêm nhiều học sinh lớp 6 có hứng
thú học tập khi có tiết Lịch sử, các em yêu thích môn Lịch sử hơn, từ đó kết quả
học tập cũng được nâng cao. Chất lượng bộ môn Lịch sử cuối năm học 2016 2017 so với kết quả khảo sát đầu năm đã tăng lên, cụ thể kết quả như sau:
Giỏi
Khá

13
18

38,2
52,9

02
02

5,9
5,9

0
0

0
0

3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận.
Để tạo hứng thú cho học sinh trong học tập lịch sử, nhằm giúp các em có
hiểu biết nhiều hơn về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, đòi hỏi giáo viên
phải nhiệt tình, sáng tạo, có phương pháp dạy học phù hợp với từng bài, từng đối
tượng học sinh. Việc sử dụng các phương pháp dạy học trên, có tác động rất lớn
đến lứa tuổi học sinh phổ thông, các em thấy yêu thích môn Lịch sử hơn, nên
chất lượng bộ môn cũng được cải thiện. Tuy nhiên, mỗi phương pháp có những
mặt ưu điểm và hạn chế nhất định. Điều quan trọng là người giáo viên phải biết
sử dụng các phương pháp dạy học một cách hợp lí, chủ động, sáng tạo thì mới
đem lại hiệu quả cao.


Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

Lê Thị Thu Hương


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa lịch sử 6 – Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên) Trương Hữu
Quýnh (Chủ biên) Đinh Ngọc Bảo – Nguyễn Sĩ Quế. Nhà xuất bản giáo dục
năm 2017
2. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử THCS – Nhà
xuất bản giáo dục năm 2009
3. Tập bản đồ - tranh ảnh bài tập lịch sử 6. Lê Thị Côi (Chủ biên) - Phạm
Thị Kim Anh – Đinh Ngọc Bảo – Nguyễn Thị Hồng Loan – Nguyễn Nam
Phong. Nhà xuất bản giáo dục năm 2010
4. Thiết kế bài giảng lịch sử 6 – Nguyễn Thị Thạch. Nhà xuất bản Hà Nội
năm 2009.
5. Sách Phương pháp học tập và nghiên cứu lịch sử . Phan Ngọc Liên Nguyễn Thị Côi - Đặng Văn Hồ. NXB Giáo dục
6. Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên Molule
THCS 18 - Phương pháp dạy học tích cực - Trần Đình Châu - Đặng Thị Thu
Thủy - Phan Thị Luyến. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam năm 2012.
7. Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên Molule
THCS 20 - Sử dụng các thiết bị dạy học - Nguyễn Thị Hoa. Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam năm 2012.


8. Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên Molule
THCS 19 - Dạy học với công nghệ thông tin - Trần Kiều Hương. Nhà xuất bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status