Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần lịch sử việt nam giai đoạn 1945 195 - Pdf 57

MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………......1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………….………………...…2
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………...….…………………...2
II. NỘI DUNG…………………………………………….............………..….......2
1. Cơ sở lý luận………………………………………………....………………….2
2. Thực trạng………………………………………………….………………..…..3
3. Một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy
học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (Lớp 9 - THCS) ….……6
4. Những kết quả đạt được…....……………………………….………………….18
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.……....………………….............…………….19
1. Kết luận…………………………..…………………………….……………....19
2. Kiến nghị……………………………………………………...……………….20

0


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Lịch sử là một môn khoa học, việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử ở trường Trung
học cơ sở gắn liền với nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, phục vụ các chế độ chính trị
khác nhau.
Thời Hy Lạp cổ đại, các nhà sử học đã khẳng định “lịch sử là thầy dạy của cuộc
sống”, “lịch sử là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. Các nhà tư tưởng thời trung
đại coi lịch sử là “triết lý của việc noi gương”. Trong lịch sử thế giới hiện đại,
nhiều nhà chính trị đồng thời cũng là nhà sử học và họ đã sử dụng tri thức lịch sử
để trị nước, giúp đời.
Vì vậy trong các bộ môn ở trường Trung học cơ sở thì môn Lịch sử có một vị trí
vô cùng quan trọng. Bởi lịch sử giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần

Là một giáo viên dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở, và cũng là
người được lãnh đạo nhà trường tin tưởng giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi,
1


bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh và bồi
dưỡng tinh thần yêu thích môn học ở từng khóa học, chương, bài học cụ thể….đó
chính là lí do tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh trong dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954”
( Lịch sử 9 Trung học cơ sở), với mong muốn góp phần nhỏ vào việc thay đổi
phương pháp và nâng cao chất lượng bộ môn.
2. Mục đích nghiên của đề tài.
Qua nhiều năm giảng dạy môn Lịch sử lớp 9 ở trường Trung học cơ sở, đặc biệt
là từ khi thực hiện thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học tôi nhận
thấy đây là một vấn đề cần thiết, có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất
lượng bộ môn, đặc biệt đối với học sinh lớp 9.
Trong chương trình Lịch sử lơp 9, phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
gồm có những nội dung cơ bản sau:
Bài 24: Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân
(1945-1946).
Bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân Pháp
(1946-1950).
Bài 26: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân
Pháp (1950-1953).
Bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân Pháp xâm lược kết thúc
(1953-1954).
3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9 trườngTrung học cơ sở của huyện và phần Lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1945-1954.
4. Phương pháp nghiên cứu.

Muốn làm được việc này phải thông qua các thao tác tư duy như: Đối chiếu,
so sánh, phân tích, tổng hợp...vạch ra dấu hiệu bản chất. Quá trình này không tự
diễn ra mà đòi hỏi phải có sự kích thích nhất định cho tư duy. Yêu cầu tìm ra bản
chất của sự kiện, hiện tượng quá khứ là những biểu hiện của những nhiệm vụ nhận
thức nảy sinh ra trên cơ sở tri giác. Chính các câu hỏi “như thế nào?”, “tại sao?”...
sẽ kích thích óc tìm tòi, sự phân tích, so sánh và khái quát hoá của học sinh. Như
vậy, trong các hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh (tri giác, nhớ, hình dung,
tưởng tượng, tư duy...) thì tư duy có vai trò quan trọng.
Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử có ý nghĩa
quan trọng.
Trước hết, tích cực, độc lập trong nhận thức đặc biệt là trong tư duy sẽ đảm
bảo cho các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức.
Thứ hai, phát triển tính tích cực, độc lập trong nhận thức, đặc biệt trong tư
duy là phương tiện tốt để hình thành kiến thức, khơi dậy những xúc cảm lịch sử,
kích thích hứng thú học tập, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, tình cảm học sinh.
Ngoài ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tính tích cực, độc lập trong
nhận thức, đặc biệt trong tư duy còn là phương thức tốt góp phần phát huy các
năng lực nhận thức, năng lực thực hành, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh nói chung và
rèn luyện các thao tác cũng như chất lượng của tư duy nói riêng.
2. Thực trạng.
Trong vài năm gần đây, bộ môn Lịch sử nói chung và môn Lịch sử lớp 9 nói
riêng trong trường Trung học cơ sở đã được chú trọng hơn trước . Điều đó được
thể hiện ở chỗ môn Lịch sử được xếp ngang hàng với các môn khác như Lí ,
Hoá… được tổ chức thi tuyển học sinh giỏi các cấp, được cung cấp thêm các trang
thiết bị và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc daỵ và học .
Tuy nhiên qua hơn 10 năm giảng dạy bộ môn này tôi thấy rằng việc dạy học
môn Lịch sử hiện nay vẫn còn giặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là việc phát
huy tính tích cực của học sinh. Điều đó đã dẫn đến chất lượng bộ môn đối với học
sinh lớp 9 khi ra trường là không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục và mục
tiêu đào tạo đặt ra.

khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như tranh, ảnh, bản
đồ, sa bàn, mô hình, video, và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học lịch sử.
- Hạn chế:
Mặc dù giáo viên đã cố gắng đổi mới phương pháp dạy học, song nhìn chung
vẫn là hoạt động của thầy như: phân tích, đánh giá, giải thích là chủ yếu, còn học
sinh lắng nghe chép bài là phổ biến (80%) hoặc thầy đọc, trò chép. Giáo viên chưa
tích cực hóa hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh
và nắm vững kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc theo vở ghi hoặc sách
giáo khoa.
Ở các trường phổ thông hiện nay, giáo viên chỉ tập trung vào các giờ lên lớp,
chưa quan tâm đến các hoạt động ngoài lớp.
Giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ, tức là sau khi kiểm tra bài cũ,
điều này làm giảm bớt sự tập trung của học sinh ngay từ hoạt động đầu tiên.
Một số câu hỏi giáo viên đặt ra khó, học sinh không trả lời được nhưng lại
không có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi giáo viên phải trả lời thay cho học
sinh.
Nội dung học còn nặng về kiến thức và quá nhiều sự kiện trong từng tiết học,
nên dẫn đến phải nhồi nhét kiến thức cho học sinh, không có thời gian rèn luyện
cho các em năng lực độc lập, tư duy và lĩnh hội kiến thức. Đây là một thực tế đáng
buồn hiện nay.
Như vậy, việc học sinh không thích học Lịch sử, chưa tích cực trong hoạt
động học tập nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phương pháp dạy học của giáo
viên. Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp sư phạm giúp học sinh phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh trong dạy học Lịch sử là vấn đề cấp thiết.
4


* Về phía học sinh:
- Tích cực:

Yếu

Kém

HS khối 9
Tổng số
TS Tỉ lệ TS
Tỉ lệ
TS
Tỉ lệ
TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ
38
2 5,2%
7
18,5% 20 52,7%
8
21%
1 2,6%
+ Khảo sát chất lượng với phương pháp dạy học truyền thống thông qua câu hỏi
khi dạy bài 26: "Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực
dân Pháp (1950-1953)".
Ví dụ: Sự kiện nào đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống Thực dân Pháp?
A: Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947.
B: Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16.
C: Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950.
Kết quả: 40% chọn đáp án A; 30% chọn đáp án B và 30% chọn đáp án C.
Đáp án đúng là C- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950.
Từ kết quả điều tra thực tế chất lượng dạy học và quá trình công tác, bản
thân đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học

Khi soạn giáo án, giáo viên cần nghiên cứu nội dung toàn bài trong sách
giáo khoa, xác định kiến thức cơ bản của bài, hiểu rõ nội dung, tinh thần mà tác giả
mong muốn ở học sinh về từng mặt kiến thức, tư tưởng, kĩ năng. Khi đã có cái
nhìn toàn cục, khái quát, cần đi sâu từng mục nhằm tìm ra kiến thức cơ bản của
mục đó, sự liên quan của kiến thức đó với kiến thức toàn bài. Không nên dàn đều
về mặt thời gian cũng như khối lượng kiến thức của từng phần mà xác định phần
nào lướt qua, phần nào là trọng tâm. Mỗi bài cần phải xác định rõ phần đóng góp
cụ thể về mặt nội dung, thái độ, kĩ năng, kĩ xảo, các khái niệm cần giải thích cho
học sinh hiểu.
Ví dụ : Khi dạy bài 27 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
xâm lược kết thúc (1953- 1954) bài gồm có 4 nội dung thì nội dung II là quan
trọng nhất, giáo viên kết hợp lược đồ để làm nổi bật nội dung mục này.

6


Hoạt động : Tìm hiểu
Cuộc tiến công chiến lợc
Đông - Xuân 1953 - 1954
và chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ.
H. Trớc âm mu và hành
động của Pháp trong kế
hoạch Na Va, ảng ta có chủ
trơng, kế hoạch gì?.
HS trả lời.
GVKL:
Sử dụng lợc đồ: Hình thái
chiến trờng trên các mặt
trận đông Xuân 1953- 1954

7


GVKL Pháp tự hào là pháo
đài bất khả xâm phạm, là
cái cối xay thịt....
Trớc tình hình đó Đảng ta
quyết định giao chiến với
Pháp tại Điện Biên Phủ.
H/. Chiến dịch ĐBP diễn ra
nh thế nào?.
H 55, 56 sgk
HS dựa vào sgk trả lời.
GV dùng lợc đồ tờng thuật.
HS ghi nhớ trên bản đồ.
GV kể câu chuyện bắt
sống tớng Đờ cát.

điểm, 3 phân khu với 16200 tên.
- Ta: quyết định giao chiến với
Pháp tại Điện Biên Phủ.
* Diễn biến.
- Đợt 1: ( 13- 17/ 3/ 1954), đánh
phía Bắc khu Him Lam, Độc Lập,
Bản Kéo.
- Đợt 2: ( 30/ 3- 24/4) tiến công khu
Trung tâm , đồi A1, C1, D1.
- Đợt 3: ( 1/ 5 - 7/ 5), tổng công kích
thắng lợi.
* Kết quả: Ta tiêu diệt, bắt sống

của giáo viên thì nên sử dụng. Đó là các kiên thức về diễn biến của một cuộc khởi
nghĩa, một trận đánh hay tiểu sử một nhân vật mà các em quen biết.
Ví dụ khi dạy bài 26" Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp 1950-1953", ở nội dung I.1.Hoàn cảnh lịch sử mới, giáo viên
cho học sinh đọc sách giáo khoa sau đó gọi một vài học sinh nêu hoàn cảnh lịch sử
mới đối với cách mạng ta? sau đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn, phân tích cho các
em tìm hiểu kĩ hơn.
Trong sach giáo khoa, phần lớn các bài đều có những đoạn trích chữ nhỏ.
Kiến thức được thể hiện trong những đoạn trích này nhiều khi rất quan trọng.
Thường nó là nguồn tư liệu làm nổi bật nội dung cơ bản của bài. Ví dụ, ở đoạn
trích chữ nhỏ trang 106, mục 1. Thực dân Pháp tấn công căn cứ địa kháng chiến
Việt Bắc, thì diễn biến của cuộc tấn công được thể hiện qua đoạn chữ nhỏ. Vì vậy
giáo viên buộc phải làm rõ cho học sinh nắm được.
Bài 27 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 –
1954)”, đoạn trích chữ nhỏ trang 125 ở mục III - Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt
chiến tranh ở Đông Dương (1954), giáo viên cần làm rõ cuộc đấu tranh trên bàn
hội nghị diễn ra gay gắt do lập trường các bên trái ngược nhau. Phía ta kiên quyết
lập trường độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở
Đông Dương. Phía Pháp – Mĩ tỏ ra thiếu thiện chí, ngoan cố, Pháp vẫn muốn duy
trì quyền lợi ở Đông Dương. Thậm chí giáo viên còn phải phân tích, bổ sung, nêu
thái độ ngoan cố của Pháp – Mĩ: không chịu mời phái đoàn của Lào và
Campuchia, không dám công khai bác bỏ ta nhưng tìm mọi cách phá hoại.
9


Giáo viên cũng có thể cho học sinh đọc đoạn trích chữ nhỏ trong quá trình
kết hợp giảng bài.
Như vậy, những đoạn chữ nhỏ trong sách giáo khoa phải được sử dụng triệt
để. Nếu nó đề cập đến những kiến thức khó, phức tạp thì giáo viên lấy làm nguồn
tư liệu dùng để miêu tả hoặc kể chuyện. Nếu dễ có thể cho học sinh đọc kiểm tra

Văn hóa – giáo dục
Tóm lại, sử dụng sách giáo khoa như thế nào, trong thực tế nó được biểu
hiện sinh động ở mỗi cá nhân và tùy thuộc rất nhiều vào sự linh hoạt, sáng tạo của
mỗi giáo viên.
3.3.

Sử dụng hệ thống câu hỏi để phát huy tính tích cực học tập của học
sinh trong dạy học lịch sử.
Để sử dụng tốt hệ thống các câu hỏi trong quá trình dạy học chúng ta cần
lưu ý mấy điểm sau :
- Câu hỏi phải vừa sức, đúng đối tượng, không quá khó hoặc quá dễ .
10


- Mỗi giờ học chỉ nên sử dụng từ 5 đến 7 câu hỏi . Sau mỗi chương có câu hỏi bài
tập .
- Triệt để khai thác các câu hỏi trong SGK kết hợp với câu hỏi sáng tạo .
a - Nêu câu hỏi đầu giờ học :
Trước khi cung cấp kiến thức của bài học cho học sinh, giáo viên cần nêu
ngay câu hỏi định hướng cho học sinh . Đây là loại câu hỏi khái quát nội dung của
bài học, muốn trả lời phải huy động kiến thức của từng bài . Tuy nhiên khi nêu câu
hỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi giáo viên cung cấp đầy đủ
kiến thức thì các em mới trả lời được .
Ví dụ : Khi dạy bài 24 "Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân
chủ nhân dân 1945-1946", giáo viên đặt câu hỏi: Tại sao nói sau cách mạng tháng
tám nước ta ở vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc ? Để trả lời câu hỏi trên chúng ta
cùng tìm hiểu nội dung bài học hôm nay.
Hoặc khi dạy Bài 27 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết
thúc (1953 – 1954)”, ở nội dung II, 2. “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)
giáo viên dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề: Thắng lợi của ta trong đông

- Loại câu hỏi về sự phát sinh các sự kiện, hiện tượng lịch sử: Đây là loại câu
hỏi yêu cầu học sinh nêu lên sự phát triển của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử: nêu
nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử của sự
kiện, hiện tượng đó. Loại câu hỏi này thường xuất hiện vào phần đầu bài giảng, bởi
vì bất kì một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào cũng đều xuất hiện trong một hoàn
cảnh lịch sử nhất định, đều có nguyên nhân phát sinh của nó. Đây cũng là một đặc
điểm của tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.
Ví dụ, khi dạy bài 25 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp (1946 – 1950)” ở nội dung 1. “Kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp bùng nổ”, giáo viên đưa ra câu hỏi: Vì sao đêm 19/12/1946 cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ? . Học sinh dựa vào sách
giáo khoa, suy nghĩ và trả lời. Giáo viên củng cố, mở rộng kiến thức để học sinh
thấy được thiện chí hòa bình của ta và hành động trắng trợn của thực dân Pháp,
thể hiện rõ mưu đồ xâm lược nước ta.
- Loại câu hỏi về quá trình diễn biến, phát triển của sự kiện – hiện tượng lịch
sử như diễn biến của cuộc khởi nghĩa, diễn biến các cuộc cách mạng, cuộc chiến
tranh…. Loại này cũng thường gặp ở tất cả các loại bài.
Ví dụ: Khi dạy bài 27, “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết
thúc (1953 – 1954)” , ở nội dung II.2. “ Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)”,
giáo viên đưa ra câu hỏi: Tại sao Pháp - Mĩ lại xây dựng Điện Biên Phủ thành tập
đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương?
+ Vì chúng muốn nghiền nát bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến
của ta.
+ Giành thắng lợi quân sự để kết thúc chiến tranh trên danh dự.
Hoặc vì sao ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày âm mưu của Pháp và chủ trương
của ta.
+ Kết quả và ý nghĩa.
+ Tác động đến hiệp định Giơ ne vơ...
- Loại câu hỏi tìm hiểu kết quả, nguyên nhân dẫn đến kết quả đó và ý nghĩa

Trên cơ sở biện pháp chung về đồ dùng trực quan, tôi đưa ra một số biện
pháp khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử phần “Lịch sử Việt
Nam từ năm 1945 đến 1954” (SGK Lịch sử 9-THCS).
a. Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới.
- Sử dụng câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung kênh
hình.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tổ chức lĩnh hội kiến thức mới, phát huy
tính tích cực học tập của các em, giáo viên nên kết hợp cho học sinh theo dõi đồ
dùng trực quan (lược đồ, bản đồ, tranh ảnh) với việc sử dụng câu hỏi gợi mở từ dễ
đến khó mang tính chất khái quát, yêu cầu các em phát huy cao độ năng lực tư duy
độc lập để rút ra kết luận có tính chất khái quát, giải quyết những vấn đề trọng tâm
của bài. Trong quá trình học sinh trao đổi, thảo luận để tìm ra câu trả lời, giáo viên
là người đóng vai trò điều khiển chung, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh lần lượt từng
bước giải quyết vấn đề thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở.
Ví dụ: Khi dạy bài 26, Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp (1950-1953), giáo viên có thể sử dụng hình 46.SGK lớp 9:
Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở chiến dịch Biên Giới, lược
đồ “Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950”. Trước hết giáo viên lựa chọn thời điểm
sử dụng lược đồ cho hợp lí, đó là khi dạy mục I. 1 Hoàn cảnh lịch sử mới và I.2
“Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950”, trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm
hiểu chiến dịch, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi gợi mở khi giảng từng nội
dung như:

13


Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn mở chiến dịch Biên
giới.

Lược đồ chiến dịch Biên giới thu - đông 1950


Những đại biểu tham dự Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt

15


Trước hết giáo viên giới thiệu về bức ảnh ghi lại hình ảnh các đại biểu tham
dự đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt rồi hướng dẫn học sinh
quan sát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Giáo viên đưa ra câu hỏi gợi mở để
học sinh trả lời:
- Quan sát trang phục, nét mặt của những người trong ảnh, chúng ta thấy
thành phần tham dự đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt như thế
nào?
Học sinh trao đổi đàm thoại qua những câu gợi mở, quá trình đó sẽ giúp các
em có biểu tượng ban đầu về các thành phần tham gia. Sau đó giáo viên miêu tả
khái quát: Trong ảnh là quang cảnh ở bên ngoài hội trường. Ở trên cửa ra vào hội
trường có gắn tấm biển đề hàng chữ “Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh –
Liên Việt”, có 29 đại biểu chụp ảnh kỉ niệm. Quan sát bức ảnh ta thấy rõ các đại
biểu tham dự gồm đủ mọi giới: phụ nữ, nam giới, người già, người trẻ, có cả
những người theo tôn giáo (phía trái bức ảnh), những người dân tộc thiểu số (bên
phải bức ảnh)… Chủ tịch Hồ Chí Minh là người ngồi giữa. Giáo viên tiếp tục gợi
mở “Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi ở giữa nói lên điều gì?”. Điều đó nói lên Bác và
Đảng là trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộc, tổ chức lãnh đạo khối đại đoàn
kết.
Cuối cùng giáo viên đưa ra câu hỏi: “Qua đó em có suy nghĩ gì về mục đích
tổ chức mặt trận của Đảng?”. Mặt trận Liên Việt là mặt trận dân tộc thống nhất,
đoàn kết tất cả các đoàn thể, tôn giáo, đảng phái, các cá nhân yêu nước nhằm thắt
chặt khối đại đoàn kết toàn dân để kháng chiến, kiến quốc thắng lợi. Tuyên ngôn
của đại hội ghi rõ mục đích của Mặt trận Liên Việt là tiêu diệt thực dân Pháp,
đánh bại can thiệp Mĩ, trừng trị Việt gian phản quốc, thực hiện một nước Việt Nam


`

Giáo viên cũng có thể sử dụng bản đồ trên nhưng dưới dạng bản đồ “câm”,
yêu cầu học sinh điền các kí hiệu lên bản đồ cho đầy đủ rồi dựa vào bản đồ để trình
bày lại diễn biến chính của chiến dịch. Sau khi học sinh trình bày, giáo viên có thể
nhận xét, cho điểm hoặc khen trước lớp.
- Đối với việc sử dụng tranh ảnh lịch sử để củng cố kiến thức đã học là một
việc làm tương đối khó, do vậy giáo viên nên kết hợp với hệ thống câu hỏi. Qua đó
giúp các em nắm vững chắc, hiểu sâu, nhớ lâu hơn những kiến thức đã học, đồng
thời rèn luyện kĩ năng quan sát, miêu tả, phân tích và rút ra kết luận lịch sử cho học
sinh. Ví dụ, để củng cố kiến thức của các em về Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông
Dương khi dạy bài 27, giáo viên có thể sử dụng bức ảnh “Quang cảnh Hội nghị
Giơnevơ”. Giáo viên cho học sinh quan sát một lần nữa bức ảnh và học sinh dựa
vào kiến thức đã học trả lời các câu hỏi của giáo viên:

Toàn cảnh hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954

17


Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu (phải) và tướng Pháp Đenthây (trái) ký Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7/1954. (Ảnh TL, TNN st)

+ Qua quan sát em thấy Hội nghị được tổ chức như thế nào?
+ Hội nghị Giơnevơ đang thảo luận vấn đề gì?
+ Em có nhận xét gì về Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương?
+ Hiệp định Giơ ne vơ có ý nghĩa như thế nào?
c. Sử dụng máy chiếu trong dạy học lịch sử.
Sử dụng máy chiếu là một phương pháp mới trong dạy học lịch sử. Một số
tranh ảnh, phần bài học quan trọng giao viên có thể pho to hoặc viết vào giấy trong

nước nhà : Có trình độ văn hoá cơ bản, phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe , thông
minh sáng tạo … đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước trong thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá .
4. Những kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài.
Trong thời gian qua tôi đã vận dụng những kinh nghiệm này vào các tiết dạy,
bản thân tôi nhận thấy phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới. Học sinh
hứng thú trong học tập, tích cực, chủ động và sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết,
đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và
phát triển kỹ năng. Không khí học tập sôi nổi, học sinh yêu thích môn học hơn và
đạt được kết quả cao trong việc kiểm tra đánh giá học sinh. Đặc biệt bản thân đã
áp dụng một số phương pháp nhắm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy
học lịch sử một cách linh hoạt đối với từng bài, khối học và đã thu được kết quả
cao trong học tập và đánh giá học sinh. Hàng năm có nhiều học sinh tự nguyện
tham gia thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh đạt giải cao.
* Kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tàì cho học sinh khóa sau (Năm học
2015-2016)
HS
khối 9
38

Giỏi
5

13,1%

Khá
15

Trung bình


sau:
- Trong mỗi tiết dạy giáo viên cần phải nêu lên một số yêu cầu của tiết, mục
của bài học, sau đó cung cấp thông tin và phân bố thời gian hợp lý để học sinh nắm
bắt thông tin.
- Giáo viên đặt và sử dụng linh hoạt các câu hỏi phù hợp với nội dung của
bàidạy, tùy theo khối, lớp và đối tượng học sinh mà vận dụng.
- Khi nêu câu hỏi giáo viên cố gắng sử dụng câu hỏi ngắn gọn, đủ ý, đơn
giản, dễ hiểu gợi sự suy nghĩ và tư duy của học sinh, không nên sử dụng câu hỏi
“có” hay “không”, “đúng” hay “sai” mà phải sử dụng câu hỏi phát huy tính độc lập, tư
duy ở các em.
- Khi tổ chức học sinh tiếp nhận thông tin, giáo viên chú ý sử dụng câu hỏi
gợi mở được chuẩn bị kỹ ở nhà.
- Giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu tài liệu tham khảo để xây dựng các
câu hỏi cho tiết dạy sinh động và vận dụng linh hoạt để giải quyết nhiệm vụ ở mỗi
bài học.
- Giáo viên cần kết hợp các phương tiện khác nhau trong hoạt động dạy học
như: Đồ dùng trực quan, tranh ảnh, bản đồ và các phương tiện khác khi lên lớp
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm nâng cao hiệu quả của
giờ học.
- Trong quá trình giảng dạy, ngôn ngữ nói phải chuẩn, truyền cảm, không quá
nhanh và quá chậm, phải có tinhá lôi cuốn, hấp dẫn, trình bày phải có điểm nhấn
mạnh, tránh chung chung.
- Khi đặt câu hỏi không nên đặt câu hỏi quá dễ làm cho học sinh thỏa mãn, đi
đến chủ quan về vốn kiến thức của mình.
- Cần tạo cơ hội cho học sinh cả lớp trả lời, thảo luận nhóm, không làm nặng
nề giờ học, tạo không khí nhẹ nhàng, thoải mái nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt.
- Là giáo viên dạy môn lịch sử phải tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phương pháp
dạy học. Có kế hoạch cụ thể trong việc tìm kiếm và thiết kế đồ dùng dạy học,
không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, tự bồi dưỡng, tự học đặc biệt phải bồi
dưỡng kiến thức về cách vẽ và sử dụng bản đồ một cách khoa học, chính xác. Triệt

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm
của mình viết, ,không sao chép nội dung của
người khác.
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hương
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 6 - NXB Giáo dục.
2. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 9 - NXB Giáo dục.
3. Sách giáo viên Lịch sử 9 - NXB Giáo dục.
4. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 - NXB Chính trị quốc gia 1995.
5. Lịch sử nước ta của Hồ Chí Minh.
6. Tranh, Ảnh, bản đồ - Tư liệu Thông tấn xã Việt Nam.
7. Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo .

21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status