PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Tôi vô cùng ấn tượng về câu chuyện của một người thầy suốt đời làm
nghề dạy học, thầy đã dạy lớp lớp học sinh trưởng thành theo năm tháng…
Nhưng ở những năm cuối của nghề dạy học thầy đã không ngừng trăn trở về học
sinh của mình, bản thân tôi đã nhận ra sự trăn trở của thầy thông qua dòng lưu
bút thầy dành cho khóa học cuối mà thầy chủ nhiệm.
“ Chuyện lớp tôi.
Lớp có 42 học sinh.
Bốn mươi hai học sinh đi học bằng xe đạp .
Bốn mươi hai học sinh có khả năng đỗ đại học.
Nhưng bốn mươi học sinh không biết phân biệt lốp xe, vành xe và
càng không biết sửa chữa những lỗi đơn giản cho chính chiếc xe mình vẫn đi
hàng ngày.”
Rõ ràng câu chuyện trên chính là những tâm tư của thầy, đồng thời đề cập
tới một thực trạng phổ biến trong xã hội và trong môi trường học đường. Thực
trang đó chính là học sinh thiếu kĩ năng sống. Đồng thời trong thực tế hiện nay,
việc rèn kĩ năng sống cho học sinh chưa thực sự được chú trọng, nguyên do
chính là trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến
thức, cũng có giáo viên đề cập đến việc lồng ghép, giảng day tích hợp kĩ năng
sống cho học sinh nhưng hiệu quả chưa cao. Từ thực trạng ấy, đã thôi thúc tôi
trình bày nhưng suy nghĩ của mình trong sáng kiến kinh nghiệm này. Như vậy
việc giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cần thiết trong nhà trường hiện nay.
Trước hết, nhìn từ yêu cầu chung của xã hội hiện đại: xã hội đang có
những thay đổi to lớn về mọi mặt như kinh tế, văn hóa, lối sống vì vậy để bắt
kịp xu thế hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới nền giáo dục
của nước ta cũng có những thay đổi. Như vậy việc dạy kiến thức văn hóa là điều
kiện cần thiết để người học thích ứng nhanh với nền kinh tế tri thức nhưng điều
kiện không thể thiếu là những con người lao động ấy phải có kĩ năng sống thì
mới đáp ứng được những yêu cầu của xã hội hiện đại.
Nhìn từ góc độ giáo dục: Đảng và Nhà nước ta vẫn xem giáo dục là quốc
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Là học sinh khối 10,11, khối 12 tại trung tâm GDNN- GDTX Triệu Sơn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
a.Phương pháp nghiên cứu lí luận.
Áp dụng phương pháp này nhằm mục đích thu thập các thông tin lí luận để xây
dựng cơ sở lí luận của đề tài như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định.
b.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Áp dụng phương pháp này bản thân đã thu thập những thông tin từ thực
tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài như:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
1.5 . Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiêm.
- Từng bước làm thay đổi quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
rèn luyện của học sinh.
- Vai trò giáo dục giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh được
nâng lên chiếm một vị trí quan trọng trong công tác giáo dục.
- Thống nhất giữa bồi dưỡng về nhận thức với thực tế công tác tổ chức
thực hiện và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiễn.
- Thu hút, huy động nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham
gia.
- Vai trò của cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội, chính quyền đoàn thể,
thể hiện đậm nét, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả của các hoạt động giáo
dục, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
- Tận dụng các thành tựu mới nhất của khoa học giáo dục và kinh nghiệm
tiên tiến trong hoạt động này.
- Xây dựng tập thể GV đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, có
kỹ năng phối hợp công tác tốt, cùng nhau hổ trợ trong hoạt động giáo dục.
giá học sinh quốc tế PISA với cách đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào
giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống; tổ chức cuộc thi vận dụng kiến
thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn; triển khai phương pháp dạy học
"Bàn tay nặn bột", là phương pháp dạy học khoa học được tiến hành dưới sự
giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt
ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu
hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình. Ở Việt Nam, với Đề án đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển
hướng từ trang bị kiến thức nặng lý thuyết sang trang bị những năng lực cần
thiết và phẩm chất cho người học. Điều đó cũng khẳng định thêm tầm quan
trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục KNS vào trường học cùng với các môn
học và các hoạt động giáo dục. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm kỹ năng sống
(KNS). Tuy nhiên, có thể tiếpcận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục theo
UNESCO: Học để biết (learning to know), học để khẳng định bản thân (learning
to be), học để chung sống (learning to live together) và học để làm việc (learning
to do).Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kỹ năng học tập, kỹ
năng làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ năng
3
làm việc. Tuy nhiên, kỹ năng sống (life skills) có thể hiểu là khả năng làm chủ
bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã
hội và khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
2.Thực trạng của vấn đề.
Trong thực tế, khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trên
lớp, giáo viên đều phải xây dựng 3 mục tiêu: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ
năng, hình thành thái độ. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong dạy học và
giáo viên đều nhận thức sâu sắc yêu cầu này. Tuy nhiên, có thể nói rằng do phải
chạy theo thời gian, phải chuyển tải nhiều nội dung trong khi thời gian có hạn,
giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp kiến thức mà ít quan tâm rèn
ảnh hưởng của khoa học công nghệ: điện thoại, internet, games… bản thân học
sinh không có sự rèn luyện, tác động tiêu cực từ bạn bè.Từ thực trạng trên, trong
quá trình thực hiện, chúng tôi gặp phải những khó khăn và thuận lợi như sau:
4
a. Thuận lợi: Bộ Giáo dục - Đào tạo đã phát động phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện-học sinh tích cực” với những kế hoạch nhất quán từ trung
ương đến địa phương, Phòng giáo dục - Đào tạo cũng đã có kế hoạch từng năm
học với những biện pháp cụ thể để rèn kỹ năng sống cho học sinh một cách
chung nhất cho các bậc học, đây chính là những định hướng giúp giáo viên thực
hiện như: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống,
thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý
thức bảo vệ sức khỏe, kĩ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các
tai nạn thương tích khác; rèn luyện kĩ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa
bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội, rèn kĩ năng tự tin khi giao tiếp, kĩ
năng giải quyết mâu thuẫn,
b. Khó khăn.
* Nhà Trường
Trung tâm GDNN-GDTX Triệu Sơn với điều kiện kinh tế vẫn còn khó khăn,
khuôn viên trường còn hẹp hạn chế cho việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
Năm học 2017-2018, Trung tâm có 14 lớp với tổng số592 học sinh song cơ sở
vật chất còn nhiều thiếu thốn từ đó hạn chế các hoạt động giáo dục của nhà
trường.
* Giáo viên
- Giáo viên thường tập trung lo lắng cho những em có những vấn đề về
hành vi và khả năng tập trung kém. Những học sinh này thường không có khả
năng chờ đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và không biết làm việc theo
nhóm, điều này làm cho HS không thể tập trung lĩnh hội những điều giáo viên
dạy. Vì vậy, giáo viên phải tốn rất nhiều thời gian đầu tư để giúp HS có được
Câu 3:Những câu nào trong văn bản để lại cho em ấn tượng sâu sắc
nhất?(0,5đ).
Câu 4: Nội dung của văn bản đem đến cho mọi người cảm xúc gì? (1đ).
Khi khai thác xong phần câu hỏi tôi thường tổ chức nhóm để học sinh
thảo luận và trình bày về kĩ năng sống được rút ra từ nội dung của ngữ liệu
trên.Từ đó giúp học sinh nhận thức, phát hiện và giáo viên nhấn mạnh và khắc
sâu kĩ năng nhận thức về trách nhiệm của một công dân đối với chính bản thân
mình và đặc biệt là trách nhiệm của một công dân với đất nước.Từ kĩ năng ấy ,
tôi sẽ định hướng cho học sinh bằng những hành động và việc làm cụ thể, trong
đó phần lớn học sinh trung tâm sẽ đóng góp sức trẻ cho việc xây dựng và bảo về
đất nước bằng hành động cụ thể là tình nguyện đi lính sau khi tốt nghiệp hoặc
phấn đấu là một công dân tốt.Cụ thể sau khi tốt nghiệp năm học 2016-2017 lớp
12B2 của TT GDNN-GDTX Triệu Sơn có 06 em đi lính trong tháng2 năm 2018.
Ví dụ 1b: Không chỉ khai thác kĩ năng sống từ các ngữ liệu phần đọc hiểu
mà bản thân tôi còn dạy kĩ năng sống thông qua các bài văn nghị luận xã hội. Cụ
thể như thông qua các đề bài dạng như sau:
Đọc văn bản sau.[2]
Faith- chú chó đi bằng hai chân.
Chú chó này được sinh ra vào một đêm giáng sinh năm 2002.Khi sinh ra nó
7
chỉ có hai chân và không thể đi lại bình thường được.Mẹ của nó không muốn
nhận con.Người chủ đầu tiên cũng nghĩ nó không thể sống sót nên bỏ nó vào
thùng rác. Cô Jude Stringfellow đã gặp và đem nó về nuôi. Cô dặt tên nó là
Faith(Niềm tin) và quyết định dạy, huấn luyện chú chó nhỏ tự đi lại được.
Ban đầu, cô đặt Faith lên một chiếc ván lướt sóng để nó cảm nhận sự chuyển
động.Sau đó cô đặt bơ lạc trên một cái thìa và giơ lên cao, hướng về Faith để
nó đứng dậy nhảy lên. Thật kì diệu, sau 6 tháng,Faith đã học được cách đứng
thăng bằng trên hai chân và đã biết nhảy. Sau một thời gian huấn luyện nữa
Đình Hượu [3] và khai thác nhân vật cô Hiền trong văn bản “Một người Hà
Nội”-tác giả Nguyễn Khải [4] . Sau khi cho học sinh cảm nhận lối sống có văn
hóa của người Việt và hiểu được vẻ đẹp tâm hồn của cô Hiền ,người mà tác giả
Nguyễn Khải gọi là hạt bụi vàng của Hà Nội, tôi sẽ hướng cho học sinh nhận
thức và khắc sâu những nét đẹp truyền thống của người Việt Nam. Từ đó hướng
tới kĩ năng làm dâu, làm vợ, làm mẹ…xem đó là những hành trang để các em
8
mang theo trong cuộc sống sau này.
- Khi khai thác “Mùa lá rụng trong vườn” của tác giả Ma Văn Kháng [5], từ
đó tôi lồng ghép giáo dục kĩ năng giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán
trong đó cụ thể là tết cổ truyền của dân tộc.
- Khi khai thác chùm ca dao ,dân ca trong SGK ngữ văn 10[6],tôi khơi dậy
tình yêu thiên nhiên và biết trân trọng cuộc sống quanh mình.
- Khi khai thác các tác phẩm truyện “Hai đứa trẻ” của tác giả Thạch Lam
[7],sau khi giáo viên cho học sinh hiểu được cuộc sống của chị em Liên ,An
cũng như những con người ở phố huyện nghèo, tôi sẽ cho học sinh thảo luận ,
tìm ra kĩ năng sống từ trong tác phẩm ấy như kĩ năng sinh tồn, sống phải biết
yêu thương, có ước mơ, khát vọng…
Thật vậy , bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp trong tổ văn của trung tâm
GDNN-GDTX Triệu Sơn đã và đang thực hiện việc lồng ghép dạy kĩ năng sống
trong các tiết dạy của bộ môn ngữ văn một cách hiệu quả. Các tiết dạy lồng
ghép kĩ năng sống trong môn ngữ văn đều được giáo viên thể hiện cụ thể trong
mỗi giáo án ,có sự kí duyệt của tổ và của ban giám đốc trung tâm.Các tiết dạy
lồng ghép ấy không những tạo hứng thú cho học sinh mà còn từng bước trang bị
những kĩ năng mềm trong suốt 3 năm học để các em tự tin hơn trong cuộc
sống và thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại.
3.2-Giáo viên áp dụng cụ thể về việc giảng dạy kĩ năng sống cho học
sinh thông qua các tiết dạy hoạt động ngoài giờ lên lớp.
+ Kỹ năng hợp tác và làm việc theo nhóm.
+ Kỹ năng đánh giá và tự đánh giá.
- Hình thức truyền thông: diễn thuyết, thi tìm hiểu, sân khấu hoá, tiểu phẩm,
thông qua trò chơi.
* Tổ chức thông qua các hoạt động ngoại khóa như : văn nghệ ,thể dục
thể thao, giao lưu, về nguồn và qua các cuộc thi:
+ Tổ chức các hoạt động tập thể như thi kéo co, thi bóng chuyền, thi cắm
hoa theo chủ đề, thi viết văn theo chủ đề, thi các trò chơi dân gian, hội thao
trong và ngoài nhà trường từ đó lồng ghép kĩ năng sống như kĩ năng tự tin trong
giao tiếp, kĩ năng làm việc theo tập thể.
+ Giao lưu với các đơn vị kết nghĩa và các trường bạn,về nguồn tìm hiểu
các di tích văn hóa lịch sử trong huyện và trong tỉnh (vào 27/2; 26/3;22/12 )
Từ đó đã tạo một sân chơi lành mạnh giúp các em có điều kiện bộc lộ năng
lực, kỹ năng sống, sự hiểu biết, khả năng ứng xử tình huống, kỹ năng nhận xét
đánh giá,nhận thức đúng sai ,kỹ năng tự bảo vệ rèn luyện bản thân,kỹ năng làm
việc hợp tác, ứng xử nhanh nhẹn linh hoạt văn minh lịch sự, rèn luyện nhân
cách, giáo dục đạo đức lối sống, hòa nhập tập thể… Tăng cường sự gắn bó đoàn
kết trong lớp, trong trường.
+ Trong số các hoạt động ngoại khóa trên, tôi tâm đắc nhất với hoạt động
cho học sinh thực hành lựa chọn và phân tích sự lựa chọn của mình thông qua
trò chơi sắp xếp “những quả bóng bàn, những viên sỏi, những nắm cát và
những chai nước”[8]
Với những nguyên liệu trên bản thân tôi chia lớp thành 2 tổ và yêu cầu sắp
xếp các nguyên liệu đó vào một chiếc hộp, sau đó hùng biện nhằm giải thích
cách sắp xếp của tổ mình.
Có lẽ đây là hoạt động gây được nhiều hứng thú nhất với học sinh và từ trực
quan sinh động , tôi sẽ cho các em nhận ra tư duy trừu tượng về ý nghĩa của việc
lựa chọn những việc quan trọng cần trang bị trong cuộc đời của mỗi người một
cách cụ thể nhất.
- Học sinh có thể trình bày cách sắp xếp theo ý tưởng của tổ mình và sau đó
những việc quan trọng của đời mình. Như vậy sẽ sống cuộc sống không ý nghĩa.
Tôi sẽ cho học sinh sắp xếp theo chiều ngược lại, cụ thể nếu cho nước hoặc
cát vào trong hộp thì chắc chắn những viên sỏi, những quả bóng bàn (những thứ
quan trọng trong cuộc đời của bạn sẽ không thể có được) sẽ không có chỗ đựng
vào trong chiếc hộp của cuộc đời bạn.
Từ hoạt động ngoại khóa về việc lựa chọn và tập trung thực hiện trước
những thứ quan trọng trong cuộc đời để học sinh biết lựa chọn đúng hướng và
phấn đấu thực hiện để sống một cuộc sống đúng nghĩa cho chính mình từ đó góp
phần làm đẹp thêm cho xã hội.
4. Kết quả và bài học kinh nghiệm.
4.1 Kết quả
Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng thuận
hợp tác của các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã giúp
tôi đạt được một số kết quả trong việc dạy các kĩ năng sống cơ bản thể hiện ở
các kết quả sau:
a./ Kết quả học sinh đạt được:
100% học sinh được rèn luyện kĩ năng tự lập; kĩ năng nhận thức; tự tin thông
qua các hoạt động năng khiếu .
100% hoc được rèn luyện kĩ năng xã hội; kĩ năng về cảm xúc, giao tiếp.
+ Tinh thần và thái độ học tập có nâng lên, qua các tiết học lý thuyết, luyện
tập, thí nghiệm thực hành học sinh tự tin hơn, năng động hơn, mạnh dạn phát
biểu ý kiến hơn. Thể hiện qua việc đánh giá và hội ý rút kinh nghiệm sau các
tiết dạy của giáo viên bộ môn và điểm thi đua hàng tuần của các lớp được nâng
lên từng bước một cách rõ rệt .
Minh chứng :- 100% số tiết dạy của giáo viên, yêu cầu đánh giá ở mục
1,2,4,6,9 về học sinh học tập tích cực đều đạt điểm tối đa.
+ Những em học sinh biết cách giải quyết mâu thuẫn và các xung đột phát
11
Trong năm học 2017-2018 sau khi đã áp dụng những giải pháp cụ thể bản thân
đã rút ra được những giải pháp tối ưu nhất cho việc đưa kỹ năng sống vào thực
dạy ở trung tâm.
- Các tiết dạy chính khóa môn ngữ văn và các hoạt động ngoài giờ lên lớp
đã gây hứng thú cho học sinh, khích lệ tính ham học và thích được đến trường.
- Luôn tìm tòi, sáng tạo, phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và
xã
- Luôn gần gũi, lắng nghe những chia sẻ, những tâm tư nguyện vọng của
học sinh khi tham gia rèn luyện kỹ năng sống, từ đó sẵn sàng tư vấn và giúp đỡ
các em.
III: KẾT LUẬN CHUNG
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta khi yếu tố con người
được coi trọng thì tiềm năng trí tuệ cùng với việc trang bị những kĩ năng sống
mới đáp ứng được sự phát triển bền vững của người lao động trong hiện tại và
12
tương lai. Thực tế hiện nay ngành giáo dục đào tạo đã được nhà nước quan tâm
đưa lên quốc sách hàng đầu thì việc dạy tri thức nói chung và việc rèn kĩ năng
sống nói riêng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Một nhà hiền triết đã nói “khoa
học mà không có hành vi đạo đức thì chỉ là sự tàn rụi của linh hồn” mà hành vi
đạo đức đó chính là kĩ năng sống của học sinh vì vậy việc thực hiện rèn kĩ năng
sống cho học sinh là vô cùng cần thiết. Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ bé
của bản thân đã được áp dụng trực tiếp vào công tác giảng dạy môn ngữ văn tại
Trung tâm GDNN-GDTX Triệu Sơn, tôi kính mong nhận được thêm nhiều ý
kiến đóng góp chân thành từ phía các bạn đọc .
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Tiết dạy ấn tượng của thầy trên You tobe.
Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam
Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam
Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam
Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam
Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam
[3]
[4]
[5]
[6]
[7]
[8]
14