Dạy học dự án ứng dụng vào chương tạo lập doanh nghiệp trong giảng dạy công nghệ 10 nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh ở trường THPT quan hóa - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Ai cũng rõ con đường biện chứng của nhận thức là “từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Trên con đường nhận
thức ấy, hứng thú đóng vai trò vô cùng quan trọng làm tăng hiệu quả của nhận thức,
làm nảy sinh khát vọng hành động chiếm lĩnh tri thức và đưa vào đời sống thực
tiễn.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đã ghi:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”[4].
Trong luật Giáo dục Việt Nam, điều 28.2 đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”[1]. Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy học thì giáo dục phải đổi mới về nội
dung, phương pháp và phương tiện dạy học.
Công nghệ là một môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những
quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và
tinh thần của con người. Nội dung trong sách giáo khoa (SGK) Công nghệ 10 là
những kiến thức cơ bản về Nông, lâm, ngư nghiệp và tạo lập doanh nghiệp. Do đó,
nếu người dạy không đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng cho học
sinh (HS) tìm tòi khám phá, từ đó tìm ra tri thức và tiếp nhận tri thức một cách chủ
động mà cứ giảng dạy theo phương pháp truyền thống sẽ gây nhàm chán cho học
sinh [3].
Xu hướng đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay là chuyển từ việc dạy học lấy

vào thực tế của học sinh, từ đó nhằm nâng cao sự hứng thú của học sinh với môn
học.
Mặc dù, Quan Hóa là một huyện miền núi, đa số học sinh đều là dân tộc thiểu
số, sự hiểu biết và tiếp cận với phương pháp học mới còn nhiều hạn chế nhưng
bằng niềm đam mê với nghề nghiệp, sự nhiệt huyết trong chuyên môn và xuất phát
từ những lý do trên mà tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Dạy học dự án ứng dụng vào
chương tạo lập doanh nghiệp trong giảng dạy Công Nghệ 10 nhằm nâng cao
hứng thú học tập của học sinh ở trường THPT Quan Hóa” góp phần thực hiện
yêu cầu đổi mới nội dung và PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tập của
HS ở phổ thông.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế, xây dựng và sử dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học phần
Tạo lập doanh nghiệp - Công nghệ 10, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh,
nâng cao hiệu quả dạy học môn Công nghệ 10.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp đế phát triển kĩ năng “dạy học dự án”.
- Học sinh khối 10 trường trung học phổ thông Quan Hóa.
- Nội dung phần “Tạo lập doanh nghiệp”, SGK Công nghệ 10.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới PPDH theo hướng
tích cực hóa việc học của học sinh.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Công nghệ 10 (phần Tạo
lập doanh nghiệp).

2


- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, biện pháp thiết kế và sử dụng
phương pháp dạy học dự án trong nội dung phần “Tạo lập doanh nghiệp - Công

án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án có
nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng.
Tuy nhiên, không phân biệt giữa hình thức và phương pháp dạy học, người ta
cũng gọi là phương pháp dự án. Khi đó cần hiểu đó là phương pháp dạy học theo
nghĩa rộng, một phương pháp dạy học phức hợp.
“Phương pháp dạy học bằng dự án gọi tắt là dạy học dự án là một hình thức,
phương pháp dạy học trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp, có
sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ được thực hiện với tính
tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch,
đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả học
3


tập. Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của dạy học dự án” Nguyễn Văn
Cường – Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004). [9]
HS tham gia trong dự án cần có sự tích cực, tự lực khi hoạt động. Điều này
khuyến khích tính sáng tạo của người học, tuy nhiên mức độ khó của công việc
cũng sẽ phù hợp với kinh nghiệm và khả năng của HS.
Các dự án thường được thực hiện theo hình thức nhóm học tập có sự cộng
tác làm việc và phân công giữa các thành viên trong nhóm. Dạy học dự án đòi hỏi
và cũng rèn luyện những kỹ năng làm việc cho các đối tượng tham gia như: HS với
HS, giữa HS và GV hướng dẫn, giữa các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự
án. Đặc điểm này giúp học sinh góp nhặt nhiều kinh nghiệm học tập và làm việc
theo nhóm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Chủ đề của dự án xuất phát từ tình huống thực tế xã hội, thực tiễn nghề
nghiệp và thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù
hợp với trình độ và khả năng của HS.
Sản phẩm của dự án có thể là những bài thu hoạch lý thuyết, hay những sản
phẩm thực tế học sinh tự làm hay thiết kế được. Những sản phẩm này được sử
dụng, công bố, giới thiệu trước tập thể.

khăn khi sử dụng PPDA.
Tác giả Trần Trùng Ninh với đề tài nghiên cứu “Áp dụng Dạy học dự án vào
môn Bài tập hóa học phổ thông” được giới thiệu trên Tạp chí giáo dục – số 17
tháng 1/2007. Kết quả nghiệm thu đề tài cho thấy PPDA đã có những tác động tích
cực đến người học đó là sinh viên khoa Hóa trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Như vậy, với những nghiên cứu trên các tác giả đã nêu lên những cơ sở lý
thuyết cơ bản và quy trình vận dụng PPDA, đồng thời với những nghiên cứu có
thực nghiệm thực tế là các dẫn chứng sinh động về hiệu quả của PPDA đối với
người học trong các quá trình đào tạo. Các đề tài nghiên cứu là những đóng góp
tích cực cho những PPDH mới, tích cực nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo
dục.
Qua nghiên cứu người nghiên cứu thấy rằng, PPDA đã được nghiên cứu và
thử nghiệm ở rất nhiều môn học cũng như ở các cấp học. Tuy nhiên, việc áp dụng
phương pháp này vào môn Công Nghệ 10 còn hạn chế. Với chương trình SGK
công nghệ 10 gồm 5 chương, trong đó phần Tạo Lập Doanh Nghiệp trang bị cho
HS những kiến thức cơ bản về kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp
và việc tổ chức, quản lý doanh nghiệp. Mỗi kiến thức lý thuyết đều gắn liền với
thực tế, sau mỗi phần lý thuyết đều có những bài thực hành cho học sinh. Như vậy,
để nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như nâng cao tính tích cực của học sinh
nhằm tạo điều kiện cho học sinh hiểu bài, đồng thời vận dụng những kiến thức đã
học vào thực tế cuộc sống. Việc áp dụng PPDA vào giảng dạy Công Nghệ 10 đặc
biệt là trong phần Tạo Lập Doanh Nghiệp là rất cần thiết. Qua thử nghiệm, người
nghiên cứu nhận thấy đây là một phương pháp dạy học mới mang lại những hiệu quả
tích cực đối với người học.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng dạy học môn Công nghệ nông nghiệp ở trường THPT
2.2.1.1. Thực trạng dạy học của giáo viên
Nhìn chung, giáo viên cải tiến đổi mới phương pháp như sử dụng: phương
pháp vấn đáp tìm tòi, trực quan tìm tòi, thảo luận nhóm… Tuy nhiên, việc sử dụng
các phương pháp trên không thường xuyên, đa phần giáo án chủ yếu là nội dung

thiết…
- Đặc điểm của HS khu vực miền núi:
Qua quá trình tìm hiểu và thực tế dạy học ở trường THPT Quan Hóa – Thanh
Hóa, tôi có thể tóm tắt về một số đặc điểm của HS THPT miền núi như sau:
+ Về điều kiện kinh tế xã hội: Đa phần HS là con em dân tộc thiểu số, sống ở
miền núi cao,địa hình hiểm trở, sống xa nhau, xa trường nên đi lại khó khăn, gây
cản trở không ít đến việc đến trường học tập của các em.
+ Về ngôn ngữ tiếng Việt: Do đa phần HS là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh
sống khó khăn, ít được tiếp xúc với phương tiện dạy học hiện đại nên ngôn ngữ
tiếng Việt còn nghèo, nhiều khi trong lớp các em còn giao tiếp bằng ngôn ngữ riêng
của dân tộc mình, kĩ năng đọc, viết, diễn đạt câu, phát âm các thuật ngữ khoa học
nhiều khi chưa chính xác.
+ Về khả năng tư duy: Thường tư duy chậm, khi gặp tình huống phức tạp
thường bối rối không nhanh chóng tìm ra phương án, khả năng tư duy trừu tượng,
tư duy logic biện chứng chưa cao. Các em thường xem xét sự vật hiện tượng trong
mối quan hệ riêng lẻ, đơn giản. Các em quen tư duy cụ thể, bắt chước, dập khuôn
nên gặp bài khó, phức tạp không tích cực suy nghĩ mà chờ sự hướng dẫn của giáo
viên.
Khả năng vận dụng, liên hệ thực tế còn hạn chế, khả năng phân tích, tổng
hợp, so sánh còn yếu.
+ Về đặc điểm tâm hồn: Các em sống hồn nhiên, vô tư, có tình cảm yêu ghét
rõ ràng. Lòng tự trọng cao, bản tính thật thà và có trách nhiệm trong công việc.
Nhưng còn rụt rè, ít nói và lòng tự ti dân tộc cao.
6


- Bên cạnh đó, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng dạy và học
Công nghệ 10 hiện nay do môn này không được học sinh coi là môn học chính, vì
không thi tốt nghiệp, không thi đại học. Từ đó đã hình thành nên suy nghĩ buông
lõng, thả trôi trong ý thức học tập của học sinh.

viên
hướng dẫn

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

- Xây dựng bộ câu hỏi định - Làm việc nhóm để lựa chọn chủ đề
hướng: xuất phát từ nội dung dự án.
học và mục tiêu cần đạt được. - Xây dựng kế hoạch dự án: xác định
- Thiết kế dự án: xác định lĩnh những công việc cần làm, thời gian
vực thực tiễn ứng dụng nội dung dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương
học, ai cần, ý tưởng và tên dự pháp tiến hành và phân công công v
án.
iệc trong nhóm.
- Thiết kế các nhiệm vụ cho HS: - Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng
làm thế nào để HS thực hiện tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án.
xong thì bộ câu hỏi được giải - Cùng GV thống nhất các tiêu chí
quyết và các mục tiêu đồng thời đánh giá dự án.
cũng đạt được.
- Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ
GV và HS cũng như các điều
kiện thực hiện dự án trong thực
tế.

- Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá - Phân công nhiệm vụ các thành viên
HS trong quá trình thực hiện dự trong nhóm thực hiện dự án theo
án
đúng kế hoạch.
- Liên hệ các cơ sở, khách mời - Tiến hành thu thập, xử lý thông tin

- Tự đánh giá sản phẩm dự án của
nhóm.
- Đánh giá sản phẩm dự án của các
nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra.

♦ Cách thức tổ chức và giải pháp thực hiện cụ thể
* Tên dự án: Thuyết trình một số khái niệm trong kinh doanh
* Phạm vi: bài 49: Bài mở đầu.
- Lớp thử nghiệm: 10A1
- Lớp đối chứng: 10A2
* Nội dung: Nội dung của dự án là tìm hiểu các khái niệm liên quan tới kinh doanh
và doanh nghiệp dựa vào kiến thức sách giáo khoa, tham khảo thêm kiến thức
ngoài sách giáo khoa nhằm hiểu rõ và rộng hơn về bài học đồng thời có liên hệ thực
tiễn cuộc sống bằng các ví dụ cụ thể.
* Cách thức tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu học sinh tìm hiểu
kiến thức sách giáo khoa và các nguồn tài liệu khác trình bày một số kiến thức về
kinh doanh. Cụ thể:
- Nhóm 1: tìm hiểu khái niệm kinh doanh, cơ hội kinh doanh
- Nhóm 2: tìm hiểu khái niệm thị trường, doanh nghiệp
- Nhóm 3,4: tìm hiểu về công ty.
- Dự án tổ chức theo hoạt động nhóm.
- Các nhóm học tập tổ chức hội thảo tìm hiểu về một số khái niệm kinh doanh và
doanh nghiệp.
- Tổ chức tiến hành tìm hiểu và thiết kế các khái niệm sử dụng công nghệ thông tin
=> Mỗi nhóm tự tìm hiểu kiến thức của nhóm mình, đồng thời đọc hiểu các
kiến thức sách giáo khoa để có thể hỏi đáp thắc mắc giữa các nhóm. Bài tập thuyết
trình hoàn thiện bằng cách sử dụng công nghệ thông tin.
♦ Cách thức đánh giá
- Học sinh được đánh giá kết quả dựa vào quá trình làm việc nhóm (phụ lục)
và trình bày kết quả thuyết trình (phụ lục).

thuyết trình dựa trên tiêu trí sáng tạo và sự hiểu bài của các bạn dưới lớp”. Tuy
nhiên, các em cũng thảo luận sôi nổi, có nhiều ý kiến sáng tạo khi giáo viên công
bố kết quả của bài báo cáo nếu tốt sẽ được cộng điểm cho bài kiểm tra 1 tiết.
Với bài 52: Các em thảo luận nhóm rất sôi nổi, học sinh cùng tranh luận,
cùng đưa ra những ý kiến. Mỗi bạn có một ý tưởng cho dự án kinh doanh này.
Chính trong quá trình này sự hứng thú của các em cũng tăng lên. Không những vậy,
khi học sinh được học tập thông qua thảo luận nhóm các em không bị gò bó, mỗi
học sinh có thể đưa ra nhiều ý kiến.
* Khi thực hiện dự án, các lớp thử nghiệm có thái độ học tập và sự tham gia
xây dựng bài của HS rất tốt, không khí thoải mái, trật tự và rất tự nhiên, không bị
gò bó áp đặt. Các em chú ý theo dõi của các nhóm khác.
Với bài 49: Vì là lần đầu tiên các em thuyết trình trước lớp một kiến thức
mới nên giáo viên cho các em tự chọn người người thuyết trình cho nhóm. Do đó,
các em hầu hết rất tự tin. Một số slide được các em trang trí đẹp mắt, hình ảnh minh
họa tốt tạo nên hứng thú cho buổi học.
Với bài 52: Việc một số hình ảnh và video được các nhóm ghi nhận lại trong
quá trình thực hiện dự án tạo nên sự tò mò về công việc kinh doanh của các nhóm.
Bên cạnh đó, một số sản phẩm được các em tự làm cũng tạo hứng thú cho các bạn.
Học sinh cả hai lớp với thái độ nghiêm túc, sự tự tin, nét mặt vui cười và
cùng với những tràng vỗ tay đã làm cho không khí lớp học càng sôi động hơn,
9


khích lệ cho các nhóm dù tốt hay không tốt đều giúp các em phấn đấu hơn nữa
trong học tập.

Qua tiết học, người nghiên cứu nhận thấy mức độ hứng thú của HS
khi tham gia học tập bằng hình thức dạy học dự án là khá tốt, thể hiện qua nét vui
tươi, không khí học tập sôi nổi, tập trung chú ý tốt đến nội dung bài báo cáo của
nhóm thuyết trình và thể hiện thái độ tích cực trong việc đưa ra câu hỏi và giải đáp

2.4.3. Phát triển kỹ năng trình bày trước tập thể, kỹ năng làm việc
nhóm.
* Kỹ năng trình bày trước tập thể.
Kỹ năng trình bày trước tập thể bao gồm kỹ năng thuyết trình báo cáo và kỹ
năng trả lời câu hỏi trước tập thể.
Quan sát chung người nghiên cứu thấy rằng về phong cách trình bày: mỗi
nhóm đem lại một cách riêng để thể hiện do sự chuẩn bị từ trước như sau:
10


- Phân chia nhau thuyết trình mỗi nội dung
- Một người trình bày và 1 bạn trợ giúp kế bên.
- Nhóm chỉ một người trình bày toàn bộ, không có sự trợ giúp
Người
nghiên cứu ghi
nhận
được
phần lớn các em
khi báo cáo
thuyết trình đều
có thái độ
khá
tự
tin,
nghiêm túc,
tự nhiên và cố
gắng
để
truyển tải đầy
đủ nội dung

Các nhóm tham gia làm bài thuyết trình và cuộc thi kinh doanh ngày 8/3 đã
thể hiện cách làm việc của mình khá tốt, tham gia tích cực của các thành viên. Bên
cạnh đó, một số thành viên đặc biệt các bạn nam chưa có sự tích cự trong suốt quá
trình.

Nhìn nhận chung về kỹ năng làm việc nhóm của HS, dù vẫn còn tồn
tại vài khuyết điểm, song các em HS đã thể hiện sự cố gắng của nhóm và mỗi thành
viên đã tự hình thành được kinh nghiệm, kỹ năng làm việc qua kết quả đạt được
cũng như góp ý từ GV.
2.4.4. Kết quả thu thập qua phiếu điều tra sau khi học sinh tham gia học
tập với phương pháp dự án.
Để thăm dò hứng thú học tập của HS, sau khi học xong tiết học tôi đã tiến
hành phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh lớp 10A1 (sĩ số: 30); 10A2 (sĩ số 39). Kết
quả thu được như sau:
Câu 1: Đối với môn công nghệ và các môn học khác, các em đã được học với các
phương pháp dạy học nào?
Câu trả lời của cá em thể hiện qua sơ đồ sau

11


Nhận xét: Mặc dù, có rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhưng học sinh
thường xuyên được học một số phương pháp dạy học đó là phương pháp vấn đáp,
thuyết trình kết hợp với bảng đen và phấn (100%). Qua đó, cho thấy đa số giáo viên
còn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống.
Câu 2: Qua tiết học công nghệ 10 có sử dụng phương pháp dự án các em có
cảm thấy hứng thú học tập hay không? Lý do?
Kết quả thể hiện qua sơ đồ sau:

Nhận xét: Qua biểu đồ 2.2 cho thấy đa số HS được khảo sát (79%) cho rằng

0
0

Tỷ lệ(%)
100
0
0
0

Nhận xét: Qua kết quả thăm dò cho thấy 100% HS rất mong muốn được tiếp tục
học các tiết học công nghệ với dự án.
13


2.4.5. Kết quả thu thập qua bài kiểm tra trắc nghiệm sau khi học sinh
tham gia học tập với phương pháp dự án
Sau khi học xong bài thuyết trình 49, giáo viên cho HS kiểm tra nhanh các
câu hỏi trắc nghiệm. Tổng số câu hỏi là 10, trong đó 5 câu hỏi nhận biết, 3 câu hỏi
hiểu, 2 câu hỏi vận dụng. Bài kiểm tra trắc nghiệm được thực hiện tại lớp 10A1
(lớp thử nghiệm - sĩ số 30 HS) và lớp 10A2 (lớp đối chứng dạy theo phương pháp
giáo viên thuyết trình, vấn đáp, sử dụng bảng, phấn - sĩ số 39 HS). So sánh câu trả
lời đúng của HS ở 2 lớp cho thấy kết quả thể hiện biểu đồ sau:
Bảng: Mức độ mong muốn tiếp tục được học bằng PPDA
Số HS trả lời đúng
theo mức độ
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng

Lớp A1

29.41

Nhận xét: Qua bảng trên thấy rằng, với phương pháp dạy học bằng dự án,
học sinh hiểu và nhớ bài tốt hơn. Với mức độ nhận biết hầu hết học sinh lớp thử
nghiệm đều có thể nhớ bài và trả lời đúng các câu hỏi (hơn 90%). Với mức độ
thông hiểu và vận dụng, các câu trả lời đúng của các em có giảm, tuy nhiên cao hơn
so với lớp đối chứng rất nhiều. Điều này có thể lý giải đó là do quá trình chuẩn bị
tìm hiểu trong vòng 1 tuần các em tiếp xúc với kiến thức sau đó nghe các bạn trên
lớp trình bày lại, giáo viên đánh giá và kết luận 1 lần nữa làm cho các em có thể
nhớ và hiểu kiến thức tốt hơn. Bên cạch đó, đặc điểm học sinh của lớp A1 theo thực
tế của HS khối 10 có phần ngoan, và học tập tốt hơn so với học sinh lớp đối chứng
A2.
2.4.6. Kết luận chung về thực nghiệm
Qua tiết dạy thử nghiệm phương pháp dạy học dự án, với các lớp đối chứng
dạy bằng phương pháp vấn đáp, thuyết trình kết hợp với bảng phấn nhận thấy nhiều
ưu điểm của phương pháp dự án so với phương pháp dạy học thông thường.
Sau khi thử nghiệm giảng dạy bằng phương pháp dự án cho các lớp tôi đã
nhận thấy kết quả đạt được đối với các em như sau:
- Hứng thú học tập của học sinh cao hơn, hoạt động thảo luận sôi nổi hơn và
hiệu quả cao hơn, thể hiện thái độ tích cực, phấn khởi tham gia vào tiết học. Các
em đã thể hiện mức độ phát triển tư duy của mình là khá tốt, các em đã vận dụng
hiệu quả kiến thức vào thực tiễn.
- Tăng cường thêm một số kỹ năng hoạt động học tập cho HS như quan sát,
phân tích, tổng hợp, so sánh, kỹ năng làm việc nhóm và trình bày một vấn đề trước
tập thể khá tốt, các em đã tự tích lũy thêm những kỹ năng mới.

14


- HS đã biết tự rút kết kinh nghiệm từ những hạn chế của mình để rèn luyện

xuyên tổ chức tham quan để các em tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tế.
- Đối với giáo viên cần bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường
sử dụng những PPDH tích cực trong dạy học. Không ngừng nâng cao kỹ năng sử
dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học. Ngoài ra người GV luôn thu
thập tìm kiếm thông tin xã hội để đưa ra những chủ đề cho dự án phù hợp với thực
tiễn. Khi tiến hành áp dụng PPDA để dạy học, người GV cần xác định điều kiện
thực tế ở địa phương để linh hoạt trong cách tổ chức dự án hiệu quả.
- Đề tài được tiến hành trong thời gian và điều kiện nghiên cứu có giới hạn nên
có nhiều hạn chế và thiếu sót, người nghiên cứu rất mong được sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô.
15


- Nếu được nghiên cứu tiếp tục, có thể phát triển đề tài theo các hướng sau: Việc
thử nghiệm mới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ một vài lớp, nếu có thể nghiên cứu ở
nhiều trường khác nhau ở các cấp độ khác nhau sẽ đánh giá được hiệu quả sâu sắc
của phương pháp dạy học theo dự án.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 nănm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Lê Thị Hồng Gấm

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status