MỤC LỤC
TT NỘI DUNG TRANG
1 Phần thứ nhất: Đặt vấn đề 3
2 Phần thứ hai: Giải quyết vấn đề 4
3 1- Cơ sở lý luận 4
4 2- Thực trạng của vấn đề 5
5 3- Giải pháp tổ chức thực hiện 7
6 4- Kiểm nghiệm về hiệu quả 13
7 Phần thứ ba: Kết luận và đề nghị 15
8 Phần phụ lục 16
2
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn Công nghệ lớp 10 có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức khoa học
cơ bản, có tính ứng dụng cao vào thực tế đời sống cho các em học sinh, đặc biệt
là học sinh vùng nông thôn (qua đó trở thành một kênh truyền tải kiến thức tới
người nông dân, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất
nước mà hiện nay đang được thể hiện qua việc đẩy mạnh xây dựng “Nông thôn
mới” trên khắp cả nước). Tuy nhiên, môn học Công nghệ đã và đang được coi
là môn học phụ, do đó không có được sự quan tâm, chú ý của học sinh. Vì vậy,
việc tạo hứng thú học tập cho học sinh và đưa kiến thức khoa học đi vào thực tế
cuộc sống là yêu cầu mà mỗi giáo viên giảng dạy môn Công nghệ 10 cần phải
quan tâm nghiên cứu giải quyết.
Chương 1 môn Công nghệ 10 gồm các nội dung: Giống cây trồng, Đất
trồng, Phân bón và Bảo vệ thực vật. Nếu giáo viên không được đào tạo chuyên
ngành sư phạm kỹ thuật hoặc không chịu khó nghiên cứu tìm hiểu sẽ cho rằng
các nội dung này không có sự gắn kết, bổ trợ lẫn nhau. Qua thực tế giảng dạy
một số năm và qua tìm hiểu ở các đơn vị bạn, tôi thấy nếu không có sự kết nối
kiến thức giữa các nội dung trên sẽ dẫn tới một số hạn chế cả về kết quả tiếp thu
kiến thức, ý thức học tập và định hướng ứng dụng vào thực tế đối với học sinh.
Với phương châm vừa đạt mục tiêu giáo dục vừa phù hợp với điều kiện
thực tế của nhà trường và tăng khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế sản xuất
bệnh – cây trồng, đồng thời biết được ưu nhược điểm của các phương pháp
trồng cây truyền thống và hiện đại, từ có có hướng nhìn mới về nền nông nghiệp
nước nhà trong tương lai gần.
4
2- Thực trạng của vấn đề:
Trong nội dung chương 1, chỉ có 2 bài nói về đất trồng (trong đó có 1 bài
thực hành xác định độ chua), với những kiến thức của bài 7 “Một số tính chất
của đất trồng”, học sinh chỉ mới hiểu được phần nào về vai trò của đất đối với
trồng trọt mà chưa hiểu được mặt hạn chế của đất, vì trong đất có chứa sẵn
nguồn sâu, bệnh hại cây trồng (đặc biệt là nhóm giun tròn ký sinh thực vật). Vì
vậy khi giảng dạy các bài 14, 15 và 16 nếu giáo viên biết kết hợp các nội dung
kiến thức sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều nội dung và cung cấp nhiều kiến thức bổ
ích, có tính thực tiễn rất cao trong cuộc sống, tạo nên sự ham thích cho học sinh
khi học tập.
Về nội dung bài 14 “Thực hành trồng cây trong dung dịch”, tôi đã có sáng
kiến kinh nghiệm: “Làm dụng cụ và cải tiến cách dạy bài 14: Thực hành trồng
cây trong dung dịch” được xếp loại B cấp tỉnh năm 2010. Phải khẳng định rằng,
trong tương lai không xa, phương pháp thủy canh sẽ được ứng dụng rộng rãi
trong sản xuất và đời sống (Hiện nay, ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà
Nẵng, TP Hồ Chí Minh và một số nơi khác, đã có nhiều hộ gia đình lắp đặt hệ
thống thủy canh quy mô nhỏ để tự túc nguồn rau sạch cho bữa ăn hàng ngày.
Như vậy chắc chắn sẽ có một số học sinh có được những hiểu biết cơ bản về
phương pháp này). Phương pháp này có ưu điểm quan trọng nhất đó là không có
nguồn sâu bệnh hại như ở trong đất, từ đó giúp bảo toàn bộ rễ, giúp cho cây
trồng tăng tuổi thọ, tăng năng suất và chất lượng gấp nhiều lần so với cây trồng
trên đất. Tuy nhiên do điều kiện thời gian dạy bài 14 không đủ để giáo viên trình
bày thêm quá nhiều lấn sang lĩnh vực Bảo vệ thực vật, nên việc chứng minh ưu
điểm đó cần được giải quyết ở một bài học khác có liên quan.
Về nội dung bài 15 “Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây
trồng, một thực tế đáng buồn là đại đa số học sinh không biết thế nào là sâu, thế
6
3- Giải pháp và tổ chức thực hiện:
Từ thực tiễn của vấn đề, tôi đề ra mục tiêu hướng tới như sau:
+ Bổ sung kiến thức, làm rõ về mối quan hệ giữa đất trồng và nguồn sâu,
bệnh hại cây trồng xét trên khía cạnh đất trồng là môi trường sống.
+ Làm rõ những ưu điểm của phương pháp thủy canh.
+ Từ những bằng chứng hình ảnh, những lý luận khoa học, tạo nên sự
hứng thú, nâng cao khả năng tự học, tự tìm tòi cho học sinh. Đồng thời với
những kiến thức khoa học được cung cấp sẽ hình thành trong tư duy của các em
những kỹ năng cần thiết cũng như nhu cầu ứng dụng vào thực tế đời sống.
Từ việc xác định mục tiêu nêu trên, ngoại trừ bài 14 được thực hiện như
nội dung đã đăng ở sáng kiến kinh nghiệm năm 2010: “Làm dụng cụ và cải tiến
cách dạy bài 14: Thực hành trồng cây trong dung dịch”, tôi đã đề xuất các giải
pháp và tổ chức thực hiện đối với 2 bài học 15 và 16 trong chương 1 như sau:
3.1- Chuẩn bị:
a- Về phương tiện:
+ Phòng học có hệ thống máy tính, máy chiếu Projector, loa ngoài (máy
tính được cài đặt phần mềm FLV-Media Player để chạy các File có đuôi .FLV
được tải về từ trang Youtube.com).
+ Kính hiển vi quang học (Mượn của bộ môn Sinh học), đĩa pêtri, ống hút
b- Về mẫu vật:
+ Mẫu vật cây trồng theo phương pháp thủy canh (được chuẩn bị trước
khoảng 1 tháng cho dạy bài 14, lúc này bộ rễ đã phát triển mạnh). Kèm theo
mẫu vật cây trồng bình thường có bộ rễ đã bị hỏng (có u sần sùi, rễ thối, hỏng).
+ Mẫu vật sâu, bệnh (ngoài những mẫu vật có thể thu thập từ trước như
bài 16 trong sách giáo khoa): Trước khi giảng dạy khoảng 2 ngày, giáo viên tìm
nhổ lấy một số gốc rạ còn tươi (lúa chét), cắt lấy bộ rễ, rửa sạch sau đó dùng kéo
cắt nhỏ từng đoạn 0,5cm cho vào 1 chiếc rây lọc (hoặc túi vải) ngâm lơ lửng
trong 1 cốc to (chậu) nước. Vào giờ dạy, loại bỏ rây lọc, chắt bớt nước phía trên,
sau đó dùng ống hút phần nước ở đáy cốc cho vào đĩa pêtri để quan sát dưới
nhân của sự khác nhau là do đâu?. Sự khác nhau đó dẫn đến kết quả như thế nào
về năng suất, chất lượng của cây trồng?. (Khuyến khích học sinh tìm hiểu trên
8
mạng Internet) để giải thích khi học bài 16. Tiếp đó, giáo viên chiếu clip: Thủy
canh xà lách ở Nhật Bản để học sinh xem, sau đó đặt câu hỏi: Tại sao người ta
lại quấn rễ cây xà lách rồi đóng hộp chứ không cắt bỏ rễ nhằm mục đích gì?
b- Bài 15:
+ Trước hết, giáo viên phải đặt ra câu hỏi: Thế nào là sâu?. Thế nào là
bệnh hại cây trồng?. (Vì thực tế tôi đã kiểm chứng hầu hết học sinh không nhớ
hoặc không biết khái niệm sâu là gì, bệnh là gì và trả lời lẫn lộn). Sau đó mới
giải thích cho học sinh biết các khái niệm cụ thể là:
- Sâu hại cây trồng: là phần lớn các loài côn trùng (6 chân) và một số loài
thuộc lớp hình nhện (8 chân) trong nhóm động vật không xương sống ngành
chân khớp.
- Bệnh hại cây trồng (Do các đối tượng sinh vật gây ra): Gây ra chủ yếu
bởi các vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, vi rut ) và đặc biệt là nhóm giun tròn ký sinh
ở thực vật (khác với giun tròn ký sinh ở động vật và ở người có kích thước lớn,
giun tròn ký sinh thực vật hầu hết có kích thước rất nhỏ chỉ nhìn thấy dưới kính
hiển vi quang học).
+ Khi dạy phần I – Nguồn sâu bệnh hại: Giáo viên có thể cho 1 số học
sinh lên quan sát trên kính hiển vi để thấy giun tròn ký sinh gắn liền với đất
trồng và có trong cây trồng. Sau đó đặt ra câu hỏi: Như vậy, trong phần lớn các
cây giống (cây con kèm theo bầu đất – VD: Nhãn, vải, xoài, hồng xiêm v.v )
được chúng ta mua về từ nơi khác chắc chắn có nguồn sâu, bệnh hại, mà như
các em đã thấy chủ yếu là giun tròn. Vậy ta phải làm gì để loại bỏ được giun
tròn?. Sau khi học sinh trả lời, giáo viên bổ sung và khẳng định: Phải thay thế
đất ươm cây bằng loại giá thể khác (Ví dụ như hỗn hợp, xơ dừa + mùn cưa +
trấu, rơm rạ mục trộn phân bón hiện được sử dụng phổ biến ở các tỉnh phía
Nam để làm bầu ươm cây giống, sản phẩm đã có bán ở địa phương Thanh Hóa
là cây giống mít Viên Linh), đảm bảo loại bỏ hoàn toàn giun tròn và một số loại
thức phòng trừ loại sâu hại này ở địa phương còn rất kém.
10
Từ quan điểm lý luận trên, tôi đã cải tiến cách dạy học bài 16, sử dụng hệ
thống máy tính + Projector và kính hiển vi thay cho việc quan sát mẫu như trong
sách giáo khoa với tiến trình giảng dạy như sau:
BÀI 16 – THỰC HÀNH: NHẬN BIẾT MỘT SỐ LOẠI SÂU BỆNH HẠI CÂY TRỒNG
(Tiết thứ: 16 - PPCT)
A- MỤC TIÊU: Khi học bài này, học sinh cần:
1- Kiến thức: Nhận biết một số loại sâu bệnh hại phổ biến trên đồng
ruộng. Liên hệ với các nội dung bài học trước để tìm tòi kiến thức mới.
2- Thái độ: Có ý thức học tập nghiêm túc, có ý thức trong việc phòng trừ
sâu bệnh trong thực tế.
3- Kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích.
B- PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
1- Chuẩn bị của giáo viên:
+ Máy chiếu Projector
+ Hình ảnh sâu bệnh (Slide Power point và Clip).
+ Kính hiển vi quang học, đĩa pêtri, ống hút
+ Mẫu vật: Các mẫu vật sâu, bệnh sưu tập được
C- PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU:
* Thực hành trực quan, vấn đáp tìm tòi.
* Thuyết trình.
D- TIẾN TRÌNH BÀI HỌC:
Bước 1: Ổn định tổ chức, kiểm tra sỹ số.
Bước 2: Kiểm tra bài cũ:
* Có những nguồn sâu, bệnh nào gây hại cho cây trồng?.
* Điều kiện khí hậu, đất đai có ảnh hưởng như thế nào đến phát
sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây trồng?.
Bước 3: Giới thiệu và dạy bài mới.
Nội dung 1: Giới thiệu đối tượng Rầy nâu:
sinh tự nghiên cứu và đưa ra kết luận về ưu điểm của phương pháp thủy canh so
với phương pháp trồng cây trong đất. Giáo viên cũng giải thích luôn việc quấn
12
rễ cây xà lách rồi đóng hộp nhằm mục đích lấy rễ cây để chứng minh đó là xây
trồng thủy canh chứ không phải cây trồng trong đất (Vì chỉ có rễ cây trồng thủy
canh mới dài và trắng như vậy).
Nội dung 4: Giới thiệu đối tượng Ruồi đục quả:
+ Giáo viên chiếu hình ảnh liên quan, yêu cầu học sinh quan sát, liên hệ
với mục I bài 15 và thực tế địa phương để trả lời các câu hỏi: Em có nhận xét gì
về mức độ gây hại của Ruồi đục quả?. Hiện nay ở địa phương em, người ta
phòng trừ Ruồi đục quả như thế nào, có những hạn chế gì cần khắc phục?.
+ Sau khi học sinh trả lời, giáo viên bổ sung và khẳng định để trừ Ruồi
đục quả cần phải:
- Tiêu hủy (chôn lấp) các quả, các phần quả có chứa trứng, ấu trùng
của Ruồi đục quả, không vứt bừa bãi.
- Sử dụng các loại bẫy bả (thay thế cho việc phun thuốc hóa học) để
diệt trừ nhằm đảm bảo hiệu quả tiêu diệt và đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường.
Bước 3: Hướng dẫn về nhà:
* Hoàn thiện kiến thức bài đã học; Chuẩn bị ôn tập học kỳ 1
4- Kiểm nghiệm về hiệu quả:
Qua triển khai áp dụng đề tài nghiên cứu trong năm học 2012 - 2013, so với
các năm học trước tôi thấy:
- Cách dạy – học theo hướng dẫn trong sách giáo khoa và sách giáo viên đã
không cung cấp đủ kiến thức cần thiết cho học sinh, học sinh tuy cũng chủ động
trong việc tìm tòi, tiếp nhận kiến thức nhưng ở trạng thái “chấp nhận miễn
cưỡng” sự hứng thú tìm tòi có nhiều hạn chế, chưa phát triển tư duy logic cho
học sinh trong việc kết nối và vận dụng các kiến thức của những nội dung khác.
- Cách dạy – học kết nối của đề tài ngay từ đầu đã tạo nên sự hứng thú đối
với học sinh, các vấn đề đưa ra đã thu hút học sinh chú ý tìm hiểu và giải thích
nguyên nhân. Đồng thời, việc cung cấp thêm một lượng thông tin bổ ích đã cuốn
được cấp để nâng cao chất lượng giảng dạy như mục tiêu mà đề tài này đặt ra.
Tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương mà bổ sung những đối tượng sâu bệnh
khác để bài dạy bám sát với thực tế, có tính ứng dụng cao.
3- Có thể chuyển đổi lịch giảng dạy theo trình tự các bài: bài 15 bài 16
bài 14. Như vậy tự bản thân học sinh có thể lấy kiến thức đã học ở bài 15 và
bài 16 để chứng minh cho bài 14 mà không cần giáo viên phải hướng dẫn, gợi ý.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tĩnh Gia, ngày 18 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép của người khác.
Nguyễn Duy Thành
PHẦN PHỤ LỤC
15
I- HÌNH ẢNH:
II- TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1- Giáo trình bộ môn Bảo vệ thực vật – Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội.
16
Bộ rễ cây trồng trong dung dịch thủy canh
Bộ rễ cây trồng trong đất bị Giun tròn gây hại
Hình ảnh các khối u ở rễ cây do giun tròn gây ra
Hình ảnh Giun tròn trong rễ cây
Tiêu bản nhuộm màu giun tròn trong rễ cây
2- Giáo trình Bệnh cây Chuyên khoa (chủ biên: Vũ Triệu Mân, Trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội, năm xuất bản: 2007)
3- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10
trung học phổ thông môn Công nghệ - NXB Giáo dục, 2006.
4- Sách hướng dẫn giáo viên môn Công nghệ 10.
5- http://www.youtube.com/watch?v=Qf8oGjqyXFc.
6- http://www.youtube.com/watch?v=z03IIgMRjPA.
7- http://www.google.com.vn