SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG TRUNG HỌCMỤC
PHỔLỤC
THÔNG LÊ HỒNG PHONG
1. MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................2
1.4.1. Phân tích, tổng hợp ............................................................................2
SÁNG
KIẾN
NGHIỆM
1.4.2. Khảo sát thực
tế, phân
loại KINH
................................................................2
2. NỘI DUNG ......................................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận ..............................................................................................3
2.2. Thực trạng về áp lực trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ...............3
2.3. Những giải pháp đã sử dụng nhằm giảm áp lực cho học sinh trung học
phổ thông...............................................................................................................5
“GIẢI TỎA ÁP LỰC TRONG HỌC TẬP VÀ TRONG ĐỜI
2.3.1. Giáo viên chủ nhiệm thiết kế hoạt động của tập thể lớp, trở thành
SỐNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA
chuyên gia tâm lí của học trò ...............................................................................5
HOẠT
ĐỘNG
CỦA
1.1. Lí do chọn đề tài
Từ xa xưa, cha ông ta rất coi trọng việc học. Chính vì học tập được tiếp
nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, luôn có sự kế thừa và tinh thần sáng tạo nên
nhân loại đã tích lũy được kho tàng kiến thức khổng lồ về tự nhiên, xã hội.
Không những vậy, kiến thức đó đã và đang được vận dụng để chúng ta được
sống trong thế giới văn minh hơn, hiện đại hơn.
Không ai có thể phủ nhận được vai trò của sự học. Ở bất cứ thòi đại nào,
đối với một cá nhân, học cũng là nền tảng của hiểu biết, văn hóa và nhân cách.
Tục ngữ xưa có câu: “Dao có mài mới sắc, người có học mới khôn”. Không học
mỗi cá nhân chỉ là công trình gọt đẽo thô sơ của tạo hóa. Nói đến học là nói đến
một trí lực, một năng lực tư duy và năng lực thẩm thấu những kiến thức về tự
nhiên xã hội được kế thừa của thế hệ đi trước. Mặt khác, việc học không chỉ định
giá năng lực của bản thân mà học còn để thẩm thấu gía trị về đạo đức chuẩn mực
xã hội không thể thiếu trong hành trình hoàn thiện của mỗi con người.
Như vậy trong thực tế việc học có vai trò quan trọng đối với sự thành đạt
trong cuộc đời của mỗi cá nhân. Bởi vai trò quan trọng ấy mà áp lực trong việc
học cũng rất lớn, nhất là đối với học sinh THPT. Bắt đầu từ thời tiểu học, trung
học cơ sở mục tiêu học đối với mỗi học sinh chỉ dừng lại ở tiếp thu, tạo nền kiến
thức cho cấp học cao hơn. Khi học ở cấp THPT, nội dung kiến thức các môn học
được nâng cao và mở rộng, đòi hỏi mỗi học sinh phát huy cao độ trí lực. Học ở
thời kỳ này không chỉ để làm phong phú hiểu hiết nữa.Mà học phải vận dụng để
đáp ứng yêu cầu của mỗi kỳ thi. Học sinh THPT sẽ phải trải qua kỳ thi THPT
quốc gia, để lấy bằng tốt nghiệp 12 và xét tuyển vào các trường đại học. Đây là
kỳ thi có tính chất bước ngoặc trong cuộc đời của mỗi học sinh, có tham gia vào
việc quyết định vận mệnh tương lai của mỗi cá nhân. Nếu định hướng đúng đắn
vượt qua được áp lực của học tập và thi cử, bản thân sẽ có cơ hội có cuộc sống
tương lai tươi sáng. Nếu ngược lại việc học sẽ trở thành gánh nặng, vô hình trở
thành nguyên nhân gây nên những hậu quả nặng nề như học sinh bị trầm cảm,
hành động tiêu cực dại dột sai lầm đáng tiếc. Trong thực tế đã có những học snh
tự tự nhằm giải thoát cho bản thân hoặc chết, hoặc mang bệnh lí cả đời.
1.4.1. Phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp quan trọng được sử dụng nhiều trong đề tài khoa
học. Từ phương pháp này đề tài sẽ nêu ra được những phương diện lợi ích của
hoạt động ngoài học tập qua phân tích, minh họa. Đồng thời tránh được những
chủ quan, cảm tính khi đưa ra những nhận xét, đánh giá.
1.4.2. Khảo sát thực tế, phân loại
Tác giả của đề tài thực hiện khảo sát, phân loại đề cập đến những hoạt
động cụ thể giảm áp lực tâm lí học tập của học sinh. Phương pháp này được sử
dụng như sự hỗ trợ đắc dụng cho các phương pháp trên. Bằng khảo sát, phân
loại đề tài, người viết sẽ đi đến tìm được những kết luận vững chắc tạo, tính
thuyết phục trước những kết luận.
2
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Học sinh rất cần nhận thức về tầm quan trọng của việc giải tỏa áp lực tâm
lí trong cuộc sống nói chung và trong học tập nói riêng. Đây không chỉ là vấn đề
trước mắt mà còn là vấn đề lâu dài, có ý nghĩa then chốt trong quá trình chung
sống và trưởng thành an toàn trong cuộc đời mỗi con người.
Môi trường gắn bó với học sinh THPT là cái nôi gia đình và trường học.
Ở trường học nhiệm vụ chính của các em là học tập các môn khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội. Nội dung chương trình của 11 môn học khá phong phú, mỗi
môn có đặc trưng riêng mà năng lực của mỗi học sinh luôn có giới hạn. Có
những học sinh đáp ứng được yêu cầu của các môn tự nhiên như Toán, Lí, Hóa
nhưng lại học bình thường ở những môn xã hội và ngược lại. Số học sinh có lực
học đều ở mức khá, giỏi không nhiều, ngay cả ở những khối đặc trưng A, B, C,
D... cho sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Nhưng kết thúc mỗi kỳ học, mỗi
năm học, mỗi học sinh đều phải chính tỏ năng lực của mình bằng điểm số của
muốn muốn thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ, mong muốn tự do lựa chọn.
Đơn giản là lưa chon theo sở thích. Có khi là gu thẩm mỹ, gu âm nhạc, có khi là
môn học yêu thích và kết thân bạn bè. Trong những sự lựa chọn trên không hẳn
sự lựa chọn nào cũng đúng đắn, đặt biệt là giao kết bạn bè, trong đó có những
người bạn khác giới. Không thể phủ nhận ở độ tuổi này, học sinh THPT đã có
những xúc cảm, những rung động cảm tính với người bạn khác giói, chấp nhận
mối quan hệ cao hơn tình bạn là tình yêu. Bởi còn thiếu sự trải nghiệm, nhận
thức chua sâu sắc nên có quyết định này của các em tiềm ẩn nguy cơ rủi. Vì vậy
không được sự đồng thuận của các bậc phụ huynh. Hầu hết cha mẹ đều có tâm
trạng lo lắng, cảm thấy bất an khi con mình đang cắp sách đến trường mà bước
vào mối quan hệ yêu đương, sẽ khiến các em học hành sa sút. Đây chính là
nguyên nhân dẫn đến những xung đột trong gia đình. Như vậy những căng thẳng
và áp lực không thể tránh khỏi.
Nhìn nhận một cách khách quan thì học sinh THPT thường phải chịu áp
lực tâm lí từ chuyện học hành xuất phát từ đòi hỏi của xã hội hiện đại và tâm
nguyện của gia đình. Xã hội hiện đại, luôn có sự cạnh tranh đồng thời coi trọng
bằng cấp. Phần nhiều cha mẹ đều quan niệm có học vấn là cách hữu hiệu để
thóat ra khỏi tình trạng nghèo trong tương lai. Khi con cái đạt được học vấn
cũng là khi cha mẹ đạt được kỳ vọng, tự hào với mọi người xung quanh. Trước
sự kỳ vọng ấy của bậc phụ huynh, một học sinh đã viết trên diễn đàn: “Áp lực
thi cử, áp lực điểm số, áp lực giữa việc đỗ và trượt, cảm giác lo lắng và sợ hãi
nhiều lúc mình phát điên lên”. Khi kết quả học tập không được như mong muốn
của cha mẹ, học sinh thường dễ rơi vào tâm trạng chán nản, tự ti, mặc cảm về
chính mình. Áp lực lớn này từ gia đình dễ làm cho học sinh bị khủng hoảng tâm
lí, dẫn đến hành vi tiêu cực. Ngày càng gia tăng số lượng học sinh phải nhập viện
để điều trị tâm lí vì căng thẳng trong học tập. Đáng tiếc là những học sinh bị
stress, trầm cảm vì học tập không được quan tâm và điều trị kịp thời dẫn đến
quyết định tìm đến cái chết tự giải thoát cho mình. Cái chết của các em là nỗi đau,
nỗi ân hận khôn cùng cho các bậc phụ huynh, đồng thời cũng trở thành nỗi ám
ảnh, day dứt của thầy cô và bạn bè. Gần đây nhất trang báo mạng Tuổi trẻ online
và những kinh nghiệm được rút ra từ những tình huống của đời sống mà mình
quan sát, thấu hiểu hay từ những cuốn sách bổ ích của nhân loại. Vì vậy, rất cần
ở chủ nhiệm lớp các phẩm chất nhiệt tình, tận tâm, nắm bắt tâm lí giỏi, có khả
năng xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể trong những giờ sinh hoạt lớp và
những hoạt động ngoài giờ lên lớp. GVCN phải vừa là thầy vừa là bạn của học
trò, biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn của các em, là tấm gương sáng
cho HS noi theo.
Năng lực của GVCN đầu tiên được thể hiện ở việc chuyên tâm lựa chọn
cán bộ lớp, cán bộ đoàn, đặc bệt là vị trí lớp trưởng và bí thư đoàn. Đó là những
bạn học sinh được các bạn trong lớp tin yêu, nể phục về năng lực, ý thức học tập
và nhân cách. Đó là những học sinh hội tụ được phẩm chất: trung thực, sáng tạo,
có khả năng điều khiển được lớp học trong giờ sinh hoạt 15 phút, sinh hoạt cuối
5
tuần. Cùng với việc hình thành đội ngũ cán bộ lớp thì giáo viên chủ nhiệm cần
phải soạn thảo và phổ biến nội quy lớp trên cơ sở nội quy trường. Nội quy lớp là
sự cụ thể hoá chi tiết nội quy trường cho từng yêu cầu đến từng học sinh, đồng
thời phải có quy định thưởng phạt công minh. Việc học sinh thực hiện nghiêm
túc hay chưa nghiêm túc và đầy đủ nội quy lớp là cơ sở chủ yếu để giáo viên chủ
nhiệm xếp loại hạnh kiểm của học sinh cho từng tuần học, từng tháng, từng học
kỳ. Nội quy lớp có thể mở rộng thêm những quy định hướng đến thống nhất việc
xây dựng cơ sở vật chất thực hiện văn hóa đọc. Trước khi đi vào thực hiện, nội
quy lớp cần phải được phổ biến trong cuộc họp phụ huynh đầu năm học. Làm
như thế, giáo viên chủ nhiệm sẽ nhận được ý kiến đóng góp quý báu và sự đồng
thuận, ủng hộ nhiệt tình của phụ huynh học sinh.
Tất cả đó là bước hoàn tất làm nền tảng để xây dựng hoạt động thiết yếu
hướng đến mục đích định hướng hoạt động nhằm giảm áp lực cho học sinh lớp
chủ nhiệm.
2.3.1.2. Giáo viên chủ nhiệm trong vai trò chuyên gia tâm lí của học trò
Giáo viên chủ nhiệm không chỉ là người tư vấn, chịu trách nhiệm về sự vận hành
của tập thể lớp mà còn phải trở thành chuyên gia tâm lí tháo gỡ mọi khúc mắc,
áp lực của học sinh trong học tập và đời sống. Đòi hỏi này xuất phát từ yêu cầu
mới của ngành giáo dục nhưng vẫn hướng đến mục đích cuối cùng là góp phần
hình thành tri thức, kỹ năng và nhân cách ở học sinh.
2.3.2. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong giờ sinh hoạt 15 phút
hướng đến giảm áp lực cho học sinh THPT
2.3.2.1. Tác động đến nhận thức của học sinh về chấp nhận áp lực trong
học tập và trong đời sống
Để giờ sinh hoạt 15 phút hằng ngày trở thành hữu ích, bản thân tôi với vai
trò là GVCN đã chủ động trong việc thực hiện kế hoạch lên lớp. Chương trình
sinh hoạt 15 phút cần phải linh hoạt, luôn mới mẻ về nội dung. Vì vậy, tôi tận
dụng quỹ thời gian hằng ngày này một cách hiệu. Tôi tìm hiểu về tác động của áp
lựcở thời điểm hiện tại của học sinh bằng cách cho các em trực tiếp bày quan
niệm về áp lực trong học tập và đời sống, tình huống tạo nên áp lực cho bản thân.
Có thể thấy, các em bày tỏ quan niệm về áp lực đúng nhưng chưa toàn
diện. Vậy trên cơ sở đó, tôi tổng kết, hướng các em đến nhận thức hoàn thiện về
áp lực mà mình phải đối diện và trải qua: Áp lực được hiểu là tất cả những tác
động của công việc, đời sống gia đình, các mối qua hệ khác mang đến cho con
người, Áp lực là một trong những động cơ để con người vươn lên. Nhưng nếu
áp lực quá nhiều sẽ gây ra tình trang căng thẳng (stress) và những hậu quả
nghiêm trọng. Từ đó, tôi nhấn mạnh đến tính hai mặt của áp lực trong học tập
đối với các em học sinh. Mặt tích cực của áp lực có tồn tại và không thể phủ
nhận. Nó tạo ra phản ứng tâm lí theo hướng chiến đấu để vượt qua hay buông
xuôi đầu hàng. Ta tư duy tích cực thì nếu không có áp lực các em sẽ luôn hài
lòng với bản thân, khó vượt qua được cái ngưỡng của bản thân để phát triển tốt
hơn. Thực tế nhiều gia đình có điều kiện kinh tế không tạo áp lực học hành cho
con cái, để các em phát triển tự do theo ý muốn. Như vậy khó tránh được trường
hợp những em này bỏ qua những năng lực tiềm ẩn của mình, càng lên lớp học
cao hơn càng mải chơi, sa vào trò tiêu khiển vô bổ như chơi game, mê truyện
thân, than vãn, ngại tiếp xúc, ăn uống kém, thường gặp cơn ác mộng.
Nếu giáo viên chủ nhiệm chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh nhận diện
những biểu hiện khi bản thân khi phải chịu áp lực thì chưa đủ. Quan trọng hơn
vẫn là phổ biến những biện pháp, hướng xử lí kịp thời.Đối với trường hợp vì áp
lực mà dẫn đến rối loạn cảm xúc ở mức độ nhẹ. Lúc này, các em không được
giấu diếm mà cần phải tâm sự với bố mẹ, thầy cô hoặc những người thân trong
gia đình. Từ những chia sẻ đó các em sẽ nhận được sự động viên, cảm thông của
cha mẹ. Các bậc phụ huynh là người đặt kỳ vọng vào con với tất cả tình yêu
thương. Nhưng nếu vì sự kỳ vọng đó mà con mình rơi vào tình trạng nguy hiểm
8
thì chắc hẳn họ sẽ điều chỉnh mình, để là chỗ dựa cho con được học tập an toàn.
Bên cạch đó, các em có thể trao đổi với thầy cô. Những hướng dẫn, đặc biệt là
sự kết hợp giữa thầy cô và phụ huynh sẽ giúp các em thoát khỏi tình rối loạn
cảm xúc nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Tôi cũng lưu ý đến toàn thể học sinh, trong thực tế, nếu một em nào đó bị
rối loạn cảm xúc ở mức độ nặng. Chắc chắn bản thân khó nhận biết, khó kiểm
soát tình trạng của mình. Như vậy, trách nhiệm của học sinh trong cùng tập thể
lớp, đặc biệt là những em cán bộ lớp, những em ngồi cùng bàn phải thông tin kịp
thời khi bạn mình có biểu hiện tâm lí căng thẳng, bất thường. Trường hợp này,
giáo viên chủ nhiệm không chỉ trò chuyện với học sinh mà cần liên lạc trực tiếp
với phụ huynh để có tư vấn phụ huynh quyết định sang suốt, can thiệp kịp thời.
Lúc này, bản thân học sinh đã mắc bệnh lí nên cần chấp nhận điều trị ở viện theo
phác đồ điều trị của bác sĩ. Căn cứ vào tình trạng cụ thể của từng học sinh, bác sĩ
sẽ kết hợp liệu pháp tâm lí và các thuốc uống hỗ trợ như thuốc chống trầm cảm,
chống loạn thần. Sự hợp tác tích cực sẽ giúp các em nhanh chóng cân bằng cảm
xúc, trở lại với cuộc sống đời thường
2.3.2.3. Tác động đến cách thức biến áp lực thành động lực qua giới thiệu
những tấm gương biết cân bằng tâm lí thành công trong cuộc sống
tuổi với hai chuyên ngành kế toán và lập kế hoạch tài chính.Anh còn viết sách:
Hai cuốn sách “Life without limit” (Cuộc sống không giới hạn) và Unstoppable
(Đừng bao giờ từ bỏ hy vọng). Nhưng sự nỗ lực đã giúp anh trở thành một người
truyền cảm, đi khắp nơi trên thế giới để truyền cảm hứng cho con người khuyết
tật bất hạnh.
Hình ảnh Nick Vujicic trong lần diễn thuyết tại Việt Nam
10
- Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký: sinh năm 1947 quê ở Hải Hậu, Nam Định.
Năm lên 4 tuổi, cậu bé Nguyễn Ngọc Ký gặp cơn bạo bệnh và bị liệt cả
hai tay. Tuy vậy, Nguyễn Ngọc Ký vẫn luôn khao khát được cắp sách đến
trường. Năm lên 7 tuổi, cậu bắt đầu hì hụi tập viết bằng chân. Thời gian đầu việc
tập viết với Ký quả như cực hình.Khó khăn ấy chính là áp lực. Nhưng Nguyễn
Ngọc Ký đã chế ngự áp lực bằng nỗ lực vượt bậc. Kết quả là Ký không những
viết được chữ mà còn vẽ được hình bằng thước và com-pa. Nhờ sự cố gắng
tuyệt vời đó, cậu đã được đi học và học rất giỏi. Hai lần được Bác Hồ tặng Huy
hiệu cao quý. Lên cấp III, Nguyễn Ngọc Ký đã chọn ngành Văn. Năm 1966, ông
nhập học ngành Ngữ Văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký và cố thủ tướng Phạm Văn Đồng
Trong 4 năm học Đại học, dù bệnh tật luôn tạo ra khó khăn song Nguyễn
Ngọc Ký vẫn miệt mài theo đuổi đến cùng. Ông quan niệm: “Xa trường, xa lớp
nhưng không xa sách vở”. Sau tốt nghiệp, Nguyễn Ngọc Ký đã nghe theo lời
khuyên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về Hải Hậu, Nam Định (quê ông)
làm thầy giáo để “dạy các em phấn đấu vượt mọi trở ngại, khó khăn, góp phần
thống nhất nước nhà”.
2.3.3. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong giờ sinh hoạt cuối tuần
(45 phút) giúp học sinh THPT chủ động trước áp lực
Ứng phó, thích nghi với kỳ thi, đặc biệt là những kỳ thi quan trọng
Tôi đặc biệt lưu ý ở học sinh tinh thần chủ động trước mùa thi cử. Để
hoàn thành chương trình học cấp 3, với mỗi học sinh đều phải trải qua thi cuối
học kỳ. Có thể xem mỗi lần thi học kỳ tập trung tại trường học là một lần trải
nghiệm, thử thách tâm lí ứng phó, thích nghi với thi cử của mỗi học sinh. Từ đó,
các em được tôi luyện để tham gia vào kỳ thi THPT quốc gia, quan trọng hơn,
quyết định vận mệnh tương lai. Tôi lưu ý các em hai vấn đề tránh bị áp lực trong
thi cử. Trước tiên phải tuân thủ đề cương ôn tập theo hướng dẫn của thầy cô, có
thái độ rèn luyện chuyên cần, chuẩn bị kiến thức đầy đủ. Nhưng tâm lí của học
sinh khi bước vào phòng thi luôn có ý nghĩa quyết định kỳ thi thành công hay
thất bại. Vì thế, tôi nhấn mạnh vai trò của tâm lí để mỗi học sinh soi vào mình,
kiểm nghiệm chân thật. Học sinh có lực học tốt nhưng nếu lo lắng thái quá sẽ
dẫn đến mất bình tĩnh trước đề thi mắc phải những sai sót. Tất yếu kết quả thi sẽ
không như ý muốn. Như vậy căng thẳng trong mùa thi, một phần xuất phát từ
chính bản thân học sinh. Áp lực, phân vân: Học đã đủ kiến thức chưa? Nhỡ
mình ôn không trúng, điểm kém thì sao? Tự đặt ra cho mình. Những câu hỏi này
12
sẽ làm giảm mức độ tập trung, tốc độ trong quá trình ôn tập. Để không mắc vào
tình trạng này, tôi động viên học sinh phải có niềm tin vào chính mình khi đã ôn
tập theo thời gian biểu khoa học. Niềm tin sẽ bồi đắp cho mỗi người sức mạnh
để chiến thắng nỗi sợ hãi của bản thân. Niềm tin vào bản thân song hành với
phương pháp ôn luyện khoa học, có tâm trạng thoải mái, áp lực sẽ biến mất. Kết
quả thi chắc chắn khả quan hơn mong đợi.
Trong mười hai năm cắp sách đến trường học sinh trải qua nhiều kỳ thi
quan trọng. Ở những kỳ thi của cấp ba, hơn bao giờ hết, các em rất mong chờ sự
quan tâm, động viên thấu hiểu của cha mẹ. Nhưng có một nghịch lí là các em
ngại ngùng khi bày tỏ trực tiếp mong muốn chính đáng ấy với các bậc phụ
huynh.Nhiều em nghĩ bố mẹ phải tự hiểu được dù mình không nói ra. Nhiều bậc
Trước tiên, ngoài giờ học, sinh viên có thể tham gia các hoạt động thể thao như
bóng đá, bóng chuyển, cầu long, hoạt động văn nghệ như hát, múa… Điều đó
giúp các em khám phá và thể hiện năng lực tiềm ẩn của bản thân, mang lại nhiều
ích lợi về sức khỏe. Học sinh năng động hơn cả về thể chất lẫn tinh thần, chủ
động hình thành và học hỏi kỹ năng hợp tác, giao tiếp tự tin trước đám đông.
Bên cạnh đó, khi học sinh THPT được tham gia hoạt động ngoại khóa, các em sẽ
giải tỏa được áp lực, căng thẳng trong việc học tập cũng như trong đời sống.
Trong một năm học, tất cả học sinh THPT đều được tham gia hoạt động
ngoại khóa do nhà trường tổ chức. Đó có thể hoạt động văn nghệ kỷ niệm những
ngày lễ lớn như ngày thành lập Đoàn thanh niên 26/3, ngày hiến chương các nhà
giáo 20/11, ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước 30/4… Những hoạt
động này nằm trong nội dung kế hoạch của nhà trường nên giáo viên chủ nhiệm
có thể chủ động trong việc khuyến khích tư vấn cho học sinh, lựa chọn những
học sinh có khả năng tham gia, còn những bạn khác trong tập thể lớp hỗ trợ,
tham gia góp ý, kích thích khả năng sáng tạo. Cụ thể phân công cụ thể nhóm học
sinh chuẩn bị trang điểm, trang phục, khích lệ tinh thần giúp các bạn mình có
phần thể hiện hay nhất trên sân khấu. Lời ca, tiếng hát, điệu múa hay tinh thần
thể thao vốn là năng lực tiềm ẩn cần được khám phá, đánh thức ở mỗi học sinh.
Từ những hoạt động ngoại khóa, tôi nhận thấy học sinh trong tập thể lớp đoàn
kết, gắn bó, thân thiện với nhau hơn. Các em hiểu ra: cùng với quá trình học tập,
chấp nhận áp lực mà cũng có rất nhiều cơ hội để giải tỏa áp lực đó bằng sự năng
động, nhiệt tình của tuổi trẻ.
Hoạt động văn nghệ của học sinh THPT Lê Hồng Phong chào mừng ngày hiến
chương
Nhà giáo Việt Nam 20/11
14
thành quả giáo dục nhờ có sự phối hợp chặt chẽ với các phong trào khác và đặc
biệt cần hợp tác tích cực với cha mẹ học sinh. Như vậy rất cần sự quan tâm vào
cuộc chủ động của ngành giáo dục để làm phong phú hoạt động của học sinh tại
trường học.
Muốn thực hiện giảm áp lực cho học sinh THPT, bồi dưỡng cho học sinh
kỹ năng thấu hiểu, chia sẻ, hành động thông qua những hoạt động thiết thực của
GVCN, đòi hỏi người GVCN lớp phải là người có uy tín, toàn diện, có năng lực,
dám nghĩ, dám làm đi trước, đề xuất được các vấn đề giá trị, tìm tòi bổ sung
thêm kiến thức đời sống, tâm lí lứa tuổi sẵn sàng trở thành người bạn tâm giao
của học sinh tâm. Niềm vui của giáo viên sẽ được nhân đôi khi học sinh biến áp
lực thành động lực phấn đấu, hoàn thiện bản thân. Đó là nền tảng của sự sinh tồn
và phát triển. Như vậy, bản thân mỗi GVCN cảm thấy mình đã hoàn thành một
phần trách nhiệm sứ trồng người được xã hội giao phó.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Https://dantri.com.vn
2. Https://soha.vn
3. Không ai hiểu con bằng mẹ, Phạm Ngọc Thạch, Nhà xuất bản Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, 2017.
4. Động lực chèo lái hành vi, Daniel H.Pink, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2018.
5. Khoảng trời bình yên cho tuổi teen, Sara Abiol, Nhà xuất bản Thời đại, 2016.
17