1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Rèn luyện kỹ năng sống có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người. Kĩ năng
sống giúp con người có thể đương đầu với thử thách trong cuộc sống và để hoàn
thiện mình hơn. Trong những năm gần đây, chương trình giáo dục của Bộ GD &
ĐT đã hướng đến việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh ngay từ khi còn ngồi
trên ghế Nhà trường và coi đây là một trong những nội dung quan trọng của
chương trình giáo dục phổ thông.
Hiện nay, một bộ phận không nhỏ học sinh (HS) nói chung và HS trường
THPT Lê Lai nói riêng đang sa vào tệ nạn xã hội, hư hỏng, làm ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng học tập, nề nếp của nhà trường. Sự gia tăng những
biểu hiện do thiếu kỹ năng sống như: không thể hiện được khả năng của bản
thân, khó hoà nhập, lúng túng khi xử lý tình huống, hay gây mâu thuẫn, bất hoà
với bạn bè, thầy cô, không kiểm soát được cảm xúc dẫn đến đánh nhau, thậm chí
còn gây ra cả án mạng ....
Nguyên nhân không nhỏ của tình trạng trên là do các em chưa được trang
bị kĩ năng sống một cách đầy đủ, để có thể đương đầu với sự biến động và cám
dỗ trong xã hội hiện nay. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho HS là rất cần
thiết đặc biệt là các em HS lớp 10, các em đang còn bỡ ngỡ khi mới bước vào
môi trường trung học phổ thông.
Thực tế cho thấy việc giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường trung học
phổ thông nói chung và trường trung học phổ thông Lê Lai, huyện Ngọc Lặc
nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, mới chỉ dừng lại ở bộ môn GDCD,
một số buổi sinh hoạt tập thể như hoạt động ngoài giờ lên lớp, các ngày lễ kỉ
niệm lớn trong năm như 8/3, 20/11, 26/3, 19/5. Do vậy, chưa đáp ứng được mục
tiêu của Bộ GD & ĐT.
Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cần có sự phối hợp của gia đình,
nhà trường và xã hội. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng để hoàn
thành mục tiêu này là đội ngũ giáo viên. Đặc biệt là giáo viên chủ
nhiệm(GVCN).
Có thể nói GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa
ý thức bảo vệ, rèn luyện cơ thể, sống lành mạnh tránh xa các tệ nạn xã hội.
- Đạt hiệu quả cao trong phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”
- Đạt được các mục tiêu của giáo dục, đã được định hướng theo bốn trụ
cột: “Học để biết; Học để làm; Học để chung sống và học để làm người”.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đây là nội dung được nhiều người hiện đang rất quan tâm và tất cả các
trường học phổ thông trên cả nước đang thực hiện. Nhưng trong điều kiện hạn
hẹp về không gian điều tra, thực nghiệm nên đề tài chỉ được nghiên cứu và áp
dụng trong học sinh lớp 10A4, trường Trung học phổ thông Lê Lai, huyện Ngọc
lặc, tỉnh Thanh Hóa. Ở đây, cũng nói thêm rằng rèn luyện kỹ năng sống cho HS
trong đề tài này chỉ là nội dung tích hợp vào các hoạt động chứ chưa phải là một
môn học độc lập.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp trải nghiệm
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp trò chơi
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận
Trên thế giới đã tồn tại nhiều khái niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ
năng sống, mỗi định nghĩa, mỗi khái niệm được thể hiện dưới những hình thức
khác nhau. Thông thường, kỹ năng sống được hiểu là những kỹ năng thực hành
mà con người cần để có sự an toàn, cuộc sống khoẻ mạnh với chất lượng cao.
Các quan niệm vê kĩ năng sống:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành
vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử
hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày.
2
đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi
người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”.
Như vậy, kỹ năng sống giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ và hành
động theo hướng tích cực và mang tính xây dựng.
Ở lứa tuổi mới bước vào đời, bắt đầu sống độc lập, làm việc và sẽ có những
va chạm xã hội các em cũng rất cần được trau dồi kỹ năng sống. Theo một
nghiên cứu mới được ngành giáo dục công bố, có trên 95% HS chưa nhận thức
đúng về kỹ năng sống. Từ hiện trạng này cho thấy, việc giáo dục kỹ năng sống
cho HS là rất cần thiết nhằm góp phần đào tạo “con người mới” với đầy đủ các
mặt “đức, trí, thể, mỹ ” “ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” hay “nhân, nghĩa, trí, tín,
dũng, liêm...”. Hồ Chủ Tịch đã từng nói:
“ Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
3
Giáo dục kỹ năng sống chính là định hướng cho các em những con đường
sống tích cực trong xã hội hiện đại trong ba mối quan hệ cơ bản: con người với
chính mình; con người với tự nhiên; con người với các mối quan hệ xã hội. Nắm
được kỹ năng sống, các em sẽ biết chuyển dịch kiến thức “cái mình biết” và thái
độ, giá trị “cái mình nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”…thành những hành động cụ thể
trong thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực và mang tính chất xây dựng.
Tất cả đều nhằm giúp các em thích ứng được với sự phát triển nhanh như vũ bão
của khoa học công nghệ và vững vàng, tự tin bước tới tương lai. Cụ thể là:
- Trong quan hệ với chính mình: Giáo dục kỹ năng sống giúp HS biết gieo
những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động
thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình.
- Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục kỹ năng sống giúp HS biết kính
trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau,
4
- Trường trung học phổ thông Lê Lai đang thực hiện phong trào thi đua
xây dựng“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trọng điểm của phong trào
là rèn luyện kỹ năng sống cho HS thông qua chương trình hoạt động ngoài giờ
lên lớp, các ngày lễ lớn trong năm như 8/3, 20/11, 26/3, 19/5. Đoàn trường đã
tập huấn lớp kỹ năng sống cho Bí Thư, lớp trưởng các chi đoàn vào dịp 26/3.
- Giáo viên đã được tập huấn giảng dạy kỹ năng sống cho HS ở những
khoá tập huấn do Sở GD - ĐT tổ chức. Bản thân cá nhân tôi là giáo viên chủ
nhiệm lớp 10A4, có 15 năm công tác tại trường, đã chủ nhiệm 4 khóa HS, nhận
bằng Thạc sĩ sinh học với đề tài về tâm sinh lí lứa tuổi học sinh. Tôi đã tham gia
các khóa học về kỹ năng sống như: “Đánh thức tiềm năng, khơi nguồn cảm
xúc”, ‘’Kỹ năng xác định giá trị’’, "Kỹ năng kiểm soát cảm xúc’’..., để nâng cao
hiểu biết và tích lũy thêm kinh nghiêm cho bản thân mình cho gia đình và cho
công tác giảng dạy.
- Bên cạnh đó Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm về mặt nề nếp, tổ
chức những buổi gặp gỡ nói chuyện với các em học sinh chưa ngoan, vi phạm nội
quy vào tiết 5 ngày thứ 6 hàng tuần, cuối các kỳ thi khảo sát chất lượng, kiểm tra
học kỳ những HS có điểm thi chưa đạt đại diện Ban giám hiệu trưởng tiếp gặp gỡ,
trao đổi.Nhà trường quan tâm đến cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi cho giáo
viên chủ nhiệm làm tốt vai trò của mình như lắp đặt hệ thống camera để GVCN
có thể quan sát HS và có biện pháp phù hợp trong mọi tình huống
* Về phía học sinh:
- Học sinh khối 10 nói chung và HS lớp 10A4 nói riêng đã được giáo dục
kỹ năng sống từ các cấp học tiểu học và trung học cơ sở.
- Sự phát triển của Internet, công nghệ thông tin đã giúp học sinh hiểu và
hình thành cho mình một số kỹ năng sống thiết yếu.
2.2.2 Khó khăn:
* Về phía giáo viên
động khi tôi mới nhận lớp có đến 30% HS chây lười, ỷ lại. Về các hoạt động bề
nổi: 70% HS thờ ơ, không tham gia, phó thác trách nhiệm cho cán sự lớp và
GVCN. Trong thời kì bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay, phần lớn các em
đều sa vào việc nghiện điện tử, nghiện mạng xã hội như Fcebook, ZaLo.... Nên
ít nhiều ảnh hưởng đến việc học tập và học thêm về kỹ năng sống.
Phụ huynh và HS chỉ quan tâm đến việc học theo khối, một số phụ huynh
mải mê với công việc phó mặc việc dạy dỗ cho thầy cô và nhà trường.
- Kết quả khảo sát đầu năm của nhà trường về 2 mặt:
Bảng 1: Kết quả học lực và hạnh kiểm giữa học kỳ I của lớp 10A4
Sĩ
số
37
Hạnh kiểm
Tốt
10
27.5%
Khá
14
37.85%
TB
9
24.3%
Học lực
Yếu
4
10.8%
7
8
9
10
11
12
Những kỹ năng sống
Kỹ năng ứng phó và vượt qua áp lực
Kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân
Kỹ năng xác lập mục đích cuộc sống
Kỹ năng phân tích tình huống và ra quyết định
Kỹ năng tự nhận thức giá trị bản thân
Kỹ năng kiên định
Kỹ năng quản lý thời gian
Kỹ năng giải quyết xung đột
Kỹ năng lắng nghe và bày tỏ nguyện vọng
Kỹ năng chia sẻ và động viên người khác
Kỹ năng hòa nhập và làm việc nhóm
Kỹ năng phán đoán cảm xúc người khác
Giữa kì I
Cuối kì I
Giữa kì II
4,52
4,33
4,31
chiếm được cảm tình từ phía HS, từ đó sẽ có những biện pháp thiết thực để hoàn
thành nhiệm vụ của mình.
Giáo viên chủ nhiệm phải biết lập được kế hoạch chủ nhiệm cho riêng mình để
có thể giáo dục được kỹ năng sống cho HS. Căn cứ vào kế hoạch của Nhà trường,
Đoàn thanh niên, đặc điểm của lớp, của địa phương GVCN phải lập được cho mình
một kế hoạch cụ thể, chi tiết, khoa học cho từng tuần, từng tháng và trong cả năm học.
Phải biến việc giáo dục kỹ năng sống cho HS thành một thói quen, thành kỹ năng của
mình trong suốt quá trình làm công tác chủ nhiệm.
Giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương cho HS soi vào về đạo đức, lối
sống, hành vi. Có thể nói, để giáo dục được học sinh thì người giáo viên nói
chung và GVCN nói riêng phải là người biết dùng nhân cách của mình để dạy
học sinh “Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Phải là người có tấm lòng
khoan dung, độ lượng, là quan toà mẫu mực trong khi giải quyết tình huống.
GVCN phải là người có năng lực quản lý và năng lực tổ chức. Không phải lúc
nào GVCN cũng ở trên lớp cùng với HS. Do vậy, GVCN phải xây dựng đội ngũ
cán sự lớp có năng lực và trách nhiệm, điều hành một tập thể tự quản. GVCN
còn phải biết ứng xử, giải quyết đúng các mối quan hệ giữa HS đối với HS, giữa
HS với giáo viên, HS với các mối quan hệ ngoài xã hội giữa giáo viên bộ môn
đối với GVCN, giữa GVCN với Đoàn thanh niên, giữa GVCN với cha mẹ HS.
Thầy cô chủ nhiệm phải là cầu nối quan trọng kết nối ba môi trường giáo dục
gia đình, nhà trường và xã hội.
* Những kỹ năng cần giáo dục cho học sinh:
Có rất nhiều kỹ năng cần giáo dục cho HS, trong phạm vi đề tài này và
qua kết quả khảo sát của tôi trên đối tượng cụ thể là học sinh lớp 10A4, tôi xin
đưa ra phương pháp giáo dục một số kỹ năng sống như sau:
7
- Kỹ năng ứng phó và vượt qua áp lực
- Kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân
này sẽ gây ra sự ồn ào, mất trật tự cho các lớp bên cạnh, đặc biệt dễ gây sự nhàm
chán cho một số HS. Do đó yêu cầu GVCN phải làm tốt những việc sau:
- Phải tạo ra một không khí thảo luận cởi mở, tôn trọng lẫn nhau giữa HS
với nhau.
- Vấn đề được đưa ra để HS thảo luận phải phù hợp với lứa tuổi, phải khơi
gợi được khả năng tư duy phê phán, khả năng sáng tạo của HS.
Ví dụ1: Khi giáo dục kỹ năng “tự nhận thức giá trị bản thân”. GVCN cho
HS tiến hành các hoạt động nhóm trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ
* Bước 1: Chia sẻ về tự nhận thức bản thân, giáo viên phát các tờ rơi in
sẵn mệnh đề
- Sở thích của em là gì? (đọc truyện, xem TV, xem bóng đá, nghe nhạc....)
8
- Cuốn truyện/ sách, chương trình TV mà em thích nhất.
- Điểm mạnh và năng khiếu của em là gì?
- Ai là người bạn thân nhất của mình? Người đó như thế nào? Có đặc
điểm gì nổi bật?
- Mình muốn làm nghề gì trong tương lai?
* Bước 2: Giáo viên chia lớp thành những nhóm, yêu cầu nội dung cần
làm: 1 nhóm gồm có 3 người mỗi em tự suy nghĩ và điền vào tờ rơi trong vòng 5
phút, sau đó chia sẻ với những bạn trong nhóm mình, cử một bạn làm đại diện
tiếp nhận những chia sẻ của các thành viên trong nhóm.
* Bước 3: Báo cáo, giáo viên cho đại diện các nhóm trình bày những quan
điểm chung của các thành viên trong nhóm mình, chia sẻ với các nhóm khác?
Ví dụ 2: Khi giáo dục kỹ năng kiên định, trong các buổi sinh hoạt 15 phút
đầu giờ GVCN cho HS tiến hành hoạt động: Tranh luận đôi bên.
* Bước 1: Nêu tình huống: Yêu cầu các em đưa ra các tình huống lôi kéo
của bạn bè hay gặp nhất (hút thuốc, chơi điện tử...).
* Bước 2: Giáo viên chia nhóm phân công nhiệm vụ:
- Cho các em trao đổi, tranh luận với nhau trong vòng 25 phút.
* Bước 3: Báo cáo
- Cử đại diện các tổ đưa ra ý kiến tranh luận của mình trong vòng 20 phút.
* Bước 4: Định hướng của Giáo viên
- Sau khi tiếp nhận ý kiến của HS, GVCN về nghiên cứu.
- Vào các buổi sinh hoạt tiếp theo, GVCN tổng kết và đưa ra nhận xét,
hướng dẫn HS trong cách chọn nghề phải căn cứ vào các yếu tố: Năng lực
bản thân, sở trường, nhu cầu và sự phát triển của xã hội.
* Phương pháp trò chơi:
Phương pháp này mang lại cho HS khả năng giao tiếp, khả năng quyết
định lưạ chọn, kỹ năng nhận xét đánh giá. Tạo không khí vui vẻ, sôi động trong
buổi sinh hoạt.
Tuy nhiên, phương pháp này dễ gây sự lộn xộn trong lớp, gây ồn ào cho
các lớp bên cạnh. Do vậy, GVCN phải chuẩn bị được những trò chơi có nội
dung phù hợp với thời gian ngắn, hấp dẫn, ít gây sự xáo trộn trong tổ chức lớp.
Ví dụ: Khi giáo dục kỹ năng tư duy phê phán, GVCN tổ chức cho HS
chơi trò chơi “cùng nhau viết tiếp câu chuyện” trong vòng 15 phút. Giáo viên
đóng vai trò là người cầm cái( khởi xướng và kết thúc trò chơi)
* Bước 1: Ổn định
- Cho HS đứng thành vòng tròn trong lớp
* Bước 2: Phổ biến luật chơi:
- GVCN ra nhan đề cho câu chuyện như “Tôi học như thế nào”.
- Sau đó GVCN cho một em viết câu mở đầu như “trước tiên tôi học bằng
chính nghị lực của mình”.
- Sau đó chuyền cho các em tiếp theo viết tiếp các câu sau theo logic của
câu trước thành một câu truyện.
- Em nào không viết tiếp được trong thời gian quy định sẽ bị loại khỏi trò
chơi, yêu cầu đứng sang một bên.
- Khi thấy câu chuyện đã đầy đủ nội dung mong muốn, giáo viên chủ
nhiệm chủ động dừng cuộc chơi.
nhau, dẫn đến công việc hoàn thành không đúng kế hoạch. Mặc dù rất bực bội
nhưng tôi không nói gì. Vào buổi sinh hoạt cuối tuần tôi đã gọi lớp phó phụ
trách lao động trình bày lý do, lớp phó cho biết: Một số bạn đến muộn hơn nên
các bạn đến sớm chừa lại phần việc cho các bạn ấy làm. Tôi dùng phương pháp
giáo dục kỹ năng sống “nghiên cứu tình huống”, bình tĩnh kể cho học sinh nghe
mẩu chuyện “ sức mạnh” và nhấn mạnh lời người cha căn dặn con “trong cuộc
sống, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể tự mình làm tất cả mọi việc. Sức
mạnh của chúng ta còn nằm ở những người thân, bạn bè - những người luôn
quân tâm và giúp đỡ ta”. Sau khi kể xong tôi đã hỏi một số HS không đi lao
động và đến muộn? Em không đi làm, hoặc đến muộn thì các bạn phải làm
thay em phần việc đó, em có suy nghĩ gì? Sau đó tôi hỏi một số HS đến sớm?
Nếu lần sau, em có một lý do nào đó mà cũng đến muộn, các bạn cũng chừa lại
phần việc cho em, một mình em làm và công việc không hoàn thành, thì em sẽ
suy nghĩ như thế nào? Quay sang tôi hỏi cả lớp? Nếu muốn công việc hoàn
thành nhanh chóng thì chúng ta phải làm gì?. Thông qua cách này, tôi đã giáo
dục cho HS kỹ năng hợp tác trong cộng đồng và ý nghĩa của sự hợp tác đó. Tôi
vừa phê bình, kiểm điểm được thái độ, tinh thần của HS vi phạm, vừa giáo dục
được kỹ năng cho HS, mà không biến tiết sinh hoạt trở nên căng thẳng.
Ví dụ 2: Để xử lý HS vi phạm nội qui tôi dùng phương pháp “mô hình
mẫu”, tôi dùng ngay chính hành vi ứng xử, giao tiếp của mình để xử lý. Trước
tiên tôi cho HS trình bày nguyên nhân tại sao lại dẫn đến những vi phạm đó, nếu
HS khó nói thì có thể gặp riêng tôi. Qua đó nhẹ nhàng phân tích cho HS vi phạm
cái đúng và cái sai trong hành vi của em, hướng khắc phục, sửa chữa. Nếu lỗi
nặng tôi sẽ áp dụng hình phạt theo nội quy của lớp, nếu lỗi nhẹ tôi có thể cho
qua. Vì vậy, khi HS bị phạt mà vẫn không thấy oan ức, hoặc phản ứng tiêu cực,
mà còn rút ra được kỹ năng khi xử lý tình huống cho mình.
Thứ hai: Thông qua các buổi sinh hoạt cuối tuần GVCN có thể lồng ghép
các chuyên đề giáo dục kỹ năng sống cho HS.
Trong giờ sinh hoạt cuối tuần GVCN giành 15 hoặc 20 phút để tổng kết
11
- Mỗi thành viên trong nhóm cắt giấy A4 thành 2 viết những ưu điểm,
nhược điểm, tính cách của bạn mình (Tinh thần góp ý, không phê phán, không
làm trò cười cho nhau), dán lên lưng của bạn
* Bước 3: Giải quyết vấn đề
- Giáo viên chủ nhiệm cho một số HS mạnh dạn đứng dậy trình bày
những đặc điểm của mình, vừa được bạn viết ra.
- Giáo viên đưa ra kết luận: Một điểm quan trọng của tự nhận thức bản
thân đó nhận biết sự đánh giá , nhìn nhận của mọi người về mình.
- Sau trò chơi này GVCN lưu ý học HS giữ và đọc những ưu điểm, nhược
điểm của mình đã được bạn chỉ ra để có hướng phát huy, đồng thời khắc phục
những điểm còn thiếu sót để hoàn thiện mình hơn.
Ví dụ 3: Khi giáo dục kỹ năng sống “Tư duy phê phán” GVCN cho chơi
trò chơi “đoán chữ”. GVCN cho HS đoán chữ “ Đoàn kết” bằng cách đưa ra câu
hỏi thứ nhất.
12
Cụm từ này gồm tám chữ, đây là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta!.
Nếu học sinh chưa đoán ra GVCN đưa ra tiếp gợi ý. Truyền thống này được Hồ
Chí Minh đúc kết thành một chân lý, bài học lịch sử của dân tộc ta trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc!. Nếu HS vẫn chưa đoán được. Giáo viên
đưa ra gợi ý cuối cùng. Cụm từ này bắt đầu bằng chữ Đ!
* Phương pháp thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác.
Áp dụng phương pháp này trong buổi sinh hoạt cuối tuần sẽ giúp cho giáo
viên và HS có thời gian trò chuỵện, trao đổi với nhau nhiều hơn, giúp HS hiểu
được các kỹ năng sống có ý nghĩa với con người như thế nào.
Tuy nhiên áp dụng phương pháp này dễ gây cho HS sự nhàm chán nếu
GVCN không khéo léo kết hợp tốt với các phương pháp khác. Do vậy, GVCN
phải lựa chọn các phương pháp tạo ra sự thu hút và nhu cầu muốn tìm hiểu ở HS.
tình huống; Các bạn đang chơi trong sân trường một bạn từ đâu tới xô vào
13
người bạn trong nhóm, cả hai người cùng ngã. Mặc dù người kia sai, nhưng
bạn trong nhóm vẫn đỡ người đó dậy, nói lời xin lỗi. Tuy nhiên, đáp lại thái độ
lịch sự của bạn trong nhóm, người kia chửi tục và đe doạ bạn trong nhóm.
Khi nhóm học sinh diễn xong, giáo viên chủ nhiệm đưa ra câu hỏi; Nếu là
các em trong tình huống trên em sẽ xử lý như thế nào? GVCN phân lớp thành
bốn nhóm cùng thảo luận tình huống (10 phút). Sau đó cho đại diện các nhóm
đứng lên trình bày ý kiến của mình bằng cách đóng vai.
Cuối buổi GVCN tổng kết và đưa ra cho HS biết các bước giải quyết mâu thuẫn.
* Thứ nhất: Kiềm chế cảm xúc - sử dụng kỹ năng thư giãn. Tự đưa mình
thoát khỏi tâm trạng, tình huống đó.
* Thứ 2: Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, cần suy nghĩ tích cực,
vì nó tác động mạnh đến cảm xúc và hành vi tích cực.
2.3.3. Phối kết hợp với giáo viên bộ môn, Ban giám hiệu, Đoàn thanh
niên và các tổ chức khác trong Nhà trường
a. Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với giáo viên bộ môn
Hiệu quả giáo dục của một lớp phụ thuộc một phần quan trọng vào hoạt
động và phẩm chất của GVCN và các giáo viên bộ môn. Vì vậy GVCN và các
giáo viên bộ môn phải có sự phối hợp, trao đổi thống nhất tác động sư phạm đến
HS thông qua một số hoạt động:
- Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên theo dõi kết quả học tập của HS
thông qua giáo viên bộ môn (trao đổi trực tiếp với giáo viên bộ môn, thông qua
nhận xét đánh giá của giáo viên bộ môn ở sổ theo dõi tiết học, sổ gọi tên ghi
điểm của lớp mình quản lý).
- Giáo viên chủ nhiệm thông qua việc dự giờ trên lớp các giáo viên bộ
môn lớp mình quản lý, qua hệ thống camera để quan sát thái độ, hứng thú học
tập từng bộ môn của HS lớp mình chủ nhiệm.
nâng cao tính tích cực hoạt động rèn luyện để phát triển nhân cách.
Ví dụ: Thông qua hội thi văn nghệ, làm báo tường, thi kéo co để chào
mừng ngày thành lập nhà giáo Việt Nam, ngày thành lập Đoàn (26/3) GVCN có
thể lồng ghép giáo dục kỹ năng sống: hợp tác, hoà nhập, kỹ năng lãnh đạo cho
học sinh lớp mình thông qua cách phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân trong
lớp, phát huy tinh thần chủ động, tích cực của các em để làm sao đó để lớp mình
có thể đem lại thành tích cao nhất trong cuộc thi.
Ngoài ra, GVCN phải thường xuyên kết hợp với các tổ chức khác trong
nhà trường như tổ giám thị... để xử lý vi phạm của học sinh một cách thuyết
phục và có hiệu quả.
2.3.4. Giáo viên chủ nhiệm phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh
Nhân cách của HS được hình thành dưới tác động của ba môi trường: gia
đình, nhà trường và xã hội. Trong đó gia đình là môi trường mang tính trực tiếp
quyết định đến sự hình thành nhân cách của các em. Do vậy, GVCN cần phải có
mối liên hệ chặt chẽ với phụ huynh HS, thông qua phụ huynh, giáo viên chủ
nhiệm có thể nắm bắt được: đặc điểm, cá tính, sở thích của từng HS.Vì hai phần
ba thời gian HS tiếp xúc với gia đình. Do vâỵ, không ai hiểu rõ con mình hơn là
phụ huynh. Mặt khác thông qua phụ huynh, có thể biết được hiệu quả giáo dục
kỹ năng sống cho HS của mình đến đâu. Mặc dù, hiệu quả giáo dục kỹ năng
sống không đo được bằng những con số chính xác nhưng được biểu hiện bằng
những thái độ và hành vi cụ thể như: khi về nhà các em có tự tin hơn không, có
còn lúng túng khi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống không? Trong
quan hệ với bạn bè, làng xóm có hoà nhập hơn không? Các em có ý thức sống tự
lập hơn không?...Để tạo thành kỹ năng, phản xạ tốt thì cần phải được rèn luyện
thường xuyên, liên tục đến mức thuần thục.. Do đó vai trò của gia đình là không
thể thiếu và giữ vị trí hết sức quan trọng.
2.3.5. Giáo viên chủ nhiệm cung cấp cho phụ huynh học sinh những
kiến thức cần giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các buổi họp
phụ huynh
Ở các nước phát triển, trẻ em sống độc lập, vì vậy tránh được những rủi ro
người học đối với thầy, đúng nguyên tắc lễ phép, tôn sư, trọng đạo, không được
dân chủ quá trớn.
Tuy vậy, GVCN cũng phải tạo ra bầu không khí cởi mở, thân thiện đối với
học sinh, bằng cách gần gũi, thân thiện, tâm sự với HS như một người bạn thân
thiết. Trong những năm làm chủ nhiệm tôi thường tổ chức những buổi dã ngoại
hoặc những buổi họp mặt tại nhà giáo viên chủ nhiệm. Thông qua hình thức này
tôi có thể giáo dục cho HS kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoà nhập. Qua đó tôi cũng
nắm bắt được thông tin “phản hồi” từ phía học sinh.
2.3.7. Giáo viên chủ nhiệm lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh thông qua môn học của mình
Là một GVCN, đồng thời tôi cũng là một giáo viên bộ môn. Với đặc thù
là giáo viên dạy môn sinh học, dạy học sinh học có nhiều thuận lợi trong giáo
dục, rèn luyện kỹ năng sống cho HS bởi sự hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi, bộ
môn chứa đựng nhiều nội giúp giáo dục các em hiểu biết bản thân, môi trường
yêu thiên nhiên bảo vệ môi trường sống, chống biến đổi khí hậu, xây dựng môi
trường xanh sạch đẹp, ý thức tự chủ, tinh thần chiến đấu. Bản thân Tôi nhận
thức được trong mỗi tiết dạy của mình tôi thường lồng ghép giáo dục kỹ năng
sống cho HS cụ thể như sau.
16
Ví dụ: Khi dạy bài “ Các cấp tổ chức của thế giới sống”; “Quang hợp”; “
Vi rút gây bệnh ứng dụng của vi rút trong thực tiễn”(Sinh học lớp 10) tôi lồng
ghép dạy kỹ năng tư duy, kĩ năng liên hệ thực tế, trách nhiệm của bản thân đối
với tình hình môi trường hiện nay.
Mặt khác tôi còn kết hợp với Ban chấp hành Đoàn trường tổ chức cho các
em đi học tập thực tế kết hợp tham gia làm vệ sinh môi trường tại khu di tích
lịch sử Lam Kinh và đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai tại xã Kiên Thọ, huyện
Ngọc Lặc, tích hợp giáo dục lịch sử địa phương, giáo dục môi trường. Thông
- Khắc phục sự nhàm chán và khô khan trong mỗi tiết sinh hoạt 15 phút
đầu giờ, sinh hoạt tập thể thứ 2 đầu tuần và buổi sinh hoạt cuối tuần.
- Học sinh thân thiện, cởi mở với nhau hơn, đoàn kết và tương trợ giúp
đỡ nhau trong quá trình học tập và rèn luyện.
- Góp phần tích cực vào phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”.
Bảng 3: So sánh kết quả đạt được học sinh ở học kỳ I và học kỳ II
Học kỳ
Giữa kỳ I
kỳ I
giữa kỳ II
Kỳ II
Hạnh kiểm
Sĩ
số
Tốt
Khá
TB
37 27.0% 37.8% 24.3%
37 56.7% 24.3% 13.5%
37 78.3% 13.5% 8.1%
37 86.8% 10.8% 5.4%
Yếu
10.8%
5.4%
0
0
So sánh với kết quả học kỳ 1. Chất lượng của HS cuối năm đã có chuyển
biến rõ rệt. Học lực tỉ lệ HS khá giỏi tăng lên HS trung bình thấp, cuối năm
không còn HS có học lực yếu. Hạnh kiểm HS xếp loại tốt tăng lên rõ rệt, HS xếp
loại trung bình cuối năm chỉ còn lại 5,40%
Bảng 4:So sánh kết quả khảo sát kỹ năng sống giữa kì I, cuối kì I và giữa
học kì II của học sinh lớp10A4
STT
Những kỹ năng sống
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Kỹ năng ứng phó và vượt qua áp lực
Kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân
Kỹ năng xác lập mục đích cuộc sống
Kỹ năng phân tích tình huống và ra quyết định
Kỹ năng tự nhận thức giá trị bản thân
Kỹ năng kiên định
6.22
6,16
4,12
4,08
4,05
4,02
Giữa kì
II
9,78
8,47
8,42
8,39
8,35
8,33
8,25
8,18
8,15
8,12
8,09
8,05
- Về lao động: 100% học sinh có thái độ lao động nhiệt tình. HS đã tự
giác lao động, thậm chí cả khi không có giáo viên chủ nhiệm.
- Về hoạt động bề nổi có 100% HS tham gia nhiệt tình, tích cực.
* Đánh giá của Nhà trường và Đoàn thanh niên
- Về hoạt động phong trào: Lớp 10A4 đạt giải Ba liên hoan văn nghệ chào
mừng ngày nhà giáo việt nam. Giải Nhì Bóng chuyền nam chào mừng ngày thành
lập Đoàn thanh niên công sản Hồ Chí Minh. Đạt giải Nhì hội thi thanh niên với chủ
18
phục được sự nhàm chán, khô khan trong mỗi tiết sinh hoạt cuối tuần, sự lặp lại
của các hình thức sinh hoạt 15 phút đầu giờ. Học sinh thấy được vai trò quan
trọng của mình, chủ động, tích cực để rèn luyện cho mình các kỹ năng bổ ích
trong cuộc sống hiện đại.
Để hoàn thành nhiệm vụ của mình giáo viên chủ nhiệm phải thực sự có
tâm huyết, thương yêu học sinh. Phải biết kết hợp linh hoạt các biện pháp mới
có thể đem lại kết quả cao trong quá trình giáo dục đạo đức và giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh .
3.2. Kiến nghị
Với tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học
phổ thông hiện nay tôi xin có một số đề xuất sau:
- Ban giám hiệu nhà trường có chủ trương lồng ghép các chuyên đề giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh trong các buổi sinh hoạt cuối tuần, các buổi sinh
hoạt 15 phút đầu giờ (ít nhất là 2 buổi/ tuần).
- Tổ chức một số buổi HĐNGLL cho học sinh tham gia.
- Bên cạnh các hoạt động bề nổi như văn nghệ, báo tường, thể dục thể
thao, Đoàn trường nên tổ chức nhiều các cuộc thi giúp học sinh có dịp thể hiện
tài năng về kiến thức, tư duy của mình đồng thời rèn luyện được kỹ năng thiết
yếu trong thời đại ngày nay.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 26 tháng năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
Cao Quỳnh Như
20
8
9
10
11
Tên mục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng kỹ năng sống của học sinh lớp 10A4 trước khi áp dụng sáng
kiến
2.2.1. Thuận lợi:
2.2.3. Thực trạng ở lớp 10 A4
2.3. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 10A4
2.3.1. Cần phải nắm vững những yêu cầu sư phạm đối với giáo viên chủ
nhiệm và những kỹ năng cần giáo dục cho học sinh
2.3.2. Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt 15 phút, các buổi sinh hoạt thứ 2 đầu
tuần thứ bảy cuối tuần
2.3.3. Phối kết hợp với giáo viên bộ môn, Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên
và các tổ chức khác trong Nhà trường
2.3.4. Giáo viên chủ nhiệm phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh
2.3.5. Giáo viên chủ nhiệm cung cấp cho phụ huynh học sinh những kiến
thức cần giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các buổi họp phụ
huynh
2.3.6. Xây dựng quy tắc ứng xử giữa học sinh với giáo viên chủ nhiệm, với