Một số giải pháp nâng cao chất lượng xuất khẩu lao động cho đoàn viên thanh niên - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN

Người thực hiện: Nguyễn Lê Minh
Chức vụ: Bí thư Đoàn trường
SKKN thuộc lĩnh vực: Đoàn Đội

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC

Nội dung
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Hiểu biết chính sách, pháp luật hỗ trợ xuất khẩu lao động
2.2.2. Thực tế đào tạo tiếng, văn hóa ngoại quốc
2.2.3. Thực tế tiếp cận các nguồn hỗ trợ và tìm kiếm công ty xuất
khẩu lao động uy tín.

10
11
11
12
13
14


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong những năm qua, thực hiện nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng
07 năm 2015 của thủ tướng chính phủ về “quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm
và quỹ quốc gia về việc làm”, nhiều lao động Việt Nam đã được tuyển dụng tại các
thị trường lao động tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,… mang lại
nguồn thu nhập đáng kể cho quốc gia, giải phóng áp lực thừa lao động và cải thiện
đời sống cho hàng ngàn lao động.
Tuy nhiên trong quá trình theo dõi người lao động từ khi có ý thức về xuất
khẩu lao động cho đến khi có việc làm tại các thị trường ngoại quốc là một khoảng
cách lớn. Rất nhiều những bất cập và hạn chế được lộ rõ như: Đoàn viên thanh niên
sau khi tốt nghiệp THPT phải chờ một thời gian khá dài mới được tư vấn về xuất
khẩu lao động, khi đăng ký xuất khẩu lao động hầu như gặp phải các tổ chức và
đơn vị có năng lực yếu kém, phải qua nhiều khâu trung gian, chi phí tốn kém, khâu
đào tạo không chuyên nghiệp, sang làm việc trái với chuyên môn được đào tạo, căn
cứ pháp lý chưa rõ ràng, cam kết giữa nhà tuyển dụng và người lao động chưa đủ
mạnh để ràng buộc cả 2 bên, đoàn viên thanh niên chưa tiếp cận được với các chính
sách ưu đãi về vốn,….Rất nhiều bất cập đã dẫn đến hiệu quả của việc xuất khẩu lao
động chưa đạt được hiệu quả cao, các mục tiêu của nghị quyết số 45/2016/NQHĐND ngày 08 tháng 12 năm 2016 của HĐND tỉnh Thanh Hóa về chính sách
khuyến khích hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vẫn
còn hạn chế trong quá trình áp dụng.
Trong quá trình hướng nghiệp cho Đoàn viên thanh niên, từ thực tiễn triển

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê và xử lý số liệu kết quả học
tập của học sinh trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Tại nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo đã chỉ rõ: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất,
hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định
hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú
trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng
lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng
sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương
trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ
trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân
luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và
chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ
năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với
nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng,
thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường
lao động trong nước và quốc tế.
Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng
nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến
thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều
kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề[1].
Như vậy, trong nghị quyết số 29 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục đã làm rõ mục tiêu định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Tại nghị

nhà nước[2].
Tại nghị quyết số 45/2016/NQ-NĐND của hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa
ngày 08 tháng 12 năm 2016 đã làm rõ cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ
người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đến năm 2021. Theo đó,
nhà nước khuyến khích hỗ trợ cho người lao động có hộ khẩu thường trú tại tỉnh
Thanh Hóa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đến năm 2021 với mức hỗ trợ
một lần 3.000.000 đồng/người. Người lao động thuộc hộ nghèo, hộ mới thoát
nghèo (trong vòng 24 tháng, tính từ ngày thoát nghèo), hộ cận nghèo và hộ bị
thu hồi đất nông nghiệp; người lao động là thân nhân của người có công với Cách
mạng, người dân tộc thiểu số vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội
tỉnh để đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài với mức hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay
theo lãi suất hiện hành của Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh áp dụng
cho đối tượng chính sách vay đi xuất khẩu lao động. Về hỗ trợ cho doanh nghiệp
xuất khẩu lao động, các doanh nghiệp, các tổ chức đơn vị sự nghiệp có chức năng
đưa lao động của tỉnh đi làm việc ở nước ngoài đảm bảo việc làm ổn định, có thời
gian làm việc đủ 12 tháng trở lên; mức thu nhập của người lao động (ghi trên hợp
đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký với người lao động) từ 400
USD/tháng trở lên; tỷ lệ lao động gặp rủi ro trên tổng số lao động do doanh nghiệp
đưa đi làm việc ở nước ngoài dưới 4%; thực hiện tốt các quy định của pháp luật
được hỗ trợ 200.000 đồng/lao động nếu doanh nghiệp trong 01 năm đưa được từ
200 đến dưới 400 lao động của tỉnh đi làm việc ở nước ngoài hoặc 250.000
đồng/lao động nếu doanh nghiệp trong 01 năm đưa được từ 400 lao động trở lên đi
làm việc ở nước ngoài[3].
Như vậy từ TW đến địa phương đã có những chính sách rất rõ để ủng hộ
chương trình xuất khẩu lao động. Những chính sách đó đã được các công ty xuất
khẩu lao động, các tổ chức tư vấn xuất khẩu lao động tiến hành phổ biến và cụ thể
hóa.

4


động uy tín.
- Trong thời gian qua, các văn bản và chính sách của Nhà nước liên quan đến
xuất khẩu lao động đã được ban hành, các tổ chức tham gia như: Bộ lao động –
thương binh- xã hội, ngân hàng chính sách, các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,
hợp tác xã, các công ty xuất khẩu lao động… đã xúc tiến triển khai đến người dân,
đặc biệt là thanh niên. Tuy nhiên, do nắm bắt cơ chế và các văn bản pháp luật chưa
đến nơi nên việc tiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ còn nhiều khó khăn. Nhiều thanh niên
thấy số tiền chi phí ban đầu lớn (thường hơn 100 triệu) đâm ra tâm lý lo sợ, sức ỳ
lớn dẫn đến không tiếp cận được với chương trình xuất khẩu lao động.
5


- Những năm gần đây, do nắm bắt được cơ chế kịp thời và lợi nhuận lớn từ
việc tổ chức xuất khẩu lao động nên nhiều công ty xuất khẩu lao động đã được
thành lập. Trong số các công ty đó, những công ty được cấp phép từ Bộ lao độngthương binh- xã hội cũng có, như công ty TTC Việt Nam, Công ty JV Net, công ty
Hải Phong,…. Bên cạnh đó cũng có những công ty “ma”, công ty “đa cấp” với
nhiều cầu. Do đó việc tiếp cận những công ty chính thống, có đầy đủ hồ sơ pháp lý,
được nhà nước cấp phép trong lĩnh vực kinh doanh, số lượng xuất cảnh lớn, nhận
được sự tín nhiệm của nhiều lao động, số lượng đơn hàng nhiều và ổn định, có mối
quan hệ rộng với các đối tác nước ngoài về nhu cầu tuyển dụng lao động luôn là
mong mỏi của thanh niên. Tâm lý lo sợ bị lừa đảo cũng ảnh hưởng đến số lượng
người xuất khẩu lao động. Có những thanh niên đi qua nhiều “cầu” dẫn đến chi phí
tăng cao mà không tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi. Cơ chế thi cử chạy chọt,
đào tạo với kinh phí cao đã tác động tiêu cực đến người lao động, làm cho họ mất
niềm tin, ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nước[4].
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động
cho Đoàn viên thanh niên.
2.3.1. Công tác tuyên truyền
Những năm gần đây, công tác xuất khẩu lao động được xác định là giải pháp
có hiệu quả trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở một số

đã quyết định vay vốn cho con đi xuất khẩu lao động. Hiện nay, con gái tôi đã sang
làm việc tại Nhật Bản được gần 2 năm, mỗi tháng, trừ chi phí sinh hoạt, cháu gửi
về được 25 triệu đồng. Tôi đã trả hết nợ ngân hàng, sửa sang nhà cửa và tích lũy để
cháu có vốn làm ăn sau khi hết hạn hợp đồng về nước".
Anh Hồng - thôn 7, xã Yên Tâm chia sẻ: “Từ xuất khẩu lao động mang lại,
nhiều bà con hàng xóm đã tới hỏi thăm và tìm hiểu để đi xuất khẩu lao động. Vợ
chồng tôi đều nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm và động viên những gia đình có con
em trong độ tuổi lao động, nhất là những gia đình nghèo nên cho con đi xuất khẩu
lao động để lấy vốn về làm ăn. Nhìn thấy sự đổi thay của một số gia đình có người
đi xuất khẩu lao động, các hộ trong thôn cũng mạnh dạn vay vốn cho con, em tham
gia”.
Có thể nói, bằng những gương “người thật, việc thật”, mọi băn khoăn, nghi
ngại của những gia đình muốn cho con đi xuất khẩu lao động đã từng bước được
giải tỏa. Nhờ vậy, người dân sẽ thêm tin tưởng, yên tâm và có động lực động viên
con, em, người thân trong gia đình tham gia xuất khẩu lao động.
Đến nay, xuất khẩu lao động đã trở thành phong trào thu hút khá đông thanh
niên trong độ tuổi lao động tham gia. Được biết, toàn xã Yên Giang có hơn 50 lao
động đang làm việc có thời hạn ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc... trung bình mỗi
năm, nguồn thu từ XKLĐ của xã đạt hơn 5 tỷ đồng.
Đánh giá cao vai trò của công tác tuyên truyền, nhất là tuyên truyền miệng
trong xuất khẩu lao động, ông Trịnh Văn Bảy – Phó chủ tịch xã Yên Giang cho
biết: “So với các địa phương khác, xã Yên Giang có nhiều cơ chế ưu đãi về chương
trình xuất khẩu lao động, bởi vậy, đã thu hút nhiều lao động trẻ tham gia. Đặc biệt,
công tác tuyên truyền được các cấp chính quyền, địa phương hướng về từng hộ gia
đình. Các hội đoàn thể đã tích cực vào cuộc, tuyên truyền lồng ghép qua các hội
nghị và tuyên truyền miệng cho chính con em, người thân và bà con thôn xóm hiểu
chính sách của Nhà nước, của tỉnh cũng như những gương người thật, việc thật về
xuất khẩu lao động. Bởi vậy, sự phối hợp chặt chẽ với Phòng LĐ-TB&XH các địa
phương, các xã, phường, thị trấn tổ chức các hội nghị tuyên truyền tới tận người
dân.

niên và gia đình, có hệ thống đào tạo tại nhiều địa phương.
Thứ tư, công ty xuất khẩu lao động uy tín phải có mối quan hệ chặt chẽ với
ngân hàng chính sách, sẵn sàn tư vấn và hỗ trợ làm thủ tục vay vốn ưu đãi. Đó còn
là công ty xuất khẩu lao động “1 cầu”, nghĩa là Đoàn viên thanh niên khi có nhu
cầu xuất khẩu lao động không phải mất thêm kinh phí để qua nhiều cầu.
Trong nhiều năm qua, đơn vị trường chúng tôi lựa chọn công ty giới thiệu
việc làm và xuất khẩu lao động ICO Manpower, đây là công ty xây dựng được hệ
thống tuyển sinh trên toàn quốc thông qua hệ thống điều hành từ Bắc – Trung –
Nam. Đến nay, ICO Manpower là đối tác trực tiếp của trên 50 trường Trung cấp –
Cao đẳng – Đại học thuộc các lĩnh vực đào tạo như: Cơ khí chế tạo, IT, Y dược,
Nông nghiệp…Không có tỷ lệ lao động bỏ trốn, phí đi của người lao động thấp;
tuyển chọn, sàng lọc và đào tạo lao động kỹ càng; thẩm định nhà máy trước khi lao
động sang làm việc; thành lập ICOJapan để quản lý và xử lý kịp thời những phát
sinh. Đến hết tháng 02/2017 ICO Manpower đã đưa được 2.250 học sinh, người
lao động sang học tập, làm việc tại Nhật Bản.

8


2.3.3. Phát triển đội ngũ cộng tác viên
Với việc cung ứng khoảng hàng trăm lao động đi làm việc tại Nhật Bản, Hàn
Quốc và Đài Loan mỗi năm, trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh ICO coi trọng công
tác “tạo nguồn” cho xuất khẩu lao động. Những năm qua, góp phần cho công tác
tuyên truyền, vận động nhằm “tạo nguồn” cho xuất khẩu lao động là các cộng tác
viên cơ sở của trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh. Theo ông Hoàng Thanh Hà - giám
đốc trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh, thống kê năm 2017 cho thấy, có trên 40 lao
động nhờ vào sự giới thiệu, tuyên truyền của các cộng tác viên mà tìm đến Trung
tâm, vượt qua vòng phỏng vấn, đã xuất cảnh hoặc đang chờ ngày xuất cảnh. “Đây
không phải là con số quá lớn so với tổng số lao động đi làm việc tại nước ngoài
năm qua nhưng cũng cho thấy vai trò của các cộng tác viên. Chính vì vậy, năm nay,



nghiệp trong 01 năm đưa được từ 200 đến dưới 400 lao động của tỉnh đi làm việc ở
nước ngoài hoặc 250.000 đồng/lao động nếu doanh nghiệp trong 01 năm đưa được
từ 400 lao động trở lên đi làm việc ở nước ngoài.
Như vậy, mặc dù chi phí ban đầu cho xuất khẩu lao động là khá cao xong
có sự ủng hộ đặc biệt của ngân hàng chính sách thì Đoàn viên thanh niên yên tâm
hơn về nguồn vốn ban đầu. Việc chi trả vốn vay rất dễ dàng khi thu nhập của người
lao động ở nước ngoài đi vào ổn định.
2.3.5. Giải quyết việc làm sau khi về nước.
Thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội), hiện Việt Nam có trên 500.000 người đang làm việc ở trên 40 quốc gia và
vùng lãnh thổ trên thế giới với hơn 30 nhóm ngành nghề các loại. Hàng năm hơn
nửa triệu người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài gửi về nước khoảng
trên dưới 2 tỷ USD.
Tuy nhiên, có một nghịch lý xảy ra là nhiều lao động sau khi hết hợp đồng
làm việc tại nước ngoài trở về nước không tìm được việc làm phù hợp, dù được đào
tạo và có kỹ năng nghề cao. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong nước lại đang
thiếu hụt lao động có tay nghề, trình độ cao. Nhiều lao động khi trở về nước cho
biết, họ có rất ít thông tin về nhu cầu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Để kiếm sống, họ thường kinh doanh nhỏ lẻ hoặc làm tạm thời tại một doanh
nghiệp trong nước với mức lương không tương xứng với trình độ.
Có thể nói, với những ưu thế về kỹ năng, kinh nghiệm, tác phong làm việc
công nghiệp và trình độ ngoại ngữ nhất định, người từng đi xuất khẩu lao động
được đánh giá là nguồn lao động có tay nghề, chất lượng cao, nếu không được tận
dụng sẽ là một sự lãng phí rất lớn. Ở góc độ nhà tuyển dụng, nhiều công ty cho
rằng, mức thu nhập chênh lệch lớn giữa trong nước và nước ngoài là nguyên nhân
chính khiến những người từng đi xuất khẩu lao động khó tìm việc. Lo lắng không
thể tìm được việc làm phù hợp sau khi về nước, không ít lao động xuất khẩu sau
khi hết thời hạn hợp đồng trốn ở lại nước sở tại để cư trú, lao động bất hợp pháp.

bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối với hoạt động giáo dục.
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng xuất khẩu lao động cho Đoàn
viên thanh niên” giúp các em chuẩn bị cho bản thân hành trang về kiến thức và kỹ
năng sống khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Mở ra cho các em và gia đình một
hướng đi mới có lợi cho bản thân, cho gia đình và cho toàn xã hội. Đây là hướng đi
nhanh nhất để làm giàu, tăng thu nhập cho Đoàn viên thanh niên ngay sau khi tốt
nghiệp THPT. Sau khi vận dụng đề tài này tôi nhận thấy đa số Đoàn viên thanh
niên tham gia nhiệt tình vào các buổi nói chuyện, tuyên truyền, tham gia vào các
lớp học tiếng Hàn, tiếng Nhật; trao đổi tâm tư nguyện vọng với gia đình và người
thân; biết cách suy luận logic, biết tìm kiếmthông tin và xử lý thông tin, biết phối
hợp làm việc nhóm, biết tự tin vào bản thân hơn khi giải các đề có tính chất mới và
khó, biết phát huy các khả năng của bản thân và các bạn trong cùng nhóm, biết
đánh giá bản thân; biết được phong cách làm việc của tư bản; biết được một số nét
văn hóa cơ bản của người nước ngoài trong giao tiếp. Đặc biệt, đối với nhóm Đoàn
viên thanh niên thuộc gia đình nghèo, cận nghèo đã vững tin hơn vào con đường
mình chọn, không còn bi quan rụt rè vì hoàn cảnh gia đình như trước đây, tham gia
hăng say vào quá trình học tập hơn trước.
Sau khi triển khai các giải pháp cho tất cả các Đoàn viên thanh niên khối 12,
tôi đã sử dụng phiếu điều tra, kết quả cho thấy rất khả quan với chương trình xuất
khẩu lao động. Số lượng Đoàn viên thanh niên quan tâm đến chương trình này đã
tăng lên đáng kể, nhiều Đoàn viên thanh niên mong muốn thời gian trôi nhanh để
tốt nghiệp THPT và đi xuất khẩu lao động. Ý thức việc làm và làm giàu để thoát
nghèo đang thôi thúc các em phấn đấu trong học tập.
11


Tuy nhiên, đề tài của tôi cũng mới chỉ áp dụng trong thời gian ngắn, chủ yếu
nằm ở khâu lý luận và mới ở từng bước ban đầu của thực tiễn. Để đề tài này đi vào
thực tiễn một cách có hiệu quả, cần lắm những sự quan tâm và vào cuộc của các

động, tự mình tham gia và trao đổi, không còn lĩnh hội thụ động và tâm lý ỷ lại như
trước. Ở sân chơi này, các em đã trải nghiệm được nhiều từ thực tiễn, là chủ thể của
quá trình tìm kiếm tri thức.
Thứ hai, kết quả khảo sát bài kiểm tra và khảo sát bằng phiếu thu thập thông
tin sau khi thực hiện dự án cho thấy kết quả học tập của học sinh có sự tiến bộ rõ
rệt. Các em nắm vững kiến thức hơn, nhớ lâu hơn vì đã tự mình đọc, tự mình tìm
hiểu các kiến thức đó. Như vậy chính yếu tố chuẩn bị các điều kiện cần thiết để
xuất khẩu lao động đã tác động tích cực đến ý thức học tập và rèn luyện của Đoàn
viên thanh niên.
Thứ ba, kỹ năng tổ chức của người cán bộ Đoàn khi thực hiện triển khai các
giải pháp rất quan trọng. Xuyên suốt quá trình thực hiện, người cán bộ Đoàn vừa là
người tổ chức, định hướng cho Đoàn viên thanh niên trong vấn đề hướng nghiệp,
vừa là người học để tự mình hoàn thiện kỹ năng. Việc người cán bộ Đoàn tự học và
trang bị kiến thức kỹ năng từ hoạt động thực tiễn đã trở thành việc rất bình thường.
3.2. Kiến nghị.
Thứ nhất, việc thực hiện dạy tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung đòi hỏi nhiều
thời gian, con người và kinh phí tổ chức. Do đó cần được lãnh đạo các nhà trường
quan tâm, chia sẻ, khuyến khích trong từng năm học.
Thứ hai, để công tác xuất khẩu lao động phát triển hơn nữa cần có sự tham gia
của các công ty xuất khẩu lao động, của hệ thống giáo dục, của ngân hàng chính
sách và của các địa phương. Nếu có sự tham gia đồng bộ thì bức tranh xuất khẩu
lao động cho Đoàn viên thanh niên sẽ có nhiều nét mới mẻ. Đây cũng là khía cạnh
của việc thực hiện nghị quyết 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Yên Định, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status