Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan nhằm nâng cao kết quả học tập môn địa lí ở trường THPT quảng xương 4 - Pdf 57

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết 29-NQ/TW được Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương
khóa XI thông qua ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng Xã hội Chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ mục tiêu cụ thể của
giáo dục phổ thông là: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ,
thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng
năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,
ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực
tiễn” [5].
Để thực hiện được mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục hiện
nay trong giảng dạy là phải chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học
theo hướng tiếp cận năng lực học sinh, theo đó người học khi tốt nghiệp ra
trường có đủ năng lực, nắm vững kiến thức và kĩ năng nhằm đáp ứng yêu cầu
của xã hội cũng như thị trường lao động hiện nay.
Như vậy khi thực hiện mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực thì đòi hỏi phải có các phương pháp kiểm tra đánh giá
cho phù hợp để có thể đo lường được mục tiêu giảng dạy. Do đó khi mục tiêu,
phương pháp dạy học thay đổi, phương pháp kiểm tra đánh giá cũng phải thay
đổi cho phù hợp.
Về kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh,
Nghị quyết 29-NQ/TW cũng đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá
chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học
sinh; phản ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấp thông
tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng
dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh” [5].
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, lấy học sinh làm trung tâm là một yêu cầu tất yếu đang được
các cấp quản lý và các đơn vị giáo dục đặc biệt quan tâm. Phương pháp dạy học

mục tiêu mà Nghị quyết 29-NQ/TW đã đề ra.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các kinh nghiệm, biện pháp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo
của học sinh trong học tập đặc biệt trong làm các dạng bài tập trắc nghiệm
khách quan
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng
hợp để nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp quan sát, đánh giá
thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, nắm bắt thông tin
- Phương pháp thống kê toán học

2


B.PHẦN NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN
1. Cơ sở khoa học của việc kiểm tra – đánh giá trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan theo nghĩa rộng là một phép lượng giá cụ thể mức
độ, khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người cụ thể nào
đó.
Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắc nghiệm
viết, kỹ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lực của
con người trong nhận thức, hoạt đông và cảm xúc. Phương pháp trắc nghiệm
khách quan đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực như y học, tâm lý, giáo
dục … ở nhiều nước.
Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm khách quan đã được sử dụng rất phổ
biến tại nhiều nước trên thế giới trong các kỳ thi để đánh giá năng lực nhận

câu hỏi TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, học sinh buộc phải
3


xét đoán, phân biệt rõ ràng trước khi trả lời câu hỏi.
-Tính chất giá trị tốt hơn. Loại bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời có độ giá
trị cao hơn nhờ tính chất có thể dùng đo những mức tư duy khác nhau như:
khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, suy diễn, …, tổng quát hoá,
… rất hữu hiệu.
- Tính khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào
các yếu tố như phẩm chất của chữ viết, khả năng diễn đạt tư tưởng của học
sinh hoặc chủ quan của người chấm.
* Nhược điểm:
- Loại câu này khó soạn vì phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất,trong khi
các câu, các phương án còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý. Thêm
vào đó các câu hỏi phải đo được các mục tiêu ở mức năng lực nhận thức cao
hơn mức biết, nhớ.
- Những học sinh có óc sáng tạo, khả năng tư duy tốt có thể tìm ra những câu
trả lời hay hơn đáp án đã cho, nên họ không thoả mãn hoặc khó chịu.
- Các câu TNKQ nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán
tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm
bằng loại câu TNTL soạn kỹ.
- Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung
câu hỏi.
b) Câu trắc nghiệm "đúng- sai"
Là câu trắc nghiệm yêu cầu người làm phải phán đoán đúng hay sai với một
câu trần thuật hoặc một câu hỏi, cũng chính là để học sinh tuỳ ý lựa chọn một
trong hai đáp án đưa ra.
* Ưu điểm:
- Đây là loại câu đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện,

Hơn nữa nếu số câu trong các cột nhiều, học sinh sẽ mất nhiều thời gian đọc
nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi.
d) Câu trắc nghiệm điền khuyết
Đây là câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với
các chỗ để trống. Nói chung, đây là loại TNKQ cóa câu trả lời tự do.
* Ưu điểm:
- Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra câu trả
lời. Loại này dễ soạn hơn câu hỏi nhiều lựa chọn.
- Rất thích hợp cho việc đánh giá mức độ hiểu bết của học sinh về các
nguyên lí, giải thích các dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ. Giúp học sinh
luyện trí nhớ khi học, suy luận hay áp dụng vào các trường hợp khác.
* Nhược điểm:
- Khi soạn loại câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thường trích
nguyên văn các câu từ SGK. Ngoài ra loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn
vào chi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn
những dạng câu hỏi TNKQ khác.
- Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm, mất nhiều thời gian chấm, không
áp dụng được các phương tiện hiện đại trong kiểm tra- đánh giá.
e) Câu hỏi bằng hình vẽ (kênh hình)
- Trên hình vẽ sẽ cố ý để thiếu hoặc chú thích sai yêu cầu học sinh chọn một
phương án đúng hay đúng nhất trong số các phương án đã đề ra, bổ sung hoặc
sửa chữa sao cho hoàn chỉnh.
- Sử dụng loại câu hỏi này để kiểm tra kiến thức thực hành như: kĩ năng
quan sát bảng số liệu, biểu đồ, kĩ năng sử dụng atlat địa lí Việt Nam …
Như vậy có nhiều loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan, mỗi loại có những
đặc điểm và công dụng riêng tuy nhiên chung quy lại chúng có một số ưu,
nhược điểm nhất định.
2. Ưu, nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan
a, Ưu điểm
- Dung lượng kiến thức lớn , đề thi phủ kiến được nhiều kiến thức trong nội

học sinh. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm, trắc nghiệm khách quan không
pải là lựa chọn tốt nhất để đánh giá năng lực, nhận thức của người học, nó vẫn
còn bộc lộ một số nhược điểm nhất định.
b) Nhược điểm
- Dễ gây tình trạng đoán mò, chọn mò cho học sinh khi không nắm chắc
kiến thức
- Không phát triển được tư duy sáng tạo cho học sinh
- Hạn chế trong việc rèn luyện kĩ năng viết, tư duy, lập luận logich, trình bày
một vấn đề
- Hạn chế trong việc đánh giá kết quả nhận thức thái độ của học sinh đối với
thế giới quan, nhân sinh quan
- Đòi hỏi giáo viên phải công phu trong khâu ra đề, đồng thời phải có một
trình độ nhất định về mặt bằng chung của đối tượng cụ thể vv…Chính những
tác dụng đễ thấy và những hạn chế nhất định cho nên khi kiểm tra, đánh giá
trắc nhiệm khách quan trong dạy học chúng ta đặc biệt để học sinh chọn
được đáp án đúng của câu hỏi chúng ta cần chú ý một số vấn đề dưới đây
3. Những yếu tố cần đạt đối với việc hướng dẫn học sinh làm các dạng bài
tập trắc nghiệm khách quan.
Để học sinh lựa chọn được đáp án đúng trong kiểm tra trắc nghiệm khách
quan, yêu cầu cần thiết khi giáo viên hướng dẫn học sinh phải đạt được như
sau:
- Tránh việc để học sinh lựa chọn đáp án theo xác suất nghĩa là trong số 40
câu hỏi, học sinh không được phép làm bài theo kiểu chọn 5 đáp án A rồ lại
6


đến 5 đáp án, rồi lại đến C, đến D và quay vòng trở lại, kiểu làm bài như vậy
rất dễ dẫn đến tình trạng học sinh bị điểm liệt
- Học sinh không được lựa chọn đáp án theo cảm tính, thích đáp án nào thì
chọn cái đó

+ Vận dụng: Học sinh phải kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã
học để giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề
đã học
+ Vận dụng cao: yêu cầu học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng
để giải quyết các tình huống, vấn đề mới không giống với vấn đề, tình huống
đã được hướng dẫn, đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình hướng, vấn
đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống.
Để học sinh tiếp cận được phương pháp kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm
khách quan giáo viên cần xây dựng được bài học phù hợp , thiết kế tiến trình
dạy học theo các phương pháp dạy học tích cực , đồng thời biên soạn hệ thống
câu hỏi để sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động học và kiểm tra, đánh
7


giá. Trong quá trình biên soạn câu hỏi trắc nghiệm ,giáo viên cần thực hiện
đúng các yêu cầu khi viết câu hỏi trắc nghiệm, nắm được các dạng chính của
trắc nghiệm khách quan, ngoài ra giáo viên cần bổ sung nguồn học liệu thông
qua việc tham khảo hệ thống câu hỏi, bài tập, đề thi có chất lượng trên
website của Bộ (tại địa chỉ http:// truonghocketnoi.edu.vn) của sở/ phòng
GDĐT và các trường học. Với những yêu cầu trên đối với giáo viên, tôi thiết
nghĩ sẽ hướng dẫn được học sinh chủ động, tích cực trong tiếp cận kiến thức
cũng như có kĩ năng trong cách làm bài đạt kết quả cao.
II. THỰC TRẠNG HỌC SINH LÀM CÁC DẠNG BÀI TẬP TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN TẠI TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4
Vấn đề này thực tế ở trường tôi cho thấy nhiều vấn đề rất đáng quan tâm
Trước hết, là thực tế của cuộc vận đông đổi mới phương pháp mà ngành
giáo dục đã và đang tiến hành một cách rộng rãi và đã thu được những kết quả
thiết thực, trong đó việc đổi mới kiểm tra,đánh giá học sinh rất được chú ý.
Đặc biệt là qua đợt tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá học sinh tại trường do chính đồng chí hiệu trưởng nhà trường truyền

nâng cao kết quả trong học tập.
Qua trực tiếp giảng dạy trên lớp, qua các bài kiểm tra và trao đổi với các
em một thực tế cho thấy, các em còn nhiều bỡ ngỡ với phương pháp kiểm tra
đánh giá này, bởi cùng một nội dung có thể viết được nhiều câu hỏi trắc
8


nghiệm khách quan, nếu không hiểu vấn đề, các em sẽ rơi vào tình trạng bị
động, lúng túng, trong đề thi phần câu hỏi Atlat cũng khá nhiều nếu không có
kĩ năng các em sẽ mất nhiều thời gian cho phần này dẫn đến không còn thời
gian để đọc kĩ , phân tích các câu hỏi khác, đặc biệt câu hỏi vận dụng và kết
quả sẽ không cao vv...
Những vấn đề trên tôi thiết nghĩ cũng là thực trạng chung của hầu hết các
trường hiện nay, vì thế thông qua đề tài này tôi không những muốn đem đến
những thay đổi trong suy nghĩ và hành động của các đồng nghiệp trong nhà
trường mà còn muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè đồng nghiệp gần xa.
III. NHỮNG KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM CÁC
DẠNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN Ở TRƯỜNG THPT
QUẢNG XƯƠNG IV
1.Những yêu cầu cần thiết để học sinh làm các dạng bài tập trắc nghiệm
khách quan ở Trường THPT Quảng Xương IV.
Trước hết, để có những giải pháp tốt cho vấn đề này, ta cần xác định được
phương pháp kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm khách quan được dùng trong
trường hợp nào và cần điều kiện gì để học sinh làm bài đạt kết quả cao?
Trước tiên giáo viên phải chuẩn bị một cách công phu hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm, phải hiểu qui trình xây dựng hình thức trắc nghiệm khách quan gồm
những bước nào và từ đó mới hướng dẫn cho học sinh các phương pháp làm
bài đạt hiệu quả. Qui trình xây dựng hình thức trắc nghiệm khách quan gồm
các nhiều bước. Các bước đó phải phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo
của học sinh trong học tập đặc biệt trong kiểm, đánh giá bằng phương pháp

cho câu trắc nghiệm khách quan.
2. Những kinh nghiệm cụ thể để hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập
trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan có nhiều dạng (tôi đã nêu cụ thể ở trên) tuy nhiên
xuất phát từ việc áp dụng ở trường tôi cũng như ở kì thi trung học phổ thông
Quốc Gia chúng ta thấy chủ yếu áp dụng dạng trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn. Chính vì vậy ở đề tài này tôi cũng chỉ trình bày, chia sẻ kinh nghiệm
trong việc hướng dẫn học sinh làm bài tập dạng trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn, các kinh nghiệm của tôi cụ thể như sau
2.1. Tổ chức dạy học thông qua sơ đồ tư duy và tổ chức trò chơi
Môn Địa lí với lượng kiến thức lớn lại liên quan nhiều đến thực tế luôn
hấp dẫn nhưng cũng là thách thức với những ai lựa chọn nó. Hơn 10 năm
giảng dạy bộ môn, tôi nghĩ rằng, muốn học sinh làm bài trắc nghiệm tốt, các
em phải thực sự hiểu nội dung các bài học, hiểu vấn đề. Với mục tiêu này,
cách làm của tôi là hướng dẫn, khuyến khích các em lập sơ đồ tư duy. Mỗi
buổi học, học sinh sẽ được gợi ý lựa chọn các từ khóa trong sách giáo khoa và
sắp xếp kiến thức liên quan theo các sơ đồ để dễ nhìn, dễ học. Đây là một
phương pháp kích hoạt não của các em hiệu quả, buộc các em phải tư duy và
ghi nhớ: Ghi nhớ kiến thức, thông tin, số liệu địa lí bằng chính tư duy của
mình để tự tin và đạt kết quả cao hơn trong các kì thi.
Và để các em không cảm thấy nhàm chán khi mỗi tiết học phải luyện tập
các đề thi trắc nghiệm trên giấy, tôi tổ chức trò chơi như : “Rung chuông
vàng, Ai nhanh hơn”. Cả lớp sẽ trả lời các câu hỏi trắc nghiệm với 4 đáp án.
Các câu hỏi này lần lượt đi từ dễ đến khó và sẽ loại dần các thành viên trả lời
sai để tìm ra người chiến thắng cuối cùng. Trò chơi Ai nhanh hơn được áp
dụng cho kỹ năng khai thác Atlat. Học sinh sẽ nhìn vào Atlat và trả lời nhanh
các câu hỏi:
Ví dụ: Tỉnh nào ở trung du miền núi Bắc bộ vừa có đường biên giới vừa
có đường bờ biển? Sông nào có diện tích lưu vực lớn nhất? Vùng nào có sản
lượng thủy sản cao nhất?... Với sự hưởng ứng nhiệt thành từ học trò, giáo viên

b. Nắm được cấu trúc của Atlat địa lí Việt Nam
Cấu trúc theo sách giáo khoa địa lí 12 và Atlat tương tự như nhau . Nếu
sách SGK địa lí 12 được cấu trúc thành 4 đơn vị kiến thức cơ bản là: Địa lí tự
nhiên, Địa lí dân cư, Địa lí các ngành kinh tế, Địa lí các vùng kinh tế thì Atlat
địa lí Việt Nam cũng được cấu trúc tương tự như vậy
Trong Atlat địa lí Việt Nam chia thành:
Phần 1: Địa lí tự nhiên ( từ trang 4 đến trang 14 )
Phần 2: Địa lí dân cư ( từ trang 15 đến trang 16 )
Phần 3: Địa lí các ngành kinh tế ( từ trang 17 đến trang 25 )
Phần 4: Địa lí các vùng kinh tế ( từ trang 26 đến trang 30 )
Việc làm này giúp tổng hợp kiến thức một các khoa học hơn cho cả những
câu hỏi của phần lí thuyết và tiết kiệm được thời gian làm bài
c. Biết khai thác biểu đồ có trong các bản đồ của Atlat địa lí Việt Nam
Thông thường mỗi bản đồ ngành kinh tế đều có từ 1- 2 biểu đồ ( cột, đường,
tròn, miền...) bên cạnh thể hiện sự tăng, giảm về giá trị tổng sản lượng, về
diện tích đối với các ngành nông – lâm nghiệp của các ngành kinh tế. Học
sinh cần biết cách khai thác các biểu đồ trong các bài có liên quan để đỡ phải
nhớ nhiều số liệu trong phần lí thuyết.
Ví dụ: Có câu hỏi trắc nghiệm như sau:
Trong cơ cấu kinh tế theo ngành của Đồng bằng sông Hồng hiện nay
A. ngành dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhất
B. ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất
C. ngành công nghiệp- dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhất
D. ngành công nghiệp- dịch vụ chiếm tỉ trọng thấp nhất
Với câu hỏi này để đỡ phải nhớ số liệu và chắc chắn đáp án chọn là đúng
học sinh có thể dựa vào biểu đồ trong bản đồ Atlat trang 26 vùng kinh tế.
Như vậy bằng cách này học sinh sẽ lựa chọn được đúng đáp án cho phần
câu hỏi.``
11


hai kĩ năng sau:
Thứ nhất phải trang bị cho học sinh kĩ năng nhận dạng biểu đồ. Học sinh
phải nắm được 5 dạng biểu đồ cơ bản gồm biểu đồ cột, đường biểu diễn, tròn,
miền và kết hợp. Để chọn đúng được biểu đồ cho yêu cầu câu hỏi học sinh
cần căn cứ vào 2 yếu tố đó là yêu cầu của đề bài và bảng số liệu
Biểu đồ cột: khi đề bài yêu cầu thể hiện tình hình, sổ lượng, khối lượng, so
sánh, giá trị ...của đối tượng, nếu chỉ có một đối tượng một đại lượng thì chọn
cột đơn, từ lớn hai đố tượng , hai đại lượng và giữa chúng độc lập nhau thì
chọn biểu đồ cột ghép, trường hợp xuất hiện một đối tượng có giá trị bằng
tổng giá trị các đối tượng còn lại thì chọn biểu đồ cột chồng như Diện tích
rừng bằng diện tích rừng tự nhiên cộng rừng trồng, dân số bằng số dân thành
thị cộng số dân nông thôn, giá thị xuất nhập khẩu bằng giá trị xuất khẩu cộng
nhập khẩu...vv
Biểu đồ đường biểu diễn: Học sinh sẽ chọn dạng biểu đồ này khi đề bài
yêu cầu thể hiện sự phát triển, sự tăng, sự thay đổi và tốc độ tăng trưởng, đặc
biệt trong trường hợp bảng số liệu không xuất hiện đối tượng mà đề bài yêu
12


cầu thể hiện nhưng học sinh phải hiểu và chọn biểu đồ đường, đó là trường
hợp khi bảng số liệu cho giá trị xuất khẩu và nhập khẩu qua một số năm và
yêu cầu thể hiện cán cân xuất nhập khẩu ( cán cân xuất nhập khẩu = xuất khẩu
– nhập khẩu, đó chính là khoảng chênh lệch của đường thể hiện giá trị xuất
khẩu và đường thể hiện giá trị nhập khẩu), trường hợp của bảng số liệu về dân
số, cho tỉ suất sinh và tỉ suất tử và yêu cầu chọn biểu đồ thích hợp thể hiện tỉ
xuất gia tăng dân số tự nhiên cũng chọn biểu đồ đường biểu diễn ( tỉ suất gia
tăng dân số tự nhiên = tỉ suất sinh thô – tỉ suất tử thô)
Biểu đồ tròn: khi đề bài yêu cầu thể hiện cơ cấu, qui mô và cơ cấu, sự
chuyển dịch, sự thay đổi cơ cấu và bảng số liệu chỉ bao gồm lớn nhất là 3 năm
hoặc 3 quốc gia, 3 vùng ... có nghĩa nhiều nhất chỉ có 3 hình tròn

Trắc nghiệm – khách quan gồm nhiều dạng và dạng được áp dụng nhiều
cho học sinh THPT đặc biệt trong kì thi THPT Quốc Gia là dạng trắc nghiệm
– khách quan nhiều lựa chọn, vì vậy ở phần này tôi trình bày chủ yếu phương
pháp hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề trắc nghiệm – khách quan nhiều lựa chọn
13


Phương pháp kiểm tra – đánh giá trắc nghiệm khách quan gồm dung lượng
kiến thức lớn, bao phủ được toàn bộ chương trình, cùng một nội dung kiến
thức người biên soạn câu hỏi có thể viết được nhiều đề khác nhau bởi vì mỗi
một câu trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tra một chuẩn kiến thức hoặc kĩ
năng nhất định nào đó. Điều đó cũng yêu cầu học sinh để chọn đúng đáp án
cho câu hỏi cần đọc kĩ đề ( phần câu dẫn của đề ) để biết được đề nói về vấn
đề tự nhiên hay kinh tế - xã hội, đề yêu câu ở mức độ nào, học sinh thường
gặp các cụm từ chọn đáp án đúng, đáp án đúng nhất ( quan trọng nhất, hàng
đầu, chủ yếu, thuận lợi nhất ...) hay đề ở dạng câu phủ định ( không đúng,
chưa chính xác...) nếu không dễ đẫn đến hiểu sai câu hỏi và từ đó dẫn đến
việc chọn đáp án sai
Dạng câu hỏi chọn đáp án đúng thường hay gặp nhất , nếu các vững vàng
về kiến thức và kĩ năng sẽ trả lời được.
Ví dụ 1: Cho câu hỏi. Một trong những hướng giải quyết việc làm của nước
ta hiện nay là thực hiện đa dạng hóa các hoạt động sản xuất, chú ý thích đáng
đến hoạt động của các ngành
A. xây dựng
B. nông nghiệp C. thủ công nghiệp D. dịch vụ
Học sinh đọc kĩ đề để hiểu giải quyết việc làm cần ngành kinh tế tạo ra
nhiều việc làm và như vậy đáp án được chọn là dịch vụ
Ví dụ 2: Dạng câu hỏi chọn đáp án quan trọng nhất, hàng đầu, chủ yếu, thuận
lợi nhất , đúng nhất... học sinh phải đọc kĩ câu dẫn cũng như đáp án để chọn
được câu trả lời. Như câu hỏi: Tài nguyên thiên nhiên vùng biển có ý nghĩa

2716,3
14


2012
2015

729,9
3097,7
676,6
3245,3
(Nguồn: Niên giám thống kêViệt Nam 2016, NXB Thống kê, 2017)
Để thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng cây công nghiệp phân theo nhóm
cây ở nước ta năm 2005 và 2015, biểu đồ nào sau đây thích hợp nhất?
A. Biểu đồ miền
B. Biểu đồ cột
C.Biểu đồ tròn D. Biểu đồ đường
Nếu nhìn vào bảng số liệu và không đọc kĩ đề học sinh sẽ chọn đáp án A vì
BSL có 4 năm và đề bài yêu cầu chọn biểu đồ thể hiện cơ cấu, tuy nhiên đề
bài chỉ yêu cầu thể hiện hai năm 2005 và 2015 vậy biểu đồ thích hợp nhất
phải là tròn. Khi làm câu hỏi này từ đề khảo sát của Sở, nhiều học sinh trường
tôi đã chọn sai đáp án vì đọc lướt đề.
Như vậy việc đọc, phân tích kĩ đề là rất quan trọng, sẽ giúp cho việc chọn
được đáp án đúng, từ đó các em sẽ có kết quả làm bài cao
IV. HIỆU QUẢ TỪ CÁC KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH
LÀM CÁC DẠNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN Ở
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG IV.
Qua nghiên cứu, tôi thấy đề tài này có thể áp dụng để hướng dẫn cho học
sinh học tập môn Địa lí ở cả 3 khối lớp. Trong quá trình giảng dạy của mình,
tôi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này để giảng dạy, từ đó rèn luyện cho


40

4

10

22

4

12G

40

7

13

18

2

12M

37

2

12

giỏi
khá
TB
kém
12A

40

6

14

18

2

12G

40

10

15

14

1

12M


điểm yếu,
học sinh
giỏi
khá
TB
kém
12A

40

7

17

15

1

12G

40

10

18

12

0


điểm
điểm điểm
điểm yếu,
học sinh
giỏi
khá
TB
kém
12A

40

11

18

14

0

16


12G

40

15

19

kĩ năng làm bài tập trắc nghiệm khách quan cá em đã có sự tiến bộ rõ rệt
trong kết quả học tập, đặc biệt là ở các lớp theo khoa học xã hội. Điều đó
mang lại cho bản thân tôi sự tự tin và hi vọng vào kết quả tốt đẹp ở kì thi
trung học phổ thông Quốc Gia năm 2018 của học sinh trường mình.
Với các đồng nghiệp trong tổ tôi khi chia sẻ những kinh nghiệm này, các
anh chị và các bạn đồng nghiệp đều nhận thấy rất khả quan khi áp dụng
hướng dẫn cho các em học sinh đặc biệt các em khối 12 chuẩn bị bước vào kì
thi THPT Quốc Gia.
Như vậy qua những kết quả trên chúng ta thấy rằng việc trang bị cho các
em phương pháp làm bài trắc nghiệm - khách quan là rất quan trọng, việc áp
dụng sáng kiến trên để trang bị cho các em kiến thức, kĩ năng làm bài đã
mang lại những kết quả đáng khích lệ.

17


C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trên đây là những nghiên cứu và áp dụng của tôi trong quá trình giảng dạy,
qua tham khảo ý kiến đồng nghiệp, qua ý kiến của học sinh tôi thấy đây là
một đề tài có thể áp dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên để có
thể áp dụng được rộng rãi tôi thấy rằng mỗi giáo viên cần liên tục nâng cao
tay nghề, suy nghĩ tìm tòi những cách làm mới hướng dẫn học sinh bằng
nhiều cách khác nhau tiếp cận kiến thức bài học, nắm chắc kiến thức, mở rộng
tư duy, trau dồi vốn tư liệu, ngôn ngữ để có được phương pháp làm bài thêm
mềm dẻo, sáng tạo. Tất cả những điều đó đòi hỏi mỗi người giáo viên phải có
một niềm say mê và tâm huyết với nghề, luôn khát vọng đem đến cho học
sinh những kiến thức vững chắc, những phương pháp, kĩ năng làm bài hiệu
quả, kích thích được sự hứng thú, đam mê học tập và chỉ khi đó những
phương pháp, kĩ năng làm bài mới có thể trở thành những giá trị thiết thực với

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH, ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ
GD&ĐT về Hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra.
2. Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH, ngày 08 tháng 10 năm 2014 của Bộ
GD&ĐT về hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy
học và kiểm tra, đánh giá.
3. Một số vấn đề về tâm lý học, Phạm Minh Hạc, NXB Giáo dục, Hà Nội
(1992).
4. Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên THPH về kĩ thuật xây dựng
ma trận đề và biên soạn câu hỏi kiểm tra, đánh giá
5. Nghị quyết 29-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI thông qua ngày 04/11/2013, Hà Nội năm 2016
6. Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc Hội về đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

19


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4
----------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM
CÁC DẠNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ
Ở TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4



9
nghiệm khách quan……………….....................................................
1. Những yêu cầu cần thiết để học sinh làm các dạng bài tập
9
trắc nghiệm khách quan………………………………………………
2. Những kinh nghiệm cụ thể để hướng dẫn học sinh làm các
10
dạng bài tập trắc nghiệm khách quan…………………….……….
2.1. Tổ chức dạy học thông qua tư đồ tư duy và tổ chức trò chơi
10
2.2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng Atlat địa lí Việt Nam cho học
11
sinh…….
2.3. Rèn luyện kĩ năng nhận dạng biểu đồ, nhận xét biểu đồ,
12
bảng số liệu………………………………………………………….…..
2.4. Hướng dẫn học sinh đọc và phân tích kĩ phần câu dẫn của
14
câu trắc nghiệm khách quan…………………………………………..
IV. Hiệu quả của các kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các
dạng bài tập trắc nghiệm khách quan ở trường THPT Quảng Xương 15
4.......................................................................
C. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ..................................................
18
1. Kết luận..........................................................................................
18
2. Kiến nghị......................................................................................
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status