DẠY học gắn LIỀN với sản XUẤT KINH DOANH tại địa PHƯƠNG sử DỤNG HIỆU QUẢ PHÂN bón hóa học NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT cây dứa TRÊN địa bàn bỉm sơn - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG T.H.P.T BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

DẠY HỌC GẮN LIỀN VỚI SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI
ĐỊA PHƯƠNG: “SỬ DỤNG HIỆU QUẢ PHÂN BÓN HÓA
HỌC NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT CÂY DỨA TRÊN ĐỊA
BÀN BỈM SƠN”

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hương
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Hóa

1


I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Thị xã Bỉm Sơn – mảnh đất địa đầu phía bắc tỉnh Thanh Hóa và của cả miền trung.
Phần lớn diện tích của Bỉm Sơn là đồi nên thích hợp với phát triển về nông nghiệp, lâm
nghiệp.
Đặc biệt khí hậu và đặc điểm thổ nhưỡng rất thích hợp cho cây dứa phát triển. Phần lớn
diện tích đất đồi tại Bỉm Sơn hiện nay đều được bà con nông dân trồng cây dứa. Tuy
nhiên, hiện nay người trồng dứa vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm lâu năm, chưa cập
nhật những đổi mới về khoa học kỹ thuật nên năng suất chưa cao. Với những tiến bộ về
khoa học kỹ thuật, hiện nay nhiều loại phân bón thích hợp đã được nghiên cứu và đưa
ra thị trường để phù hợp với đặc điểm mỗi loại cây trồng. Trên địa bàn phường Bắc
Sơn, thị xã Bỉm Sơn, có chi nhánh của nhà máy phân bón Tiến Nông, đã đưa ra thị
trường nhiều loại phân bón phù hợp với các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây

những sản phẩm phân bón mới (của nhà máy phân bón đóng trên địa phương), dùng
hiệu quả cho cây dứa đến được với bà con nông dân.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1. Về lý thuyết: Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về phân bón hóa học và tác dụng của phân
bón hóa học với cây dứa.
1.4.2. Về thực nghiệm
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin, tìm hiểu thực tiễn đối với bà con nông
dân trồng dứa trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn.
- Tổng hợp, so sánh số liệu trước và sau khi áp dụng đề tài.

Cô giáo và học sinh đang đi khảo sát thực trạng sử dụng phân bón cho cây dứa của người dân trồng
dứa tại nhà ông Phạm Văn Lộc, khu 6- phường Bắc Sơn, Bỉm Sơn, Thanh Hóa.

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1. Vai trò của các nguyên tố trung, vi lượng đến cây dứa
Cây dứa cũng như các loại cây ăn quả khác có nhu cầu dinh dưỡng rất lớn để nuôi cây
và đảm bảo năng suất. Hơn nữa, do mật độ trồng trên một đơn vị diện tích lớn, tổng
3


lượng sinh khối cao, cho nên dứa hút nhiều chất dinh dưỡng từ đất. Dưới đây là vai trò
của các chất dinh dưỡng:
2.1.1.1.Vai trò của Canxi (CaO)
Canxi: Cây dứa có nhu cầu về canxi tương đối cao. Do vậy, trên những vùng đất trồng
dứa liên tục nhiều năm, cần bón Lân nung chảy để cung cấp đủ canxi cho dứa. Dứa
thiếu canxi cho quả nhỏ, lá có màu lục xỉn, trên phiến lá xuất hiện một số đốm vàng,
đầu ngọn các lá mới mọc có vết đỏ sẫm.
Khi bị thiếu canxi nặng, các vết đỏ lan rộng ra đến phần gốc của lá, cây thường ra quả
non, khi bổ ra trong ruột có những chỗ có màu trắng nhợt, trong đó có dính nhớt. Ngoài

2.1.1.6. Vai trò của sắt (Fe)
Vai trò quan trọng nhất của sắt là hoạt chất của enzym của quá trình quang hợp và hô
hấp. Nó không tham gia vào thành phần diệp lục nhưng có ảnh hưởng quyết định tới sự
tổng hợp diệp lục trong cây.
Sự thiếu hụt Fe thường xảy ra trên nền đất có đá vôi. Lá cây thiếu sắt sẽ chuyển từ màu
xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, trong khi gân lá vẫn còn xanh. Triệu chứng
thiếu sắt xuất hiện trước hết ở các lá non, sau đến lá già, vỡ Fe khụng di động từ lá già
về lá non.
2.1.1.7. Vai trò của đạm (N)
Cây hút đạm chủ yếu ở dạng NH4+ và NO3-. Đạm là thành phần quan trọng trong các
chất hữu cơ rất cơ bản và cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây như các chất
diệp lục, nguyên sinh chất, axit nucleic (AND và ARN), các loại men, các chất điều hòa
sinh trưởng. Đạm quyết định sự phát triển của các mô tế bào sống của cây. Bón đủ đạm
cây sinh trưởng nhanh, ra nhiều chồi, lá và cành, hoa quả nhiều và lớn, tích lũy được
nhiều chất nên cho năng suất cao và chất lượng tốt.
2.1.1.8. Vai trò của Lân (P):
Cây hút lân chủ yếu dưới dạng khoáng của photphat (H 2PO4-) và (HPO42-). Lân có vai
trò cung cấp trong quá trình trao đổi năng lượng và tổng hợp chất protein. Lân là thành
phần chủ yếu của các chất ADP và ATP là những chất dự trữ năng lượng cho các quá
trình sinh hóa trong cây, đặc biệt là cho quá trình quang hợp, sự tạo thành phần chất béo
và protein.
- Lân thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ cây, kích thích sự hình thành nốt sần ở các cây họ
đậu.
- Lân thúc đẩy sự ra hoa và hình thành quả ở cây, là yếu tố chủ yếu quyết định chất
lượng hạt giống.
- Lân giúp cây tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận như rét, hạn, sâu
bệnh.
- Lân còn có tác dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm. Bón đủ lân, cây không
những sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà chất lượng nông sản cũng cao.
2.1.1.9. Vai trò của kali (K)

trồng đối với vụ đầu tiên, bón lót ngay sau khi thu hoạch quả, đối với các vụ sau của
dứa là rất cần thiết. Bón lót cho dứa có ảnh hưởng quyết định đến thời gian sinh trưởng
của cây, làm cho cây ra hoa kết quả sớm.
Phân dùng để bón lót chủ yếu là phân lân (bón 100% lượng lân). Nơi có điều kiện có
thể bón thêm phân chuồng hoai mục hoặc phân rác ủ kỹ với lượng 10-50 tấn/ha tuỳ
thuộc vào khả năng và điều kiện ở từng nơi. Với các lô dứa trồng mới, ngoài việc bón
phân lân với phân chuồng cần rắc vôi lên toàn bộ diện tích khi làm đất.
- Bón thúc cho đứa theo các đợt như sau:
Đợt 1: Sau trồng độ 3 – 4 tháng. Bón thúc vào giai đoạn này giúp cho cây con hồi xanh
nhanh, chuẩn bị bước vào giai đoạn sinh trưởng mạnh.
Đợt 2: Sau trồng 6-7 tháng. Thời kỳ này cây dứa bắt đầu sinh trưởng mạnh cả về thân,
lá, rễ. Bón phân thúc làm tăng tốc độ ra lá cũng như làm xòe rộng tán thúc đẩy quá trình
vận chuyển và tổng hợp chất hữu cơ để chuẩn bị cho phân hóa hoa tự.

6


Đợt 3: Sau khi trồng 9-10 tháng. Đợt bón thúc này có tác dụng kích thích sự phân hoá
hoa tự, tạo tiền đề cho cây ra hoa kết quả tốt, quả phát triển nhanh. Để đạt năng suất tối
đa, có thể bón thêm một đợt thúc vào khoảng tháng 4-5, sau khi hoa nở xong, kết hợp
với tỉa chồi hoặc hạn chế chồi ngọn phát triển. Bón thúc để nuôi quả chỉ nên dùng phân
kali có thể bổ sung thêm một số nguyên tố vi lượng, nhất là Bo.
2.1.2.3.Quy trình bón phân cho cây dứa
Bón lót: bón trước khi trồng 3 - 4 ngày
+ Phân chuồng hoai: 10 tấn/ha (500kg/500m2; 360kg/360m2)
+ Hỗn hợp trung, vi lượng chuyên dùng cho cây dứa (thơm) (nên sử dụng sản phẩm gốc
Chelate)
+ Đạm Urea: 120 - 140kg/ha (6 - 7kg/500m2; 4 - 5,5kg/360m2)
+ Lân nung chảy (Hoặc Supe lân): 180 - 220 kg/ha (9 - 11kg/500m2; 7 - 9kg/360m2)
+ Kali Sunphat (hoặc Kali Clorua): 170 - 190kg/ha (8,5 - 9kg/500m2; 6 - 7kg/360m2)

đã mọc tốt, nhu cầu chất dinh dưỡng tăng rất nhanh, đặc biệt là Kali (gấp 4 - 5 lần so
với đạm).
Mỗi giống dứa có những nhu cầu về loại phân bón, lượng phân bón khác nhau. Với
nhóm dứa Queen, bón với tỉ lệ phân NPK 2: 1: 3 với lượng cụ thể cho một cây là: l0
gam N, 5gam P2O5, 15gam K2O. Bón 3 gam Magiê/ cây cho tác dụng tốt ở bất kỳ tỉ lệ
phân NPK nào. Khi bón tecmophôphat với lượng 5gam P2O5/cây thì không cần bón
Magiê nữa. Còn đối với nhóm dứa Cayen, khi điều kiện cho phép cần bón phân NPK
với tỉ lệ 2: 1: 4 ở mức l0gam N, 5gam P2O5, 20 gam K2O/ cây.
2.1.3. Các sản phẩm phân bón cho cây dứa của nhà máy Tiến Nông chi nhánh tại
thị xã Bỉm Sơn Thanh Hóa.
Hình ảnh nhà máy phân bón Tiến Nông chi nhánh Bỉm Sơn, Thanh Hóa.
Căn cứ theo đặc điểm khí hậu, thời tiết và điều kiện thổ nhưỡng các vùng trồng dứa Việt
Nam, công ty cổ phần nông nghiệp Tiến Nông giới thiệu sản phẩm dinh dưỡng cây
trồng Tiến Nông chuyên dùng “NPK cây dứa” và khuyến cáo giải pháp đồng bộ dinh
dưỡng cho canh tác và chăm sóc cây dứa nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
Cải tạo đất bằng “Chất điều hòa pH đất”, tăng cường chất hữu cơ và mùn đất bằng
“Dinh dưỡng cây trồng Tiến Nông hữu cơ khoáng Vinagreen” và cung cấp dinh dưỡng
cho cây dứa bằng sản phẩm “NPK cây dứa”.

Một loại sản phẩm chuyên dùng cho cây dứa của nhà máy Tiến Nông
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Một thực trạng của học sinh, sinh viên Việt Nam hiện nay là xa rời thực tiễn, học không
đi đôi với hành. Một phần do chương trình học còn nặng về lý thuyết suông, xa rời thực
tế. Một phần do áp lực học ở nhà trường và áp lực thi cử còn nặng nên tâm lý cha mẹ
dành mọi điều kiện thời gian để con đi học thêm. Vì vậy nhiều em học sinh không biết
đến thực tiễn, đặc biệt thực tiễn sản xuất kinh doanh tại địa phương. Ở thị xã Bỉm Sơn,
có 5/8 xã phường có nhiều hộ dân làm nông nghiệp như: Quang Trung, Bắc Sơn, Hà
8



- Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ
- Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ:
- Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Chia lớp thành các nhóm, phân công nhiệm vụ cho mỗi nhóm tìm hiểu. Các nhóm sẽ có
2 tuần để thực hiện dự án, trong quá trình thực hiện GV sẽ hỗ trợ, giúp đỡ các nhóm nếu
gặp khó khăn.
Nhóm 1: Tìm hiểu quy trình sản xuất phân bón hóa học. Các sản phẩm phân bón hóa
học sản xuất tại nhà máy phân bón Tiến Nông Bỉm Sơn.
9


Nhóm 2: Tìm hiểu các sản phẩm phân bón dành riêng cho cây dứa, tác dụng của các
nguyên tố dinh dưỡng đối với cây dứa.
Nhóm 3: Tìm hiểu về các giai đoạn chăm sóc cây dứa, cách bón phân thích hợp để tăng
năng suất cây dứa.
Nhóm 4: Tự hoạch toán kinh tế, tính hàm lượng dinh dưỡng mà cây dứa cần trong mỗi
giai đoạn phát triển. Từ đó tính lượng phân bón cần thiết cho 1 ha dứa.
-Thời gian: hoàn thành báo cáo về chủ đề, các nội dung chủ đề của các nhóm là 2 tuần.
- Các nhóm chuẩn bị các kiến thức bằng kênh hình và kênh chữ trên 1 tờ giấy A 0. Nội
dung để thuyết minh tối đa 5 phút.
- Các nhóm cử nhóm trưởng, thư ký, thảo luận, phân công nhiệm vụ cho từng thành
viên trong nhóm một cách cụ thể (theo mẫu), cử đại diện lên báo cáo.

Các nhóm đang thảo luận
Hình ảnh đại diện 1 HS đang tổng kết các báo cáo
2.3.4.2. Các hoạt động trải nghiệm thực tế: 3 tiết.
Sau khi giao nhiệm vụ tìm hiểu cho các nhóm HS, giáo viên tổ chức cho cả lớp đi thực
địa để học sinh biết được giữa kiến thức lý thuyết và thực tế.
Tiết thực nghiệm thứ 1: Tham quan nhà máy phân bón Tiến Nông trên địa bàn thị xã
Bỉm Sơn. HS chuẩn bị giấy bút để ghi chép lại các kiến thức tìm hiểu được để viết báo

bằng hình ảnh.
Nhóm nghiên cứu phát tờ rơi tuyên truyền, phổ biến về cải tiến phương pháp
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,
đồng nghiệp và nhà trường.
Sau quá trình dạy học theo dự án (1 tiết lý thuyết, 3 tiết thực nghiệm) tôi nhận thấy đã
đạt được một số hiệu quả sau:
- Học sinh hứng thú hơn trong học tập, các em chủ động tìm hiểu thông tin. Biết thu
thập thông tin, xử lý thông tin để báo cáo thuyết trình.
- Giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức môn học, tăng kỹ năng vận dụng các kiến
thức từ sách vở và thực tế đời sống.
- Thông qua các hoạt động trải nghiệm cũng giúp các em có kĩ năng sống: hợp tác, trình
bày, chia sẻ và trở thành những tuyên truyền viên giỏi.
- Đồng thời qua đó giúp học sinh biết ứng dụng công nghệ thông tin mạng vào đời sống
một cách thiết thực, hiệu quả.

11


- Tìm hiểu được quy trình trồng cây dứa, một cây trồng rất phù hợp với địa bàn Bỉm
Sơn, tìm hiểu về đặc tính sinh học của cây dứa từ đó giải thích theo cơ sở khoa học
những biện pháp mà người dân đã làm, từ đó có thể đề xuất thêm những phương pháp
mới để nâng cao năng suất.
- Giới thiệu đến bà con nông dân những sản phẩm phân bón mới, hiệu quả, thích hợp
với cây dứa của nhà máy phân bón tại địa phương. Để bà con nông dân sử dụng tăng
năng suất cây trồng với giá cả hợp lý, đồng thời giúp nhà máy phân bón của địa phương
đưa sản phẩm đến với người sản xuất.
- Sau vụ thu hoạch, ghi nhận ý kiến từ bà con nông dân, nhận thấy năng suất thu hoạch
đã cao hơn so với với trước khi tư vấn cho người trồng trọt.

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

3.
4.
5.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách giáo khoa Công nghệ 10, NXB Giáo dục.
Sách giáo khoa Sinh học 10,11,12, NXB Giáo dục.
Sách giáo khoa Hóa học 11 NXB Giáo dục.
Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên theo chuyên đề “Học tập gắn liền với sản xuất kinh
doanh tại địa phương”.
Một số thông tin về phân bón của Cty CP phân bón Tiến Nông.

13


DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN MÀ TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG CẤP
PHÒNG GD VÀ ĐT, CẤP SỞ VÀ CÁC CẤP CAO HƠN ĐÁNH GIÁ TỪ LOẠI C
TRỞ LÊN
-Năm học 2001-2002 được loại C cấp sở GD & ĐT với đề tài: “Một số quá trình hóa
học phụ thuộc vào các tiến hành phản ứng”.
-Năm học 2004-2005 được loại C cấp sở GD & ĐT với đề tài: “Đổi mới phương pháp
kiểm tra đánh giá môn hóa”.
-Năm học 2007-2008 được loại C cấp sở GD & ĐT với đề tài: “Phương pháp giải nhanh
bài toán hóa học điện phân”
-Năm học 2009-2010 được giải C cấp sở GD & ĐT với đề tài: “Sử dụng phương trình
ion rút gọn để giải nhanh bài toán hóa học”
14


-Năm học 2012-2013 được loại B cấp sở GD & ĐT với đề tài: “Ứng dụng công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status