Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
- Lý do chọn đề tài
Giáo dục phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng
dân trí, đáp ứng yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực và kinh tế - xã hội
của một quốc gia.
Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các
môn văn hóa và tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có quan hệ chặt chẽ với hoạt
động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường THPT, nhằm tạo môi
trường cho người học, gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với
hành động và cơ hội trải nghiệm của họ, góp phần tích cực vào việc hình thành và
phát triển kỹ năng sống, khả năng tự giáo dục, tự rèn luyện cho học sinh. Hoạt
động GDNGLL giúp nhà trường và giáo viên phát triển các chương trình giáo dục,
xây dựng văn hóa nhà trường.
Hoạt động GDNGLL là linh hồn của các hoạt động tập thể trong nhà trường.
Nó là thước đo sự phối hợp tổ chức các hoạt động của các lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường nhằm góp phần “… nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản
lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hoá giáo dục. Phát huy tinh
thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, đề cao năng lực tự học, tự hoàn
thiện học vấn và tay nghề …”.
Tuy nhiên, trong thực tiễn các nhà trường THPT ở địa bàn tỉnh Thanh Hoá
nói chung và ở huyện Hoằng Hoá nói riêng, chưa chú ý nhiều đến hoạt động
GDNGLL cho HS. Nhận thức và năng lực của CBQL, đội ngũ GV còn nhiều hạn
chế, vì thế chất lượng hoạt động GDNGLL chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục
toàn diện cho HS. Điều đó thể hiện ở sự yếu kém về kỹ năng sống, kỹ năng thích
ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, năng lực tổ chức quản lý, năng
lực hợp tác... của học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông
Lương Đắc Bằng- huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá”.
- Mục đích nghiên cứu

2.1.2. Nghiên cứu ở trong nước.
Nghiên cứu về hoạt động GDNGLL đã thu hút sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu, của các nhà giáo trong cả nước bắt đầu từ những năm 80 của của thế
kỷ XX đến nay. Song, từ năm 1979 trở về trước đã có một số tài liệu đề cập đến. Ở
giai đoạn này mô tả tên gọi và nội dung khái niệm “hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp” chưa được định hình, nhưng nội hàm cơ bản của khái niệm đã được đề cập
trong “ Thư gửi học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945 của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Người viết: “... Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham
gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để
giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”. Trong “ Thư gửi
Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Hồ Chủ tịch nhắc tới một khía
cạnh khác của nội hàm khái niệm khi Người viết: “ Trong lúc học, cũng cần làm
cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong
trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học” [tr85].
Một số bài viết về kinh nghiệm thực tiễn của các trường phổ thông trong tổ
chức sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa, hoạt động GDNGLL mà tác giả là
giáo viên, CBQL trường phổ thông như: Trần Thị Minh Hiền, giáo viên THPT Chu
Văn An - Hà Nội; Trần Văn Thế, Phó Hiệu trưởng trường THPT Giao Thủy - Nam
Định; Nguyễn Hoài Nam, trường Phổ thông vùng cao Việt Bắc...
Qua tìm hiểu chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về quản
lý và các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT.
2.1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ
thông
* Mục đích của hoạt động GDNGLL
Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống tốt của dân tộc, biết tiếp thu
những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại; củng cố mở rộng kiến thức đã học
trên lớp, có ý thức trách nhiệm đối với bản thân và xã hội, có ý thức lựa chọn nghề
nghiệp tương lai cho bản thân.
* Ý nghĩa của hoạt động GDNGLL
2

chuyên môn

Kế hoạch hoạt độngGDNGLL
bắt buộc (theo chủ điểm)

Chương
trình sân
Nguyện
chơi mới
vọngHS
Các yếu tố HS
khác
Kế hoạch hoạt độngGDNGLL
không bắt buộc(tự chọn)

Kế hoạch HĐGDNGLL
tháng, tuần

Hình 1.2: Sơ đồ kế hoạch HĐGDNGLL ở trường THPT

* Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Căn cứ nội dung hoạt động GDNGLL được đề cập tại Điều lệ trường Trung
học (2007) đồng thời đối chiếu với các hoạt động thực tiễn của các trường THPT
hiện nay, hoạt động GDNGLL có bốn nhóm nội dung cơ bản sau: hoạt động lao
3


động - hướng nghiệp; hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch; hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục - thể thao; hoạt động xã hội - chính trị.
Hoạt động lao động - hướng nghiệp: Học sinh vệ sinh trường lớp, trang trí
lớp, chăm sóc cây trồng, bảo vệ tài sản công… thể hiện qua các phong trào

mối quan hệ giữa các bộ phận, xác lập chức năng quyền hạn của từng bộ phận, xây
dựng quy chế hoạt động nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ được giao. Để thực
hiện điều đó, cần:
- Thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo Thông Tư
số 32/TT ngày 15/10/1988 của Bộ Giáo dục và Trung Ương Đoàn Thanh Niên
Cộng Sản Hồ Chí Minh: Mỗi trường thành lập Ban chỉ đạo (hay điều hành) các
hoạt động ngoài giờ lên lớp dưới sự chủ trì của Hiệu trưởng (hay Phó Hiệu trưởng)
với sự tham gia của Bí thư Đoàn trường và một số giáo viên bộ môn, giáo viên chủ
nhiệm phụ trách các hoạt động.
- Ban chỉ đạo có nhiệm vụ:
+ Giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch chương trình hoạt động hàng năm và
chỉ đạo thực hiện chương trình kế họach đó
+ Tổ chức thực hiện những họat động lớn, quy mô trường và thực hiện sự
phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn và các lực lượng giáo dục khác ở ngoài nhà
trường trong các hoạt động
+ Tổ chức hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm và cán bộ Đoàn, lớp tiến hành các
hoạt động ở đơn vị mình đạt hiệu quả
+ Giúp Hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục của
hoạt động GDNGLL.
- Đảm bảo các điều kiện cần thiết để hoạt động GDNGLL thực hiện đúng kế
hoạch.
c) Chỉ đạo hoạt động GDNGLL.
Chỉ đạo là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách
thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Chỉ đạo thực hiện hoạt đông GDNGLL bao
gồm:
- Chỉ đạo việc thực hiện chương trình;
- Chỉ đạo việc vận dụng các phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL;
5



Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hoá
Chủ điểm tháng 1
2 tiết
dân tộc
Chủ điểm tháng 2
Thanh niên với lý tưởng cách mạng
2 tiết
Chủ điểm tháng 3
Thanh niên với vấn đề lập nghiệp
2 tiết
Chủ điểm tháng 4
Thanh niên với hoà bình, hữu nghị và hợp tác
2 tiết
Chủ điểm tháng 5
Thanh niên với Bác Hồ
2 tiết
Thời gian trong hè
Chủ điểm hoạt động Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng
6 tiết

Trong mỗi chủ điểm của từng tháng, sách giáo khoa cũng nêu gợi ý nội dung
và hình thức hoạt động. Ví dụ: Ở lớp 10, chủ điểm tháng 11 “Tôn sư trọng đạo”,
các nội dung và hình thức hoạt động được gợi ý là: Lễ đăng ký “Tuần học tốt,
tháng học tốt”; Thảo luận về truyền thống “Tôn sư trọng đạo”; Tổ chức kỷ niệm
ngày Nhà giáo Việt Nam 20 -11.
+ Phần tự chọn: được bố trí trong chương trình giúp nhà trường có thêm
những hình thức hoạt động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa
phương và phù hợp với điều kiện của nhà trường, đồng thời cũng giúp nhà trường
mở rộng thêm các hình thức hoạt động mang tính sáng tạo, tính địa phương, tính
6

d) Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDNGLL.
Kiểm tra là xem xét, kiểm soát việc thực hiện kế hoạch của các bộ phận, các
cá nhân liên quan đến hoạt động nhằm đánh giá kết quả đạt được, phát huy nhân tố
tích cực, phát hiện ngăn ngừa tiêu cực, giúp đỡ các đối tượng hoàn thành tốt nhiệm
vụ. Kiểm tra là khâu không thể thiếu trong quản lý. Trong quá trình tổ chức các
hoạt động GDNGLL người quản lý kiểm tra, đánh giá mức độ thực hiện dựa trên
kế hoạch và qua kết quả đạt được. Kiểm tra việc làm cụ thể của từng thành viên,
giáo viên, học sinh. Có thể kiểm tra bằng nhiều cách: Dự các hoạt động, quan sát,
trao đổi, xem xét hồ sơ, sổ sách…Sau khi kiểm tra cần rút kinh nghiệm hoạt động,
uốn nắn, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch và theo dõi việc sửa chữa. Biểu dương
những cá nhân hoặc tập thể đạt được nhiều thành tích và có nhiều thu hoạch tốt.
Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh tập trung vào ba yêu cầu: nâng cao
nhận thức, rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng tình cảm thái độ hứng thú của học sinh.
Họat động của học sinh phải được đánh giá kịp thời, công khai, khách quan để góp
phần động viên, kích thích hứng thú và tính tích cực hoạt động của các em. Có 4
mức độ đánh giá kết quả hoạt động của học sinh: Tốt, khá, trung bình, yếu.
7


2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng
* Mục đích khảo sát
- Để có cơ sở khoa học xác định, phân tích thực trạng quản lý hoạt động
GDNGLL của nhà trường, đề tài điều tra đối với các cán bộ quản lý tại trường
THPT.
- Đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL (bao gồm các đồng chí trong
BGH và các đồng chí tổ trưởng của nhà trường), cán bộ đoàn, GV và học sinh nhà
trường về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của hoạt động GD NGLL.
- Đánh giá thực trạng hoạt động GDNGLL ở nhà trường
- Đánh giá thực trạng quản lý và đề xuất biện pháp quản lý đối với hoạt động

- Đối với cán bộ quản lý.
+ Có 48,8 % CBQL cho rằng: hoạt động GDNGLL là hoạt động mang tính
giáo dục
8


+ 27,2% cho rằng hoạt động GDNGLL là hoạt động của Đoàn thanh niên
+ 10,3% cho rằng đây là hoạt động vui chơi giải trí
+ 13,7% cho rằng hoạt động GDNGLL là hoạt động ngoại khoá.
Qua đó chứng tỏ nhận thức về vai trò của hoạt động GDNGLL của nhà quản
lí còn thiếu đồng nhất, chưa đầy đủ. Từ đó, việc đầu tư thời gian cũng như vật chất
cho hoạt động GDNGLL còn hạn chế, nhiều nhà quản lí còn thờ ơ đứng ngoài cuộc
coi đó là nhiệm vụ của Đoàn.
- Đối với giáo viên.
+ Có 47,5 % giáo viên cho rằng hoạt động GDNGLL là hoạt động giáo dục
+ 31,5 % đồng nhất hoạt động GDNGLL với hoạt động của Đoàn thanh niên
+ 13,5 % coi đó là hoạt động vui chơi giải trí
+ 7,5 % coi đó là hoạt động ngoại khoá.
Như vậy nhận thức của giáo viên về hoạt động GDNGLL còn thấp hơn
CBQL. Có tới 31,5 % đồng nhất hoạt động GDNGLL với hoạt động Đoàn. Chính
vì thế nhiều giáo viên (trong đó có cả giao viên chủ nhiệm lớp) ít quan tâm đầu tư
cho hoạt động, coi đó là hoạt động của Đoàn và vì thế giao phó cho đoàn thực hiện
hoặc có tham gia cũng chỉ là hình thức đối phó.. Giáo viên bộ môn chỉ chú tâm vào
giảng dạy chuyên môn trong sách giáo khoa một cách thụ động mà ít đầu tư suy
nghĩ tìm ra cách thức truyền đạt thông qua các hoạt động GDNGLL
- Đối với học sinh.
Bảng 2.5: Nhận thức của học sinh đối với hoạt động GDNGLL
TT
1
2

hỏi nguyên nhân các em trả lời do bận học nhiều, sợ mất thời gian, gia đình các em
làm nông nghiệp phải phụ giúp gia đình, nhà trường tổ chức nhiều hoạt động em
không thích…
2.2.3. Thực trạng thực hiện các nội dung hoạt động GDNGLL.
* Về hoạt động lao động - hướng nghiệp
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động lao động - hướng nghề, hướng nghiệp
Mức độ đánh giá
Trung
Đối tượng
Số ý
Tốt
Khá
Yếu
TT
bình
khảo sát
kiến
S
SL
%
SL
%
SL %
%
L
9


1
2

2
7
14

33
20
18
14
17

1
1
1
4
7

33
5
9
8
8

0
0
0
0
0

Qua bảng số liệu ta thấy, hơn 92 % đối tượng khảo sát đánh giá hoạt động
này đạt mức độ khá và tốt. Vì nó được mọi đối tượng quan tâm, kết quả của hoạt

3

2

Cán bộ Đoàn

20

9

45

7

35

4

20

0

3

Tổ trưởng

11

4


0

84

19

23

35

42

30

39

0

Tổng hợp chung

SL
2

%
66,7

Yếu
SL
%
0


* Hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao
Bảng 2.8: Kết quả hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao
TT
1
2
3
4


Đối tượng
khảo sát
Cán bộ quản lý
Cán bộ Đoàn
Tổ trưởng
Giáo viên
Tổng hợp chung

Số ý
kiến

Tốt
SL
2
18
9
42
71

03

0
5
10
3
6
10
12
3
3.5

Yếu
SL
0
0
0
0
0

%
0
0
0
0
0

Từ bảng số liệu trên (bảng 2.8) cho thấy có 96.5 % cán bộ quản lý, cán bộ
Đoàn, tổ trưởng, giáo viên đánh giá tốt và khá hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể
dục - thể thao. Thực hiện hoạt động này rất thuận lợi, nó gắn với hoạt động giáo
dục tri thức và vui chơi ( hội thi tài năng các môn văn hóa, văn nghệ, thể thao…),
góp phần bồi dưỡng cho học sinh động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú học

SL
%
2
67
16
80
9
82
40
80
67
80

Mức độ đánh giá
Khá
Trung bình
SL
%
SL
%
1
33
0
0
4
20
0
0
2
18

nhưng chưa đầu tư đúng mức, cách tổ chức đơn điệu, thiếu đổi mới nên hoạt động
thiếu sức hấp dẫn, tạo ra sự nhàm chán cho cả thầy và trò. Việc tham quan du lịch
tuy được số đông học sinh ủng hộ nhưng đòi hỏi về vấn đề kinh phí nên cũng gây ít
nhiều trở ngại cho hoạt động.
Nhận xét chung: Hoạt động nào được thầy cô quan tâm, chăm chút và phù
hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh sẽ được các em tích cực tham gia và
đạt kết quả cao hơn. Hoạt động được đánh giá có kết quả tốt nhất và học sinh ưa
11


chuộng nhất là hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao; đứng thứ hai là
hoạt động vui chơi, tham quan du lịch; tiếp theo là hoạt động lao động - hướng
nghiệp và hoạt động xã hội - chính trị. Hoạt động xã hội - chính trị đạt tỷ lệ ủng hộ
thấp nhất. Tỷ lệ này cho ta thấy đây là dạng hoạt động khó tiếp cận với học sinh
hơn các hoạt động khác. Vì vậy đòi hỏi sự đầu tư và nỗ lực của nhà trường nhiều
hơn nữa.
2.2.4. Thực trạng sử dụng các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động
GDNGLL.
Hoạt động GDNGLL đã, đang diễn ra trong các nhà trường THPT rất đa dạng
và phong phú, nó gắn liền với các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường nhằm
thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Song để có cái nhìn tổng quát về thực trạng
hoạt động này chúng tôi có bảng khảo sát ở đối tượng là CBQL và Giáo viên, kết
quả thu được như sau:
Bảng 2.10: Nhận định của CBQL, giáo viên về hình thức tổ chức hoạt động
GDNGLL
Tốt
(%)
64,5
46,2
35,4


40,0

51,1

6,5

2,4

0,0

25,7

16,3

53,2

2,6

2,2

6

Các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện...

42,3

46,2

9,7

3,1

16,6

21,8

35,2

17,8

8,6

64,3

24.0

11,7

0

0

STT
1
2
3
4
5

8

0

0

12

Các hoạt động chăm sóc, bảo vệ môi trường
sạch đẹp

60,2

27,8

12,0

0

0

9

12


Qua kết quả khảo sát trên chúng ta dễ dàng nhận thấy: Trong số các hoạt
động GDNGLL thường tổ chức trong nhà trường có những hình thức tổ chức hoạt
động được CBQL, giáo viên quan tâm và đánh giá rất cao (hoạt động lao động
hương nghiệp 90,9 % khá tốt và hoạt động sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt cuối tuần
chiếm 90,5 % khá tốt; các hoạt động CT-XH, VHVN, TDTT chiếm 35,4 đến
42,3% tốt và 46,2 đến 56,1 khá; các cuộc thi tìm hiểu và phong trào thi đua giữa

Học sinh

2014 - 2015

33,3

47.2

80

83

2015 - 2016

33,3

50

83

83

2016 - 2017

33.3

56.1

87


không cũng được. Khi được hỏi nguyên nhân các em trả lời do bận học nhiều, sợ
mất thời gian, gia đình các em làm nông nghiệp phải phụ giúp gia đình, nhà trường
tổ chức nhiều hoạt động em không thích…
2.4.6.Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường đã quán triệt tinh thần thực
hiện kế hoạch năm học một cách nghiêm túc, đúng tiến độ thời gian đến tận mỗi
cán bộ giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh.
Riêng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, do đặc thù của bộ môn và nhằm
giúp các em học sinh nâng cao những hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc
cũng như giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố mở rộng và khắc sâu kiến thức
đã học trên lớp, có ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã
hội; bước đầu có ý thức định hướng nghề nghiệp; xây dựng và ổn định nề nếp, tạo ra
một sân chơi lành mạnh, bổ ích; phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu,
lĩnh hội tri thức khoa học đã được học ở nhà trường xây dựng tình bạn, tình đoàn kết,
tương thân tương ái cho các em học sinh.
Nhận thức được điều đó, Ban giám hiệu nhà trường đã phối kết hợp với các
tổ chức trong trường và trên địa bàn - Đặc biệt là tổ chức Đoàn thanh niên triển
khai nhiều hoạt động với quy mô lớp, liên lớp, khối lớp vào các buổi học, tuần học
và theo chủ đề từng tháng như chương trình của Bộ. Ban giám hiệu nhà trường
phân công một cán bộ phụ trách lập kế hoạch điều hành thực hiện hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động giáo dục hướng nghiệp trên cơ sở chương trình
do Bộ quy định và thực tế nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.
- Tổ chức cụ thể các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
+ Hoat động xen kẽ với chương trình, kế hoạch giảng dạy các môn trên lớp;
sinh hoạt đầu giờ, sinh hoạt lớp, chào cờ đầu tuần;
Phối hợp với tổ chức Đoàn thanh niên trong việc giáo dục chính trị, tư
tưởng, giáo dục truyền thống cho học sinh trong toàn trường.
Tuyên truyền học tập Nghị quyết của Đảng với 100% học sinh tham gia và
làm bài thu hoạch; Học tập luật An toàn giao thông đường bộ 100% làm bài thu
hoạch; Học tập 6 bài lý luận chính trị; tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm...

- Đối với cán bộ quản lý: Phải tránh xu hướng chỉ coi trọng hoạt động
chuyên môn, chỉ lo đối phó với việc dạy học chính khóa và thi cử. Phải xem hoạt
động GDNGLL là hoạt động hết sức cần thiết trong việc thực hiện mục tiêu giáo
dục toàn diện của nhà trường. Sự thay đổi quan niệm của cán bộ quản lý sẽ tác
động đến đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL, sẽ làm thay đổi và
thúc đẩy sự phát triển hoạt động GDNGLL và các hoạt động giáo dục khác trong
nhà trường.
- Đối với giáo viên: Cần bỏ quan niệm dạy học để đi thi. Nhận thức đúng về
vai trò, sự cần thiết của hoạt động GDNGLL để từ đó giáo viên tích cực học tập,
rèn luyện nâng cao nghiệp vụ, quan tâm đầu tư, gắn hoạt động GDNGLL với các
hoạt động giáo dục khác trong nhà trường.
- Đối với học sinh và phụ huynh học sinh: Giúp các em nhận thức rõ tầm
quan trọng và lợi ích khi tham gia hoạt động GDNGLL, thấy được con đường hình
thành và phát triển nhân cách thông qua các hoạt động. Từ nhận thức trên, các em
tự giác, vượt qua những trở ngại, tham gia các hoạt động một cách chủ động, nhiệt
tình và tích cực hơn. Thực hiện điều này, cũng có nghĩa nhà trường đã gián tiếp
thực hiện được một biện pháp tuyên truyền tác động đến nhận thức phụ huynh về
hoạt động ngoài giờ bằng thái độ và việc làm cụ thể của con em họ. Cùng với việc
làm trên, nhà trường cần có biện pháp tác động để phụ huynh học sinh và các lực
lượng giáo dục khác thấy được tham gia hoạt động GDNGLL không chỉ cần thiết
trong việc hình thành nhân cách học sinh mà còn là một yêu cầu bắt buộc theo mục
tiêu đào tạo, theo yêu cầu giáo dục toàn diện của nhà trường. Để từ đó, phụ huynh
học sinh và các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường có sự ủng hộ, phối hợp, tạo
mọi điều kiện thuận lợi thực hiện các hoạt động ngoài giờ.
c) Tổ chức thực hiện.
15


Bí thư Đảng uỷ nhà trường tham mưu với Đảng Ủy quán triệt các biện pháp
tuyên truyền, tranh thủ sự ủng hộ của Đảng Ủy để tìm “tiếng nói chung” trong các

đánh giá xếp loại viên chức trong nhà trường.
2.3.2. Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch hoạt động GDNGLL.
a) Mục đích của biện pháp
Nội dung là kế hoạch hành động sư phạm kết nối với mục tiêu giáo dục, với
phương pháp, với phương tiện dạy học, với việc tổ chức hoạt động và cách đánh
giá kết quả hoạt động của học sinh.
Xây dựng nội dung hoạt động phải mang tính kế thừa, phù hợp với đặc điểm
lứa tuổi, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, phù hợp với thực tiễn,
tinh giản - thiết thực, đảm bảo vừa sức và khả thi.
b) Nội dung của biện pháp.
- Xây dựng nội dung cho các tiết sinh hoạt trên lớp:
16


Với thời lượng quy định 2 tiết/tháng, người nghiên cứu nghĩ rằng các trường
nên xếp thời khóa biểu cách tuần (tuần 1, 3 hoặc 2, 4 trong tháng) để có thời gian
cho giáo viên và học sinh chuẩn bị, đồng thời các tiết sinh hoạt ngoài giờ lên lớp
nên xếp trùng thời gian để tạo không khí hoạt động chung cho trường và việc ca
hát, reo hò, cổ vũ khi hoạt động không ảnh hưởng đến việc học tập của lớp khác.
Căn cứ vào nội dung được gợi ý trong sách giáo khoa và tình hình thực tế ở
nhà trường.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động GDNGLL khái quát cho cả năm học (tính từ
tháng 9 cho đến hết hè). Ví dụ ta có bảng sau:
KÕ ho¹ch ho¹t ®éng ngoµi giê lªn líp khèi
Nội
Mục
Điều kiện
Chủ dung Hình thức
Phân công
đích yêu

tổ chuyên môn, giáo viên (chủ nhiệm – bộ môn) xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt
động GDNGLL phù hợp với vị trí, điều kiện công tác của mình nộp lại cho Ban chỉ
đạo của nhà trường.
Bước 3: Trên cơ sở kế hoạch của các tổ chức đoàn thể, tổ chuyên môn, cá
nhân giáo viên. Ban chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch chung cho toàn trường sao cho
phù hợp. Đồng thời, lấy đó làm cơ sở để theo dõi mức độ thực hiện của các tổ
chức, cá nhân trong việc tổ chức các hoạt động GDNGLL trong suốt năm học.
2.3.3. Bồi dưỡng kỹ năng hoạt động GDNGLL và quản lý hoạt động cho
đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ lớp.
a) Mục đích của biện pháp.

17


Nhằm bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ hoạt động GDNGLL cho đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên và học sinh, để từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động GDNGLL,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.
b) Nội dung của biện pháp
- Đối với cán bộ quản lý: Cần nắm vững mục tiêu, vị trí, vai trò, những yêu
cầu đổi mới về phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL để định hướng cho việc
chỉ đạo và tuyên truyền, phổ biến trong cộng đồng xã hội. Thực hiện bồi dưỡng kỹ
năng, nghiệp vụ cho giáo viên, học sinh và các lực lượng tham gia tổ chức hoạt
động GDNGLL trong nhà trường.
- Đối với giáo viên, cán bộ Đoàn: Học tập, thảo luận và thực hành nghiêm
túc những nội dung bồi dưỡng thường xuyên, nội dung các lớp tập huấn, nội dung
bồi dưỡng chuyên đề thông qua sinh hoạt chuyên môn, nhất là việc tự học, tự
nghiên cứu tài liệu để hiểu và nắm vững những kiến thức nền tảng bộ môn, nội
dung chương trình, phương pháp tổ chức, quy trình tổ chức, việc kiểm tra đánh giá
hoạt động GDNGLL cũng như việc chuẩn bị và sử dụng thiết bị dạy học theo định
hướng đổi mới phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT.

2.3.4. Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL cho
học sinh
a) Mục đích của biện pháp
Nhằm khắc phục lối dạy truyền thống áp đặt một chiều, thực hiện vai trò của
người thầy là chủ đạo, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động cho học sinh.
Phát huy tính tích cực tự giác, vai trò chủ thể của học sinh trong hoạt động
GDNGLL, đem lại niềm vui, tạo hứng thú trong hoạt động học tập cho học sinh.
Tăng cường hoạt động cá thể phối hợp với hợp tác tập thể, phát huy năng lực
tự học.
b) Nội dung của biện pháp
- Đa dạng hóa các hình thức hoạt động GDNGLL ở trường THPT: Giáo viên
phải nắm thật chắc nội dung hoạt động đã được đơn vị thống nhất lựa chọn trong
từng tiết sinh hoạt, trong các hoạt động chung và phần tự chọn. Sau đó lựa chọn
các hình thức hoạt động cho phù hợp, hình thức này có thể được thay đổi hoặc
được nhắc lại ở mỗi chủ đề, chủ điểm để giúp học sinh thực hiện các hoạt động
GDNGLL một cách linh hoạt, chủ động hơn. Bên cạnh đó, gắn đổi mới các hình
thức hoạt động với đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL để tăng
cường tính chất tương tác, phát huy tính sáng tạo trong học sinh khi tham gia vào
hoạt động. Tính sáng tạo là công cụ nhận thức giúp học sinh nâng cao hiểu biết của
mình qua hoạt động. Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL là để
khuyến khích tính sáng tạo của học sinh.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, của học sinh trong hoạt động
GDNGLL: Sự tham gia của học sinh tạo điều kiện cho các em phát huy tinh thần
trách nhiệm trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của tập thể. Đổi mới
phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL không chỉ kiên quyết khắc phục cách
làm áp đặt, bao biện, làm thay học sinh mà còn phải đưa học sinh vào những tình
huống cụ thể với những công việc được giao cụ thể. Có như vậy mới giúp các em
có điều kiện để trưởng thành. Cùng với việc làm trên, cần bồi dưỡng, phát huy cao
độ khả năng của đội ngũ cán bộ lớp và khéo léo lôi cuốn mọi thành viên trong lớp
cùng tham gia vào các khâu của quy trình hoạt động.

Bước 1: Chuẩn bị hoạt động
Hiệu quả của các hoạt động GDNGLL lớp phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn
chuẩn bị, trong bước này, cả giáo viên và học sinh cùng tham gia hoạt động chuẩn
bị. Chính trong bước này, giáo viên có điều kiện để thực hiện đổi mới phương
pháp. Muốn vậy, giáo viên phải:
- Lựa chọn nội dung và hình thức hoạt động. Mỗi hoạt động có nội dung
riêng của nó, có hoạt động thì nội dung khá dài, song có những hoạt động thì nội
dung lại rất ngắn gọn. Vì vậy, tùy theo mức độ dài ngắn, độ khó dễ, độ cập nhật với
bối cảnh xã hội hay chỉ là những nội dung đời thường… mà giáo viên quyết định
chọn hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL nào là phù hợp. Để làm
được điều này, giáo viên phải: Làm rõ những nội dung cần thiết cho hoạt động.
Trên cơ sở đó định hướng cho học sinh sưu tầm, tìm hiểu, tập hợp thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau nhằm bổ sung cho phong phú hơn. Nội dung hoạt động
phải phù hợp với yêu cầu của thực tiễn nhà trường, địa phương, đất nước, phù hợp
với đặc điểm lứa tuổi, nhu cầu, hứng thú của học sinh.
- Vạch kế hoạch, thời gian chuẩn bị, thời gian tiến hành hoạt động (thời gian
chuẩn bị dài hay ngắn tùy theo yêu cầu của hoạt động cụ thể).
- Dự kiến được nội dung công việc, hình dung được tiến trình hoạt động,
những công việc phải chuẩn bị và phân công cụ thể lực lượng tham gia chuẩn bị.
- Dự kiến sẽ giao những nhiệm vụ gì cho đối tượng nào, thời gian phải hoàn
thành là bao lâu…
- Bản thân giáo viên sẽ làm những việc gì để thể hiện sự tương tác tích cực
giữa thầy và trò trong bước chuẩn bị này.
- Về phía học sinh: Khi được giao nhiệm vụ sẽ chủ động bàn bạc cách thực
hiện trong tập thể lớp. Các em phải chỉ ra được những việc phải làm, phân công rõ
ràng, đúng người đúng việc.
- Dự kiến các tình huống xảy ra trong quá trình hoạt động và cách ứng xử,
giải quyết.
- Tranh thủ sự phối hợp, giúp đỡ của các lực lượng giáo dục khác trong và
ngoài trường (nếu cần).

mới giáo dục THPT nói chung, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL
nói riêng trong nhà trường. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động
các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực hỗ trợ cho các hoạt động. Phối hợp các lực
lượng giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi về
kinh phí, phương tiện dạy học để đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động
GDNGLL đồng thời chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm.
Phó hiệu trưởng chuyên môn phối hợp các bộ phận, trực tiếp chỉ đạo tổ chức
thực hiện hoạt động GDNGLL theo kế hoạch.
Bí thư đoàn thanh niên cùng giáo viên hướng dẫn cán bộ lớp, Đoàn viên
nòng cốt những kỹ năng sinh hoạt, kỹ năng tự quản, một số trò chơi, tìm những
phương tiện, đồ dùng phục vụ cho hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Tổ trưởng chuyên môn, cùng với cùng giáo viên trao đổi, thống nhất lựa
chọn nội dung phương pháp hoạt động, thiết kế bài giảng, lựa chọn và kết hợp sử
dụng các thiết bị, phương tiện dạy học của những môn học khác vào hoạt động
GDNGLL, thực hiện quy trình tổ chức hoạt động GDNGLL theo hướng đổi mới,
đánh giá kết quả hoạt động của học sinh.
Giáo viên bộ môn, phụ trách thiết bị nhà trường tư vấn cho giáo viên chủ
nhiệm những đồ dùng, thiết bị dạy học có thể vận dụng được.
21


Phụ trách các bộ phận (Y tế học đường, Thư viện, Thiết bị…) nắm những
yêu cầu đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL để có biện pháp hỗ trợ
tích cực cho hoạt động chung của nhà trường.
Giáo viên tìm tòi, suy nghĩ những biện pháp tác động để thu hút học sinh
tham gia các hoạt động của nhà trường.
d) Điều kiện thực hiện.
Tập thể sư phạm quán triệt quan điểm đổi mới giáo dục THPT nói chung, đổi
mới phương pháp tổ chức họat động GDNGLL nói riêng.
Dự toán đúng, huy động đủ nguồn lực tài chính (trích từ kinh phí nhà

về nhận thức thái độ, hành vi, kỹ năng giao tiếp… Bên cạnh đó cũng cần đánh giá
thái độ, tình cảm của học sinh đối với hoạt động GDNGLL để tìm hiểu sự hứng
thú, nhu cầu đối với hoạt động, tâm lý sẵn sàng tham gia hoạt động một cách chủ
động và sáng tạo, cùng giúp đỡ nhau trong hoạt động và niềm tin vào kết quả sau
hoạt động. Việc đánh giá được thực hiện bằng nhiều hình thức: bằng quan sát, bằng
22


phiếu tự đánh giá, phiếu hỏi, đánh giá qua bài viết, qua sản phẩm hoạt động, qua
tọa đàm, trao đổi ý kiến, qua nhận xét… Kết quả đánh giá học sinh không chỉ thể
hiện sự trưởng thành của các em mà còn thể hiện khả năng tổ chức hoạt động của
giáo viên. Kết quả này sẽ tạo cơ sở cho giáo viên tự rèn luyện trình độ nghiệp vụ
sư phạm của mình, giúp họ tự hoàn thiện mình cả về trình độ học vấn, về nghệ
thuật sư phạm, về nhân cách người thầy.
- Đối với giáo viên: Kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình, việc thiết
kế và quy trình thực hiện các họat động, việc vận dụng các phương pháp tổ chức
họat động ngoài giờ lên lớp theo định hướng đổi mới, việc đánh giá kết quả hoạt
động của học sinh. Việc kiểm tra được thực hiện bằng nhiều hình thức: xem hồ sơ,
sổ sách, bài soạn, dự các tiết sinh hoạt, dự các hoạt động, tiếp xúc, trò chuyện với
học sinh…
- Đối với các bộ phận: Kiểm tra việc thực hiện công tác chuyên môn, việc hỗ
trợ, phối hợp với giáo viên, với các bộ phận khác trong hoạt động GDNGLL bằng
nhiều hình thức: xem hồ sơ sổ sách (Ví dụ: Kiểm tra số lượng học sinh, giáo viên
trong sổ mượn sách của thư viện qua các chủ đề hoạt động để đánh giá tính tích
cực học tập của giáo viên và học sinh, hiệu quả của việc mua sắm, trang bị, chọn
lọc sách của thư viện, kết quả của hoạt động giới thiệu sách…); dự các hoạt động
(Ví dụ: quan sát việc thực hiện các thao tác sơ cấp cứu tai nạn để đánh giá việc
tuyên truyền và tập huấn của bộ phận y tế học đường); trao đổi, trò chuyện với học
sinh để đánh giá sự hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của các em… đối với
hoạt động GDNGLL.

Trên thực tế, việc đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động GDNGLL ở các
trường THPT còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân song cơ bản vẫn là vấn đề
NSNN cấp cho các nhà trường chủ yếu chỉ dành cho các hoạt động dạy học các
môn văn hoá, hoạt động GDNGLL lâu nay bị coi là thứ yếu, nên ít được quan tâm
đầu tư. Vì vậy, việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động GDNGLL là
một nhu cầu cấp bách cần giải quyết hiện nay.
b) Nội dung.
Đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị dạy học (trong đó
có trang thiết bị tổ chức các hoạt động GDNGLL) là một nhiệm vụ hàng đầu của
các nhà trường. Tuy nhiên, công việc này đòi hỏi lượng kinh phí rất lớn mà nguồn
NSNN cấp cho giáo dục lại có định mức. Vấn đề ở đòi hỏi CBQL nhà trường cần
có biện pháp khả thi để tìm ra một cách giải quyết có hiệu quả.
c) Cách thức thực hiện.
Qua khảo sát tình hình thực tế, chúng tôi cho rằng:
- Trước hết, các nhà trường nên có biện pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng có
hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị sẵn có.
- Xây dựng kế hoạch dài hạn về tăng cường cơ sở vật chất bằng nhiều nguồn
khác nhau:
+ Nguồn NSNN cấp.
+ Kêu gọi các nguồn kinh phí, trang thiết bị hỗ trợ (từ các doanh nghiệp, cá
nhân, các cựu học sinh thành đạt có tâm huyết với giáo dục của nhà trường).
+ Huy động sự ủng hộ của Hội phụ huynh hàng năm hỗ trợ kinh phí, công
sức cho việc tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động: Bê tông hoá sân trường;
mua sắm dụng cụ thể dục thể thao; sửa sang khuôn viên nhà trường xanh - sạch đẹp..
+ Bản thân nhà trường cũng có kế hoạch sử dụng nguồn kinh phí tích luỹ
hàng năm cho việc đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động.
Trên cơ sở kế hoạch dài hạn, nhà trường nên cụ thể hoá thành kế hoạch cho
mỗi kỳ, mỗi năm học. Với phương châm tu bổ, sửa sang dần dần để sau một thời
gian ngắn, nhà trường đã có một cơ ngơi khang trang sạch đẹp. Đây là điều kiện tốt
nhất cho hoạt động GDNGLL có kết quả.

HS tinh thần tập thể hợp tác với cộng đồng, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng
bầu không khí đoàn kết thân ái trong tập thể nhà trường.
Tổ chức Đoàn Thanh niên luôn giữ vai trò tiên phong trong việc tổ chức các
hoạt động GDNGLL, nên đã huy động hầu hết lực lượng GV trẻ nhiệt tình tham
gia hoạt động GD tập thể, sinh hoạt ngoài trời.
Tuy nhiên, trong khi quản lý hoạt động GDNGLL nhà trường gặp không ít
khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi phải có thời gian và có sự quyết tâm phát huy nội
lực từng nhà trường trên từng địa bàn, phải thống nhất hành động cao trong toàn
thể CBQL, GV, HS và cộng đồng xã hội.
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận:
- Qua nghiên cứu lý luận, chúng tôi đã làm rõ được các khái niệm cơ bản và
đã trình bày được nội dung quản lý hoạt động GDNGLL trong trường phổ thông,
làm cơ sở để nghiên cứu thực trạng quản lý công tác GDNGLL.
- Qua nghiên cứu thực trạng, chúng tôi đã:
+ Nắm được tình hình trường lớp, số lượng, chất lượng đội ngũ quản lý, thầy
cô giáo và học sinh, CSVC, trang thiết bị phục vụ cho việc học tập nói chung và
công tác quản lý hoạt động GDNGLL nói riêng của nhà trường
+ Thấy được thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở nhà trường hiện nay
còn nhiều hạn chế. Nhà trường đã có tổ chức hoạt động GDNGLL cho học sinh
nhưng còn mang tính hình thức, các hoạt động còn đơn điệu chưa thực sự lôi cuốn
các em học sinh. Chưa chú ý đến việc giáo dục các kỹ năng sống, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng địng hướng ... cho học sinh.
- Qua nghiên cứu lý luận và thực trạng chúng tôi đã đề xuất 6 biện pháp
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status