I-MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
“Sức khỏe là cái xe chở tri thức” nó là vốn quý nhất của con người. Vì thế mà
nền giáo dục của chúng ta đã đem nôn Thể dục vào ở tất cả các cấp học, với mục
đích nâng cao sức khỏe cho mọi người, đào tạo thế hệ trẻ có một thể lực dồi dào
đáp ứng được công cuộc “Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”.
Việc giáo dục thể chất, chăm lo đời sống tinh thần nâng cao sức khỏe cho thế hệ
trẻ đã được Đảng và nhà nước đặc biệt chú trọng quan tâm.
Ngành giáo dục và đào tạo của chúng ta đã nhận thấy được tầm quan trọng
của các môn thể thao.Đặc biệt là đáp ứng với phong trào tập luyện và thi đấu
môn Cầu lông rộng khắp trên toàn quốc, vì vậy môn Cầu lông đã được đem vào
chương trình học bắt buộc cho học sinh THPT mà chương trình cũ chỉ ở nội
dung tự chọn.
Tập luyện Cầu lông là phương pháp tập luyện thể chất và rèn luyện sức khỏe
hiệu quả nhất.Trong lúc tham gia hoạt động hầu như các chi, cơ, bắp, khớp, các
bộ phận trên cơ thể đều hoạt động. Đặc biệt các hệ thống tuần hòan, hô hấp, bài
tết, hệ tim mạch … đều tham gia một cách tích cực. Các giác quan nghe, nhìn,
phán đoán và sự quyết đoán, tính sáng tạo, khéo léo… của người chơi càng phát
triển. Ngoài ra cầu lông còn mang lại tác dụng thư giản, là sân chơi bổ ích cho
mọi người sau giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi.
Mặt khác bất kì trình độ nào, lứa tuổi nào, giới tính nào, tầng lớp xã hội nào
củng đều có thể hòa đồng trong một sân chơi cầu lông, không phân chia giai
cấp, đảng phái,dân tộc, tôn giáo…
Xét về thực tế môn Cầu lông ở Việt Nam chúng ta nói chung và Thanh Hóa
nói riêng mặc dù phong trào rông khắp từ nông thôn đến thành thị, từ miền
ngược tới miền xuôi nhưng củng chỉ dừng lại ở phong trào còn thành tích cao thì
đang còn hạn chế, chưa đạt được thứ hạng cao. Quan sát các trận đấu cầu lông
trong tỉnh, các giải Hội khỏe phù đổng cấp tỉnh và cả cấp toàn quốc, qua phỏng
vấn các HLV, các nhà chuyên môn tất cả đều nhận thấy rằng “các vận động viên,
học sinh, sinh viên của chúng ta thi đấu chưa đạt hiệu quả cao là do thể lực
chuyên môn còn yếu, chưa đáp ứng được các yêu cầu ở các trận đấu kéo dài
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Một số bài tập nhằm nâng cao thể lực chuyên môn môn cầu lông cho học sinh
lớp 11.
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 11 trường THPT Thạch Thành 2
II- NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN:
1.1.Một số khái niệm vềthể lực môn cầu lông.
Huấn luyện thể lực là sự vận dụng các phương pháp và biện pháp của các loại
hình bài tập thể thao để trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng và tác động có
hiệu quả lên các tổ chức, chức năng các cơ quan, quá trình trao đổi chất và cấu
trúc hình thái cơ thể nhằm đạt được mục đích thúc đẩy quá trình cung cấp năng
lượng, nâng cao sức khỏe, năng lực thi đấu. Huấn luyện thể lực gồm có huấn
luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn.
Huấn luyện thể lực chung là sử dụng các bài tập thể thao, trong đó áp dụng rộng
rãi nội dung tập luyện của các môn điền kinh, thể dục, cử tạ…nhằm phát triển
các tố chất thể lực: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự khéo léo.
Huấn luyện thể lực chuyên môn bao gồm các bài tập mà môn cầu lông yêu cầu
được tiến hành một cách chặt chẽ với đặc điểm chuyên môn của cầu lông.
=>Huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn, mặc dù có khác nhau về
mục đích, song lại có sự liên quan mật thiết với nhau và chúng tạo nên sự hoàn
chỉnh trong công tác huấn luyện thể lực. Để nâng cao thể lực môn cầu lông thì
dựa trên các tố chất thể lực như sức mạnh, sức nhanh, sức bền và sự khéo léo.
- Khái niệm sức mạnh: Là một trong các yếu tố thể lực, đó là khả năng tạo ra
lực cơ học bằng nổ lực cơ bắp. Nói cách khác là năng lực khắc phục lực cản
bên ngoài hoặc chống lại nó bằng sự co rút của cơ bắp.
- Khái niệm sức nhanh: Là khả năng thực hiện động tác trong một thời gian
ngắn nhất
2
Một số giáo viên, học sinh coi môn Thể dục là môn học phụ, việc học chỉ
mang tính chất đối phó, không có sự quan tâm chú ý.
Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn chưa đáp ứng yêu cầu môn học.Học sinh
không có sách giáo khoa, thời gian học lí thuyết ít (2 tiết/ năm).Từ năm học
2011-2012 việc kiểm tra đánh giá bằng xếp loại (không cho điểm), nên học sinh
chưa có sự nỗ lực cố gắng trong học tập.
Giờ học chủ yếu ngoài trời, khó vận dụng CNTT vào quá trình giảng dạy, học
sinh không có sự tập trung cao.
2.2.Thực trạng đối với giáo viên:
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết, nhiệt tình với nghề, chưa tự
học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyện môn.
3
- Một số nội dung không phải chuyên ngành, vì vậy giáo viên làm mẫu
động tác chưa đẹp, chính xác. Không tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn đối
với học sinh.
- Một số giáo viên chưa vận dụng linh hoạt hợp lí các phương pháp, cũng
như nguyên tắc tập luyện, nhằm phát huy hứng thú học tập của học sinh.
2.3. Thực trạng đối với học sinh:
- Nhiều học sinh chưa nhận thức đúng về môn học, coi môn học Thể dục là
môn phụ. Việc học là đối phó, không có sự nỗ lực, cố gắng.
- Là học sinh lớp 11, đặc biệt ở những lớp khối A, các em chủ yếu thích học
những môn khối của mình.
- Nhiều em chưa nắm và hiểu được tác dụng của tập luyện thể dục thể thao,
trình độ thể lực không đồng đều. Một số học sinh nhút nhát không tự tin
vào bản thân, sợ không thực hiện được bài tập thường tìm cách trốn học,
hoặc tìm nhiều lí do để kiến tập.
- Trang phục tập luyện chưa phù hợp, còn nhiều hạn chế. Một số nội dung
của các em. Khi đó giờ dạy của giáo viên mới có chất lượng cao, học sinh tích
cực tự giác hơn trong học tập cũng như trong tập luyện.Từ đó chúng ta thực hiện
được mục đích cơ bản là giáo dục sức khỏe cho học sinh, phát triển thể lực
chuyên môn là nền tảng cho phát triển môn thể thao được nhiều người ưa thích
có thành tích cao hơn.
Trước thực trạng trên làm cho cả giáo viên và học sinh đều giảm hứng thú khi
dạy và học.Vậy nên tôi nghĩ bản thân phải tìm ra giải pháp cải thiện thực trạng
trên nên tôi đã tìm ra giải pháp là SKKN này.
3. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Biện pháp thực hện các bài tập bổ trợ vào giờ học cầu lông để phát triển thể lực
chuyên môn môn cầu lông.
Để góp phần nâng cao hiệu quả của tiết học cầu lông, tôi đã nghiên cứu và vận
dụng đem vào giảng dạy các bài tập bổ trợ phát triển thể lực với thời gian từ 5-6
phút/ tiết (vào phần thể lực của mỗi tiết giáo án) liên tục từ tiết thứ nhất cho tới
tiết cuối cùng của chương trình cầu lông.
3.1. Nhóm bài tập phát triển sức mạnh.
Đặc điểm thi đấu cầu lông và tập luyện cầu lông là người chơi cầu lông phải
luôn di chuyển với tốc độ cao trong phạm vi diện tích sân của mình bằng bước
chạy, bật nhảy, cùng với đó là kết hợp các động tác đánh cầu hợp lí, nhanh,
mạnh để thực hện được ý đồ chiến thuật… Vì vậy sức mạnh trong cầu lông đã
được thể hiện ở các động tác xuất phát, các động tác bật nhảy, khả năng di
chuyển nhanh, và các đông tác đánh cầu… Từ đó cho thấy sức mạnh trong môn
cầu lông là sức mạnh tốc độ.
Năng lực làm việc biểu hiện lớn nhất trong một thời gian ngắn nhất mang tính
đột phá cho nên trong giảng dạy sức mạnh tốc độ pahir sử dụng các phương
pháp đúng để phat triển năng lực là việc với tốc độ cao.
Từ cơ sở lí luận củng như quan điểm vận động tập luyện và thi đấu cầu lông.Các
bài tập để phát triển sức mạnh tốc độ chuyên môn cầu lông được tôi đưa vào cho
học sinh tập luyện các bài tập sau:
x
x
x
x
x
.
x
5m
x x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
Bài tập 1: Nhảy dây.
Mục đích : Phát triển sức nhanh của cổ chân và sự phối hợp vận động của
tay và chân, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước di chuyển để thực hiện
kỉ thuật đánh cầu.
Chuẩn bị: 12 đến 13 dây nhảy đơn (Giáo viên mua hoặc học sinh tự tạo)
Cách tập:
+ Đo dây: 2 tay cầm dây sao cho khi gấp đôi dây để ở vùng “chấn
thủy” (giữa xương ức và bụng) thì dây vừa chạm vào đầu bàn chân.
+ Thực hiện: Khi có hiệu lệnh của giáo vên, từng hàng ngang tập đồng
loạt, chú ý khi nhảy dây đầu gối không được co chỉ dùng sức cổ chân
và nhảy liên tục không có bước đệm.
Thời gian: Mổi tổ 1 phút: nam thực hiện ba tổ, nữ thực hiện 2 tổ. từng
hàng ngang luân phiên nhau để tập luyện.
Đội hình tập luyện:
xx x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
GV
Bài tập 2: Di chuyển ngang nhặt cầu 5,18 m
Mục đích: Phát triển sức nhanh di chuyển ngang.
Chuẩn bị:
+ Quả cầu lông: 10 đến 15 quả/em (có thể dùng cả quả cầu hỏng).
+ Sân cầu lông đơn.
Cách tập: Thực hiện từng hàng đứng dọc giữa sân cầu lông đơn. Có hiệu
lệnh còi tất cả di chuyển sang phải nhặt từng quả cầu ở đường dọc bên
phải di chuyển sang trái bỏ vào giỏ ngoài đường dọc bên trái.
Thời gian: nam thực hiện 3 tổ, nữ thực hiện 2 tổ. mổi tổ 1 phút, nghỉ giữa
các tổ là 1 phút.
Đội hình tập luyện:
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Giỏ đựng cầu
x x x x x
x
Người tậpx
x
x
x
x
x
x
x
lưới
.
GV
3.3. Nhóm bài tập phát triển sức bền.
Trong môn cầu lông sức bền có những đặc trưng riêng.Hoạt động tập luyện và
thi đấu cầu lông đòi hỏi người tập phải thường xuyên di chuyến nhanh, phán
đoán nhanh và họ phải thường xuyên bật nhảy đập cầu. Ngoài ra hoạt động thi
đấu cầu lông được đánh theo hiệp không bị khống chế thời gian. Do đó thời gian
cho mỗi trận là không cố định. Vì vậy sức bền trong cầu lông thể hiện ở sức bền
mạnh và sức bền nhanh. Để phát triển 2 loại sức bền này chúng ta cần tập cho
học sinh tập những bài tập sau:
Bài tập 1: Bật cóc tiến, bật cóc lùi.
Mục đích: phát triển sức bền mạnh của cơ chân nhằm tăng khả năng sức
bền nhảy đập cầu.
Cách thực hiện: Tập đồng loạt ở đội hình 4 hàng ngang giản cách 1 sải
x
x
x
x
x
x
x
x
x
.
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
khác nhau. Song tùy theo mục đích hành động với từng trường hợp cụ thể mà
một năng lực nào đó sẽ cần được thể hiện trội hơn năng lực khác. Đặc biệt là các
năng lực liên kết, định hướng, phân biệt, phản ứng và thích ứng , ngoài ra còn có
năng lực nhịp điệu và thăng bằng.
Năng lực liên kết được thể hiện sự phối hợp các bộ phận của cơ thể như chân,
thân mình và tay vào thưc hiện một nhiệm vụ cụ thể của cầu ông. Nó bắt đầu
khâu quan sát, phán đoán, di chuyển và thực hiện kỹ thuật đánh cầu ngang.
Trong mỗi kĩ thuật đơn lẻ khi ta giảng dạy kĩ thuật cho học sinh việc kết hợp các
động tác đặt chân chuyển trọng tâm cơ thể đến hoạt động của tay đòi hỏi người
học sinh phải liên kết các yếu tố không gian, thời gian và mức độ dùng sức một
cách chính xác mới đảm bảo đánh cầu lông đúng yêu cầu, cầu ít bị rơi.
Năng lực định hướng được thể hiện ở khả năng xác định hướng đánh cầu chính
xác và đỡ cầu chính xác.
Năng lực phân biệt vận động được thể hiện khả năng dùng sức cùng với cảm
giác về lưới, về sân bãi chính xác, về cảm giác với vợt, với cầu. Học sinh khi
mới tập do khả năng này còn hạn chế nên tỷ lệ đánh cầu chưa qua lưới hoặc ra
ngoài sân còn cao.
Năng lực phản ứng nhanh thể hiện khả năng phản ứng phản ứng nhanh với cầu
trong mọi tình huống.
Năng lực thích ứng, điều này thể hiện những học sinh chơi cầu lông nhiều và có
trình độ cao hơn. Các em có thể thay đổi mức độ dùng sức hoặc thay đổi các
động tác – đặc biệt cổ tayđể có thể điều chỉnh đường cầu.
Năng lực nhịp điệu và thăng bằng.Năng lực này đặc biệt cần thiết cho học sinh
chúng ta. Nó thể hiện ở việc tiếp thu hoặc hành động một kỷ thuật cầu lông
theo đặc tính nhịp điệu kỹ thuật hoặc khả năng giữ thăng bằng trong hoặc sau
khi thực hiện kỹ thuật.
Qua các quan điểm trên tôi đã đưa vào các bài tập sau để phát triển các năng lực
trên cho các em giúp các em tiếp thu bài học được tốt hơn và phát triển năng lực
vận động tốt hơn.
Bàitập 1: Di chuyển nhặt cầu.
thuật đã học, kỹ thuật thấp thuận và ngược tay.
Cách thưc hiện: 2 người 2 góc lưới phục vụ tung cầu cho người thực hiện
di chuyển bỏ nhỏ qua lưới vào bờ 1,98m. Mỗi sân thực hiện 2 người. Mỗi
người 5 quả cho mỗi bên.
Yêu cầu: Di chuyển nhanh, đánh cầu đúng vào ô.
Đội hình:
x x x x x x x x x x x x
x x x x x x x x x x x x
x x x x x x x x x x x x
x x x x x x x x x x x x
x
.
GVx
x
Người tập
x Người phục vụ
12
=>Trên đây là toàn bộ hệ thống các bài tập bổ trợ phát triển thể lực chuyên môn
cầu lông mà tôi đưa vào giảng dạy cho học sinh trog thời gian các em học nội
dug cầu lông.
3.5. Kiểm tra đánh giá.
Để đánh giá năng lực phát triển về thể lực chuyên môn củng như kỹ thuật mà
các em đã được học tôi đã đưa 3 nội dung đặc trưng để kiểm tra cho cả hai
nhóm.
Mức
kỹ
thuật
A
B
C
10
9
8
7
6
5
4
3
9
8
7
6
5
4
3
2
8
7
6
5
4
3
2
A
10
9
8
7
6
5
4
3
B
9
8
7
6
5
4
3
2
C
8
7
6
5
4
3
2
1
+ Phát cầu cao xa 10 quả.
Người kiểm tra đứng vào ô phát cầu, phát vào ô chéo bên sân còn lại 10 quả rơi
đúng ô cao sân về sau.
8
9
8
7
8
7
6
7
6
5
6
5
4
5
4
3
4
3
2
3
2
1
T
T
1
2
4
Lớp
Số
Loại giỏi
Loại khá
Loại đạt
Không đạt
hs
(Điểm 9-10)
(Điểm 7-8)
(Điểm 5-6)
(Điểm dưới5)
11B2 41
5 em =12,2%
11 em= 26,8% 22 em= 53,6% 3 em = 7,4%
11B4 38
4 em =10,5%
13 em= 34,2% 18 em=43,9% 3em = 11,4%
Tổng 79
9 em =11,4%
24 em=30,4% 40em= 50,6% 6 em =8%
Nhóm được áp dụng các bài tập bổ trợ vào áp dụng tập luyện hàng ngày:
T
quả kiểm tra đánh giá về kĩ thuật cũng như tố chất thể lực của nhóm được thực
nghiệm tăng lên rõ rệt.
Thứ hai: Từ cơ sở các bài tập thể lực đó ở trường, ở lớp, các em đã tích cực hơn
trong việc luyện tập ở nhà và ở các câu lạc bộ cầu lông ở địa phương. Từ đó các
em phát triển tốt hơn về mặt thể chất cũng như trình độ, thể lực và kỹ thuật của
môn cầu lông chuẩn bị cho việc tiếp thu các môn học khác.
Đặc biệt các em học sinh nữ, nhiều em cũng đã rất thích thú tập luyện và đạt kết
quả khá cao.
So sánh thành tích kiểm tra của hai nhóm nghiên cứu:
Loại giỏi: Bình quân tăng 17,35 % (Do loại trung bình và chưa đạt giảm)
15
Loại khá: Bình quân tăng 19,6 % (Do loại trung bình và chưa đạt giảm)
Loại đạt: Bình quân tăng 28,35 % (Do khá giỏi tăng lên)
Loại đạt: Bình quân tăng 8% (Do khá giỏi tăng lên)
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. KẾT LUẬN:
Qua thời gian nghiên cứu và đem vào áp dụng các bài tập bổ trợ trên vào môn
học cầu lông cho các em học sinh, tôi thấy thể lực chuyên môn của các em được
nâng lên rõ rệt.Từ đó các em nắm bắtkĩ thuật được tốt hơn.Giờ học của các em
sinh động hơn, không bị nhàm chán, gò bó.Khi các em vui chơi thể thao (chơi
cầu lông) ngoài giờ học, ở nhà, ở các câu lạc bộ địa phương củng tốt hơn.Và
nhất là các buổi đấu tập các em đã nhanh nhẹn hơn, bền bỉ hơn trong từng xéc
đấu.
Với con số 80 được thực nghiệm và 79 em không được áp dụng bài tập trên ở4
lớp 11 trong năm học 2016 - 2017 ở trường THPT Thạch Thành 2 tôi thấy kết
quả rất tốt với các em được thực nghiệm. Vì vậy tôi mạnh dạn đem một phần
sáng kiến nhỏ của mình trong nhiều năm làm công tác giảng dạy ở trường THPT
để góp phần chung vào việc đàotạo thế hệ trẻ. Mặc dù vậy trên đây là ý kiến chủ
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH
II
Bùi Văn Tiến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hải Châu - Đinh Mạnh Cường - Vũ Đức Thu (Biên soạn), Những
vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông, NXB Giáo dục,
2007
2. Vũ Đức Thu (Tổng chủ biên) - Trương Anh Tuấn (Chủ biên) - Trần Dự Vũ Bích Huệ - Trần Đồng Lâm - Nguyến Kim Minh - Hồ Đắc Sơn - Vũ
Thi Thư - Trần VănSÁNG
Vinh - KIẾN
Đặng Ngọc
Thể dục 11, NXB Giáo
KINHQuang,
NGHIỆM
dục, 2007
3. Nguyễn Mậu Loan, Lí luận và phương pháp giảng dạy TDTT, NXB Giáo
1998 SƠ ĐỒ TƯ DUYTHIẾT KẾ BẰNG PHẦN MỀM
SỬdục,
DỤNG
4. Vũ
Đào Hùng
- TrầnMAP8
BùiTài
Thịliệu
Vuitập huấn giáo viên, dạy
học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng trong chương trình
Chức vụ: Giáo viên
giáo dục phổ thông( lưuhành nội bộ), 2010.
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tin Học
10.Nguyễn Văn Lũy -Lê Quang Sơn ( Đồng chủ biên), Từ điển Tâm lý học,
NXB Giáo dục, 2009.
11.Lê Văn Hồng -Lê Ngọc Lan -Nguyễn Văn Thành, Tâm lý học lứa tuổi và
sư phạm, Hà Nội, 1995.
THANH HOÁ NĂM 2016
17