222222222222222222222222222222222222222222222222222222
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 1
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
222222222222222222222222222222222222222222222222222222
222222222222222222222222222
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP SÁNG TẠO TRONG
VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY VÀ NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA
HỌC SINH
( Thông qua chương Động lực học chất điểm – Vật lý 10 CB)
Người thực hiện: Hoàng Thị Tuyến
Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Vật Lí
THANH HOÁ, NĂM 2019
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. HS : Học sinh
2. GV : Giáo viên
3. BTST: Bài tập sáng tạo.
4. TN: Thực nghiệm
1
2
2
2
2
4
4
4
10
17
18
18
18
1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong quá trình dạy học ngoài việc giảng dạy nội dung lý thuyết thì việc
hướng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức và rèn luyện phát triển tư duy cho
học sinh là một vấn đề hết sức quan trọng. Việc vận dụng các kiến thức giúp học
sinh nhớ kỹ và nhớ lâu các kiến thức đã học, tìm các mối liên hệ giữa các kiến
thức mà các em đã được học với thực tiễn, vận dụng các kiến thức các em được
học vào cuộc sống và kỹ thuật, rèn luyện cho các em các kỹ năng, kỹ xảo về thí
nghiệm thực hành.
Bài tập sáng tạo Vật lý có tác dụng phát triển tư duy cho học sinh, sử
dụng bài tập sáng tạo vào dạy học Vật lý là một yêu cầu tất yếu của việc đổi mới
phương pháp giảng dạy . Bài tập sáng tạo đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong việc luyện tập cho các em vận dụng các kiến thức và rèn luyện các kỹ
năng. Bài tập sáng tạo còn có thể đưa vào quá trình dạy học dưới nhiều hình
thức khác nhau như đặt vấn đề dạy một bài mới, củng cố kiến thức sau khi học
+ Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa Vật lý 10, Cơ bản.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra cơ bản: Tìm hiểu, đánh giá thực trạng ở trường, lớp.
+ Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi tổng kết kinh nghiệm dạy học.
+ Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định hiệu quả của nội dung đề xuất.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Bài tập sáng tạo.
Bài tập vật lý sáng tạo có thể được mô tả theo mô hình
sau đây:
Bài tập luyện tập
- Có angôrit giải
Bài tập sáng tạo
- Đi tìm angôrit giải
- Áp dụng các kiến thức xác định đã biết - Vận dụng linh hoạt, sáng tạo từ
để giải
những kiến thức cũ
- Dạng bài tập theo khuôn mẫu nhất định
- Không theo khuôn mẫu nhất định
- Tình huống quen thuộc
- Tình huống mới
- Có tính tái hiện
2
mềm dẻo và linh hoạt khi đứng trước một bài tập hay một vấn đề thực tiễn và có
thể chọn được phương án giải quyết vấn đề nhanh nhất.
Dấu hiệu 2: Bài tập có hình thức tương tự nhưng có nội dung biến đổi:
Loại bài tập này thường có nhiều câu hỏi, ở câu hỏi thứ nhất thường là một bài
tập luyện tập, các câu hỏi tiếp theo có hình thức tương tự, nếu vẫn áp dụng
phương pháp tương tự như trên sẽ dẫn đến bế tắc vì nội dung câu hỏi đã có sự
biến đổi về chất.
Dấu hiệu 3: Bài tập thí nghiệm:
Bài tập về thí nghiệm vật lý gồm bài tập thí nghiệm định tính và bài tập thí
nghiệm định lượng. Bài tập thí nghiệm định tính yêu cầu thiết kế thí nghiệm
theo một mục đích cho trước, thiết kế một dụng cụ ứng dụng vật lý hoặc yêu cầu
làm thí nghiệm theo chỉ dẫn quan sát và giải thích hiện tượng xảy ra. Bài tập thí
nghiệm định lượng gồm bài tập đo đạc các đại lượng vật lý, minh hoạ lại quy
luật vật lý bằng thực nghiệm.
Dấu hiệu 4: Bài tập thiếu hoặc thừa dữ kiện
Trong bài tập loại này có tác dụng phát huy những ý tưởng độc đáo của học sinh
trong việc nhìn nhận các vấn đề trong bài tập. Để giải quyết được vấn đề của bài
tập loại này học sinh cần phải có sự phát hiện ra những điều chưa hợp lý và có
được sự lý giải cần thiết. Bài tập này còn gặp trong trường hợp học sinh cần có ý
tưởng để đề xuất hoặc thiết kế vận dụng kiến thức để đạt được yêu cầu nào đó
của cuộc sống hay kỹ thuật.
Dấu hiệu 5: Bài tập nghịch lí, ngụy biện
Đây là bài tập trong đề bài chứa đựng một sự nguỵ biện nên dẫn đến nghịch lý:
kết luận rút ra mâu thuẫn với thực tiễn hay mâu thuẫn với nguyên tắc, định luật
vật lý đã biết. Các dấu hiệu d và e có tác dụng bồi dưỡng tư duy phê phán, phản
biện cho học sinh; giúp cho tư duy có tính độc đáo, nhạy cảm.
Dấu hiệu 6: Bài tập hộp đen
chương trình cơ bản. Tuy nhiên theo ý kiến của giáo viên thì nội dung dạy lý
thuyết trong sách giáo khoa là tương đối đủ, nhưng số lượng bài tập ở chương
này trong sách giáo khoa và sách bài tập BTVL còn ít so với yêu cầu mục tiêu
dạy học của chương.
2.2.2. Về số lượng bài tập:
- Bài tập sáng tạo, bài tập định tính: rất ít, chủ yếu giáo viên đưa ra khi
củng cố bài tập (mỗi tiết bài mới dùng 2 - 3 bài).
- Bài tập định lượng: Chiếm đại đa số.
2.2.3. Về nhận thức và phương pháp giảng dạy của giáo viên:
- Tư tưởng của GV chưa coi trọng bài tập sáng tạo, nếu GV sử dụng bài
tập sáng tạo chỉ là qua loa không dành nhiều thời gian cho HS suy nghĩ, xây
dựng lập luận.
- Trang thiết bị trong các nhà trường phổ thông tuy có trang bị nhưng về
chất lượng chưa đảm bảo đáp ứng cho việc dạy học của GV.
- GV ngại sử dụng thí nghiệm vì phải mất nhiều thời gian ; năng lực và kỹ
năng thực hành của GV còn nhiều hạn chế ; một số dụng cụ thí nghiệm không
chính xác, thiếu thốn nên để làm được thí nghiệm đôi khi GV phải tự tìm kiếm,
lắp ráp hoặc đồ để lâu không dùng được.
2.2.4. Về phía học sinh :
- Việc học sinh học vật lý ở trên lớp thì học sinh rất thụ động. Chỉ có một
số em học khá và say mê học vật lý thì tìm tòi mày mò đọc thêm tài liệu để bổ
sung kiến thức. Trong khi đó, còn đại đa số thì chỉ trông chờ vào bài giảng của
giáo viên
Một số HS lười học lí thuyết, đôi khi chỉ cần dùng định luật, khái niệm…
để áp dụng mà chưa kịp hiểu bản chất.
- HS ít có khả năng suy luận logic, chưa có ý thức tự học.
- Khả năng nhận biết các hiện tượng vật lý còn yếu.
4
b. 5N
c. 10N
Gợi ý: Trong bài tập này các ý a, b, c nội dung câu hỏi đã biến đổi đòi hỏi sự
vận dụng linh hoạt của học sinh. Ở câu a lực ma sát là lực ma sát trượt nhưng ở
câu b và c thì lực ma sát lại là lực ma sát nghỉ.
Bài 5: Một khúc gỗ có khối lượng là 2kg, kéo khúc gỗ bởi lực F = 10N dọc theo
phương chuyển động của khúc gỗ. Tìm gia tốc của khúc gỗ trong các trường hợp
sau:
5
a. Khúc gỗ chuyển động không ma sát trên sàn nằm ngang
b. Khúc gỗ chuyển động trên sàn nằm ngang có hệ số ma sát k = 0,1
c. Khúc gỗ chuyển động xuống mặt phẳng nghiêng không có ma sát
d. Khúc gỗ chuyển động xuống mặt phẳng nghiêng có hệ số ma sát k = 0,1
e. Khúc gỗ được kéo lên mặt phẳng nghiêng không có ma sát
g. Khúc gỗ kéo chuyển động lên mặt phẳng nghiêng với hệ số ma sát k = 0,1
Gợi ý: Bài tập này các ý a, b, c, d, e, g nội dung câu hỏi đã biến đổi giúp khắc
sâu kiến thức học sinh trong từng trường hợp. Bài tập có tác dụng tránh suy nghĩ
máy móc của học sinh khi giải bài tập vật lý.
Bài 6: Một ô tô có trọng lượng P M =50000N chuyển động với vận tốc không đổi
v = 10m/s qua cầu. Tìm áp lực của ô tô tác dụng lên cầu khi ô tô đi qua điểm
giữa cầu trong các trường hợp:
a. Cầu phẳng nằm ngang
b. Cầu vồng lên với bán kính cong r = 50m
c. Cầu lõm xuống với bán kính r = 50m
d. Ô tô chuyển động tròn đều trên đường tròn nằm ngang bán kính r = 50m với
vận tốc v = 10m/s. Tìm lực ma sát của mặt đường tác dụng lên ô tô.
2.3.1.3. Bài tập thí nghiệm
Bài 7: Em hãy trình bày phương pháp để có thể đo hệ số ma sát trượt, ma sát
vật một lực nhỏ F theo phương nằm ngang sao cho vật vẫn đứng yên. Lúc này
có những lực nào tác dụng vào vật?
Em hãy cho biết phương, chiều và độ lớn của lực ma sát nghỉ tác dụng
lên vật trong trường hợp này?
Vẫn dùng lực kế ta dụng lên vật lực có phương như cũ nhưng tăng dần
lực kéo (sao cho vật vẫn đứng yên). Em hãy nhận xét về độ lớn của lực ma sát
nghỉ?
Làm lại thí nghiệm nhưng thay đổi phương lực tác dụng của lực kế trong mặt
phẳng ngang, nêu ý kiến nhận xét?
Bài 9: Một vật có chiều cao lớn hơn nhiều so với chiều rộng của đáy, tác dụng
lên vật một lực F theo phương nằm ngang ở độ cao h so với mặt sàn hãy tìm
phương án xác định hệ số ma sát giữa vật và sàn
Bài 10:
a. Tại sao có thể dùng lực kế để đo khối lượng của vật?
k1
b. Khi cân khối lượng của một vật người ta thấy kim lực
kế vượt ra ngoài bảng chia độ. Vì vậy người ta phải dùng
hai lực kế, có thể mắc chúng theo hai cách như hình vẽ
k2
không? Hỏi cách mắc nào đúng và số chỉ của mỗi lực kế là k1
k2
bao nhiêu?
Gợi ý: Khi treo vật cân bằng ở đầu lực kế có những lực
nào tác dụng lên vật? Từ đó suy ra khối lượng của vật?
m
m
So sánh trọng lượng của vật và số chỉ lực kế ở hình 1 và ở
hình 2?
Hình 1
Hình 2
trước.
Hình a
A
v
v
Gợi ý: Có thể nhận thấy ở hình a vận tốc trung
bình của xe nhỏ hơn v, ở hình b vận tốc trung bình
B
A
của xe lớn hơn v. Do đó ở trường hợp hình b hòn
Hình b
bi đến B trước.
Bài 14: Một con ngựa kéo một chiếc xe, theo định luật 3 Niu tơn thì lực do ngựa
tác dụng vào xe cũng bằng lực do xe tác dụng vào ngựa. Em hãy giải thích tại
sao ngựa lại có thể kéo được xe chuyển động.
Gợi ý: Đầu tiên giáo viên có thể gọi học sinh trình bày thử về phương án giải
bài toán, sau đó giáo viên nhận xét về phương án trả lời của học sinh. Sau đó
giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh trả lời:
Em hãy xác định các lực tác dụng vào xe và lực tác dụng vào ngựa?
Trong các lực tác dụng vào xe và ngựa thì lực nào đóng vai trò lực phát
động?
Nếu học sinh không trả lời được giáo viên có thể hỏi thêm:
Trong chuyển động của ô tô thì lực nào đóng vai trò lực phát động?
Bài 15: Một sợi dây chịu được lực căng tối đa là 80N, hỏi sợi dây có bị đứt
không trong các trường hợp sau.
a. Hai người cầm hai đầu sợi dây mỗi người kéo với lực là 50N
b. Một đầu dây buộc vào cây và hai người cầm một đầu dây mỗi người kéo với
lực 50N.
Gợi ý:
a. Bài này có tác dụng tránh sai lầm của học sinh, một số em học sinh thường
xác định trọng tâm của con lật đật. Khi xác định được trọng tâm của con lật đật
các em có thể dự đoán được cấu trúc của con lật đật.
Bài 19: Trong một bình cầu thủy tinh kín có một bọt khí hình cầu. Hãy tìm cách
xác định đường kính của bọt không khí (không được phá vỡ bình cầu đó).
Gợi ý: Giáo viên hướng dẫn học sinh: Xác định khối lượng riêng của thủy tinh
(dùng bảng khối lượng riêng), đo thể tích của bình cầu. Suy ra phần thể tích lỗ
hổng.
Bài 20: Các nhà địa lí khi thăm dò địa chất tại một khu vực tiến hành thí nghiệm
như sau. Người ta tiến hành đo gia tốc rơi tự do tại các vị trí khác nhau trên trái
đất (ở cùng một độ cao). Khi nơi nào có gia tốc rơi tự do của các vật đột nhiên
tăng thì phía dưới (trong lòng đất) thường có các mỏ kim loại nặng, ở những nơi
có gia tốc rơi tự do của các vật đột nhiên giảm trong lòng đất thường có mỏ các
chất nhẹ như thạch cao, dầu mỏ. Em hãy giải thích hiện tượng trên.
Gợi ý: Học sinh đã biết gia tốc trọng trường phụ thuộc vào vị trí địa lý, phụ
thuộc vào độ cao và độ sâu của một điểm so với mực nước biển. Nếu ở một
vùng rộng trong lòng đất khối lượng riêng của lớp vật chất thay đổi nhiều cũng
ảnh hưởng đến gia tốc rơi tự do. Những nơi trong lòng đất có những vùng lớn
vật chất có khối lượng riêng nhỏ làm gia tốc trọng trường ở đó giảm, những nơi
trong lòng đất có những vùng vật có nhiều vật chất khối lượng riêng lớn gia tốc
trọng tăng.
2.3.1.7. Bài tập nghiên cứu, thiết kế
Bài 21: Xe lao xuống dốc (nơi đường dốc, núi) nếu bị hỏng phanh sẽ rất nguy
hiểm. Hãy đề xuất giải pháp cứu nạn cho xe tại những nơi như vậy.Tìm hiểu về
đường cứu nạn trong thực tế.
Bài 22: Cho hệ như hình vẽ m1=500g, =300 các
số ma sát trượt và nghỉ giữa m1 và mặt phẳng
hệ
m
1
của học sinh.
- Kiểm tra, đánh giá về tính khoa học và tính thực tiễn của đề tài.
- Kiểm tra đánh giá hệ thống bài tập sáng tạo phần động lực học được xây dựng
cho chương “ Động lực học chất điểm ” để có điều kiện chỉnh lý và bổ sung.
2.3.2.2. Đối tượng thực nghiệm.
- Đối tượng chọn 2 lớp 10 thuộc Trường THPT Thạch Thành 1 giảng dạy là
10C2 làm thực nghiệm (TN) và lớp 10C3 là đối chứng (ĐC) cho đề tài này.
- Nội dung giảng dạy lí thuyết ở 2 lớp thực nghiệm và đối chứng là như nhau
theo chương trình SGK vật lý 10 CB THPT hiện hành.
- Ở lớp TN: Chúng tôi tiến hành cho HS sử dụng hệ thống BTST trong tình
huống nhận thức, tích cực hóa hoạt động nhận thức trong tiết học. Trong quá
trình giảng dạy GV lồng ghép BTST mang tính định tính vào phần mở bài. Sau
đó đưa ra các bài tập về nhà có BTST trong hệ thống bài tập của đề tài có kèm
theo những gợi ý. Trong tiết bài tập, chúng tôi sử dụng lồng ghép BTST nhằm
tích cực hóa hoạt động của HS. Trong quá trình giảng dạy GV sử dụng một số
10
thí nghiệm và máy vi tính hỗ trợ trong các giờ dạy. Tùy thuộc vào tình hình cụ
thể về cơ sở vật chất mà chúng tôi chọn hình thức sử dụng các phương tiện dạy
học cho phù hợp.
- Ở lớp đối chứng: GV giảng dạy theo phương pháp thông thường, không sử
dụng BTST gây tình huống nhận thức. Sau đó ra bài tập về nhà nhưng không có
BTST. Các tiết dạy được tiến hành theo đúng tiến độ được qui định bởi PPCT
của bộ GD & ĐT.
2.3.2.3. Tiến hành thực nghiệm
Trong quá trình tiến hành thực nghiệm chúng tôi đã triển khai giáo án
thực nghiệm vận dụng bài tập sáng tạo cho lớp thực nghiệm:
GIÁO ÁN : THỰC HÀNH ĐO HỆ SỐ MA SÁT
I. MỤC TIÊU
- Ôn lại các kiến thức đã học về lực ma sát.
- Ôn tập đặc điểm lực ma sát, định luật II Niu-tơn và phương pháp động lực học.
- Chuẩn bị trước những phương án có thể thiết kế được để đo hệ số ma sát nghỉ
cực đại và hệ số ma sát trượt.
III. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1. Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số:
2. Bài mới.
Hoạt động của giáo viên
?Trước khi vào bài học mới, cô và
các em cùng quan sát một hình ảnh
sau đây. Sau khi quan sát hình ảnh
thì các em hãy nói cho cô biết nhận
xét của các em về hình ảnh đó nhé.
Hoạt động HS
Nội dung
-Đó là hình I. Tình huống cần
ảnh một cây cầu. giải quyết
Trên cây cầu thì có
các phương tiện đang
lưu thông. Một đặc
điểm của cây cầu này
là khá dốc so với
những cây cầu bình
thường khác.
- Chúng ta đang quan sát hình ảnh
cây cầu Ejima Ohashi (Eshima
Ohashi) ở thành phố Matsue, Nhật
Bản, được biết đến là cây cầu dốc
đại cần thiết. Họ sẽ phải chọn cách
chế tạo, tìm ra những vật liệu phù
hợp để làm mặt cầu sao cho hệ số
ma sát nghỉ giữa mặt cầu và bánh
xe ô tô lớn hơn hoặc bằng giá trị đã
tính. Vì vậy, các kĩ sư sẽ phải đo hệ
số ma sát nghỉ trong các trường
hợp khác nhau để tìm ra vật liệu
phù hợp, thỏa mãn yêu cầu đặt ra.
Vậy có những cách nào để đo hệ số
ma sát? Hôm nay chúng ta sẽ cùng
nhau tìm hiểu nhé.
BTST: Cho một tấm ván dài và
một miếng gỗ, em hãy tìm các
cách xác định hệ số ma sát trượt
giữa tấm ván và miếng gỗ. Bố trí
thí nghiệm trong từng trường hợp
và các tính toán kết quả?
? Nếu bây giờ vật không nằm yên
trên mặt phẳng nữa mà vật trượt
xuống thì sao? Khi đó, hệ số ma
sát trong trường hợp này là hệ số
ma sát gì? Và ta phải xác định hệ
số ma sát đó bằng cách nào?
tác dụng lên ô tô.
Tổng vecto các lực
tác dụng lên vật bằng
0.
- Xác định gia tốc a.
Trong đó,
+Đo thời gian t: cổng
quang điện.
+Đo quãng đường s:
góc máng có vạch chia độ.
- Cần đo
? Xét vật trượt không vận tốc ban nghiêng
đầu trên mặt phẳng nghiêng góc
- Cần đo gia tốc a
so với phương ngang. Em hãy
thiết lập biểu thức tính hệ số ma
Do vật trượt trên
sát trượt giữa vật và mặt phẳng mặt phẳng nghiêng
nghiêng?
nên chuyển động
* Lớp sẽ thảo luận theo nhóm 2 của vật là chuyển
bàn. Thời gian thực hiện nhiệm động nhanh dần đều
vụ là 3 phút. Sau khi hoàn thành mà vật trượt không
các nhóm sẽ trình bày kết quả lên vận tốc đầu
trên bảng.
=>
- Nhận xét kết quả
? Từ biểu thức, em hãy cho cô + Đo quãng đường
biết để xác định hệ số ma sát trượt s, thời gian chuyển
ta cần đo những đại lượng nào?
động t.
* Lưu ý: khi thực hành cần chú ý + Đồng hồ bấm giây
và ván:
=
Fms
P
? Vì sao số chỉ của lực kế lại chỉ
độ lớn lực ma sát. Em hãy chứng
minh cho cả lớp ý kiến của em?
* Biểu diễn vẽ các lực theo mô tả
của học sinh. Gọi tên vật là vật 1,
tấm ván là vật 2 để dễ kí hiệu lực
trên hình và cho học sinh dễ mô t
- Lưu ý cho học sinh: cần kéo tấm
ván đều. Chúng ta làm thế nào để
kiểm tra chuyển động đều của tấm
ván? (Gợi ý: Có bộ dụng cụ: băng
giấy và cần rung đã dùng ở bài đo
gia tốc rơi tự do của vật)
- GV chốt phương án và cách tiến
hành:
- Cách làm:
+ Đo khối lượng của
vật để tìm phản lực N
- Học sinh cùng giáo + Gắn lực kế
viên thống nhất các + Gắn băng giấy vào
bước làm.
kiến trái ngược là 1,36% và 7,28% HS cho rằng nó bình thường.
+ Có 46,66% HS được hỏi cho rằng học tập với BTST giúp các em bớt mệt mỏi
căng thẳng, có 18,18% ý kiến trái ngược và 35,22% cho rằng là bình thường.
+ Có 93,6% HS được hỏi ý kiến sự minh họa các hiện tượng trong thực tế giúp
các em hiểu rõ hơn, nắm chắc kiến thức mà mình lĩnh hội, ý kiến trái ngược là
6,4%.
+ Có 97,73%HS được hỏi ý kiến cho rằng học tập với BTST khuyến khích sự tò
mò, óc sáng tạo, lòng đam mê tìm tòi, khả năng suy luận, có 2,27% ý kiến trái
ngược.
+ Có 95,46% HS được hỏi cho rằng thích học những tiết mà GV có sử dụng
BTST và có 4,54% phản đối ý kiến trên.
- Đánh giá định tính
Qua quan sát, theo dõi những tiết học ở các lớp TN và ĐC, chúng tôi nhận thấy
+ Sử dụng BTST tạo được hứng thú cho HS, HS bị cuốn hút ngay vào trong bài
học. HS tranh luận sôi nổi, chú ý quan sát những hình ảnh, video clip hay thí
nghiệm trong bài tập. Đây chính là tiền đề quan trọng để tích cực hóa hoạt động
nhận thức của HS
+ Thường xuyên giải BTST giúp cho tư duy logic, ngôn ngữ vật lý của HS tiến
bộ hơn, trình bày một vấn đề nào đó chặt chẽ hơn. Đồng thời do nội dung của
nhiều BTST gắn liền với thực tế cuộc sống do đó giải BTST làm tăng khả năng
áp dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn của HS.
- Đánh giá định lượng
Do số bài kiểm tra là hai nên chúng tôi tính điểm trung bình mỗi học sinh đạt
được theo công thức sau:
xi =
Trong đó:
x15 2.x1T
3
10
16
TN
45
0
0
100
%
45
0%
0%
0
0
0
0%
5
4
9%
0%
1
0
8
ĐC
100 0% 0% 11,1 17,8 33,5 22.2 8,8% 4,4% 2,2. 0%
%
%
% %
%
%
Dựa vào số liệu tính toán ở trên tôi rút ra được những nhận xét sau đây
- Tỉ lệ học sinh kiểm tra đạt loại trung bình và yếu của lớp TN giảm đáng kể so
với lớp ĐC. Ngược lại số học sinh đạt loại khá, giỏi của lớp TN cao hơn lớp ĐC.
Như vậy, về mặt vận dụng kiến thức và giải bài tập của học sinh lớp thực
nghiệm cao hơn lớp đối chứng.
- Từ việc phân tích số liệu thực nghiệm tôi đi đến kết luận:
+ Giả thiết nêu trên đã được kiểm chứng là đúng đã kiểm nghiệm thông qua thực
nghiệm.
+ Việc tổ chức dạy học theo tiến trình đề xuất đã đem lại hiệu quả trong việc
nâng cao kiến thức cho học sinh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
tính hay các bài tập thí nghiệm.
2.4.5. Bồi dưỡng học sinh giỏi
Trong các kỳ thi học sinh giỏi có nhiều bài tập về thí nghiệm, thực hành,
bài tập đi sâu vào ý nghĩa vật lý của các hiện tượng. Vì vậy đối với bồi dưỡng
học sinh giỏi các bài tập sáng tạo đóng một vai trò hết sức quan trọng. Hệ thống
các bài tập sáng tạo trong bồi dưỡng học sinh giỏi cần được lựa chọn thành một
hệ thống đầy đủ đối với các kiến thức dự kiến thi của học sinh thì mới có thể đạt
hiệu quả cao.
2.4.6. Sử dụng bài tập sáng tạo trên báo tường, báo bảng
Đây là hình thức dành cho các học sinh yêu thích môn vật lý có thể tổ
chức theo định kỳ hàng tháng. Sử dụng hình thức này cần kết hợp với sự tổng
kết, khuyến khích, động viên sẽ có tác dụng khuyến khích nhiều học sinh tham
gia. Tổng kết, khuyến khích đối với những bài báo và lời giải hay sau mỗi số
báo. Sau các đợt thi đua ở nhà trường hoặc theo định kỳ từng học kỳ có thể kết
hợp và khen thưởng đối với những em có nhiều thành tích trong tham gia hình
thức này.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Qua kết quả thực nghiệm sư phạm chúng tôi đã tiến hành đưa bài tập sáng
tạo vào dạy học ở trường THPT và tiến hành khảo sát, xử lý kết quả thực
nghiệm sư phạm cho thấy:
- Khi thực hiện việc giải các bài tập vật lý việc giáo viên định hướng để học sinh
phát huy tính tự lực khi tiến hành giải bài tập là hết sức quan trọng. Đây là hoạt
động đòi hỏi sự linh hoạt của giáo viên trong dạy học. Các định hướng của giáo
viên có thể thực hiện từ định hướng theo kiểu khái quát chương trình hoá, định
hướng tìm, định hướng algôrit.
- Đối với bài tập sáng tạo hệ thống các câu hỏi định hướng là hết sức quan trọng,
việc lựa chọn đúng bài tập, có hệ thống câu hỏi định hướng phù hợp và áp dụng
đúng với đối tượng học sinh sẽ có kết quả rõ rệt so với phương pháp dạy học
thông thường.
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người thực hiện
Hoàng Thị Tuyến
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Những bài tập hay về thí nghiệm Vật lý. V. Langue NXBGD Hà Nội - 1998.
2. Tuyển tập các bài tập Vật lí nâng cao. Nguyễn Danh Bơ NXB Nghệ An
-2004.
3. Những bài toán nghịch lý và ngụy biện vui về Vật lý. M.E Tunchinxki
NXBGD Hà Nội - 1974.
4. Bài tập sáng tạo về vật lý ở trường trung học phổ thông (THPT). Phạm Thị
Phú - Nguyễn Đình ThướcTạp chí Giáo dục số 163- Kỳ 2, tháng 5- 2007.
5. Những BTST về vật lý THPT Nguyễn Đình Thước NXB Đại học quốc gia Hà
Nội tháng 4 năm 2010
6. Khơi dậy tiềm năng sáng tạo. Nguyễn Cảnh Toàn -Nguyễn Văn Lê - Châu An
NXBGD-2005.
20