Rèn luyện kỹ năng phân tích, khái quát hóa một số dạng toán về sự dịch chuyển giữa vật và thấu kính - Pdf 57

SỞ GIÁO
GIÁO DỤC
DỤC VÀ
SỞ
VÀ ĐÀO
ĐÀOTẠO
TẠOTHANH
THANHHÓA
HÓA

TRƯỜNGTHPT
THPT NGUYỄN
NGUYỄN XUÂN
NGUYÊN
TRƯỜNG
XUÂN
NGUYÊN
------------------0O0------------------------------------0O0-------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH VÀ GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP
VỀ MẠCH ĐIỆN MỘT CHIỀU ĐƠN GIẢN CHO HỌC SINH TRUNG
VÀ YẾU
THPT NGUYỄN
XUÂN NGUYÊN
RÈNBÌNH
LUYỆN
KĨ TRƯỜNG
NĂNG PHÂN

1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
1.4.2. Phương pháp điều tra thực tiễn:
1.4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.4.4. Phương pháp thống kê
1.5. Những điểm mới của SKKN
II. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của SKKN
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.2.1. Tình trạng thực tế trước khi thực hiện đề tài:
2.2.2 Nguyên nhân
2.2.3. Một số nhược điểm của HS trong quá trình …
2.4.Giải pháp đã sử dụng trước đây
2.2.5. Số liệu điều tra cụ thể trước khi thực hiện đề tài:
2.1.6 Kết quả khảo sát đầu tháng 3/2018:
3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để
giải quyết vấn đề
3.1. Tìm hiểu đối tượng học sinh:
3.2. Tổ chức thực hiện đề tài:
a. Cơ sở thực hiện:
b. Biện pháp thực hiện:
3.3. Cơ sở lí luận chung …
3.4 Bài tập vận dụng:
3.5. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục…
III. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
IV. Tài liệu tham khảo
I. Mở đầu

12
13
14
15
15
16


1.1. Lí do chọn đề tài
Môn vật lý là một trong những môn học lý thú, hấp dẫn trong nhà trường
phổ thông, đồng thời nó cũng được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn đời sống hàng
ngày của mỗi con người chúng ta. Hơn nữa môn học này ngày càng yêu cầu cao
hơn để đáp ứng kịp với công cuộc CNH- HĐH đất nước , nhằm từng bước đáp ứng
mục tiêu giáo dục đề ra, góp phần xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn.
Hơn nữa đội ngũ học sinh là một lực lượng lao động dự bị nòng cốt và thật
hùng hậu về khoa học kỹ thuật, trong đó kiến thức, kỹ năng vật lý đóng góp một
phần không nhỏ trong lĩnh vực này. Kiến thức, kỹ năng vật lý cũng được vận dụng
và đi sâu vào cuộc sống con người góp phần tạo ra của cải, vật chất cho xã hội
ngày một hiện đại hơn.
Ta đã biết ở THCS vì khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, vốn kiến
thức toán học chưa nhiều nên SGK chỉ đề cập đến những khái niệm, những hiện
tượng vật lý quen thuộc thường gặp hàng ngày. Ở THPT khả năng tư duy của các
em đã phát triển, đã có một số hiểu biết ban đầu về khái niệm cũng như hiện tượng
vật lý hằng ngày. Do đó việc học tập môn vật lý ở lớp 11 đòi hỏi cao hơn nhất là
một số bài toán về điện, quang ở lớp 11.
Thực tế bản thân nhận thấy: Các bài toán quang hình, nhất là các bài toán về
thấu kính trong chương trình Vật lý 11 đóng vài trò trọng tâm, cơ bản và là cơ sở
để học tốt phần lớn các bài khác của chương ( Ví dụ : Kính lúp, Kính thiên văn,
Kính hiển vi, … và nhiều bài khác trong chương trinh trình Vật lý 11 và cả chương
trình Vật lý 12 ) và đây là loại toán các em còn nhiều lúng túng, nếu các em được

cách giữa vật và thấu kính thường là những bài toán có vẻ phức tạp tạo cảm giác
ngại làm hoặc có suy nghĩ là mình không làm được. Tuy nhiên nếu để ý đến những
đặc điểm và phân dạng từ những bài toán cơ bản, quen thuộc đã được làm nhiều
thì ta có thể giải quyết chúng một cách đơn giản và tôi đã áp dụng vào giảng dạy
thực tế các lớp 11C2, 11C3, 11C5 Trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên thì thu
được kết quả đáng khích lệ.

II. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
4


2.1. Cơ sở lí luận của SKKN
Những bài toán quang hình học mặc dù các em đã học phần quang ở THCS,
nhưng chỉ là những khái niệm cơ bản, cho nên những bài toán loại này vẫn còn
mới lạ đối với HS, mặc dù không quá phức tạp đối với HS lớp 11 nhưng vẫn tập
dần cho HS có kỹ năng định hướng bài giải một cách có hệ thống, có khoa học, dễ
dàng thích ứng với các bài toán quang hình học đa dạng hơn ở các lớp cấp trên sau
này .
2.1.1. Một học sinh không thể học và hoàn thành tốt việc giải bài tập về thấu kính
nếu không biết phân tích, khái quát để đưa chúng về dạng bài đơn giản, quen thuộc
2.1.2. Một học sinh không thể học và hoàn thành tốt việc giải bài tập về thấu kính
nếu không có kỹ năng phân tích, khái quát và nhận dạng toán đưa về dạng đơn giả
quen thuộc và khả năng tự giải quyết vấn để.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
Năm học 2017-2018 tôi đã được giao nhiệm vụ giảng dạy bộ môn Vật lý ở
lớp 11C2, 11C3, 11C5. Tôi đã chủ động thăm dò, trao đổi với học sinh của lớp, tôi
được biết:
2.2.1. Tình trạng thực tế trước khi thực hiện đề tài:
Một số học sinh tỏ ra yêu thích môn Vật lý, tuy vậy phần lớn học sinh ngần
ngại và cho rằng đây là môn học khó hơn so với các môn tự nhiên còn lại. Nguyên

các đường truyền của tia sáng dặt biệt, chưa phân biệt được ảnh thật hay ảnh ảo.
Một số khác không biết biến đổi công thức toán .
d) Chưa có thói quen định hướng cách giải một cách khoa học trước những
bài toán quang hình học lớp 11.
2.2.4.Giải pháp đã sử dụng trước đây
Dựa vào đặc điểm của địa phương, tình hình chung của nhà trường và chất
lượng học tập của học sinh trong những năm qua. Tôi đã tiến hành các giải pháp
sau:
- Sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với việc sử dụng các thiết bị dạy
học trực quan.
- Tăng cường thực hành giải toán.
- Chấm điểm theo quy chế chuyên môn
- Tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm để giải quyết vấn đề và cử đại diện
nhóm lên trình bày ( đại diện thường là học sinh khá, giỏi ).

6


2.2.5. Số liệu điều tra cụ thể trước khi thực hiện đề tài:
Kết quả khảo sát đầu tháng 3/2018:
Lớp

Sĩ số

11C2
11C3
11C5

38
36

4%

điểm 1 - 2
SL
Tỷ lệ
16
42%
16
44%
20
54%
52

47%

3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề
3.1. Tìm hiểu đối tượng học sinh:
Việc tìm hiểu đối tượng học sinh là công việc đầu tiên khi người thầy muốn lấy các
em làm đối tượng thực hiện một công việc nghiên cứu nào đó. Do đó tôi đã làm
sẵn một số phiếu có ghi sẵn một số câu hỏi mang tính chất thăm dò như sau:
- Em có thích học môn Vật lý không ?
- Học môn Vật lý em có thấy nó khó quá với em không ?
- Khi làm bài tập em thấy khó khăn gì không và khó khăn như thế nào, ở điểm
nào cụ thể?
- Em đã vận dụng thành thạo các công thức Vật lý chưa? Và đã vận dụng các
công thức đó một cách linh hoạt chưa? Và hiệu quả đem lại như thế nào?
- Em có muốn đi sâu nghiên cứu các bài toán vật lí nói chung và về mạch điện
một chiều không ?
3.2. Tổ chức thực hiện đề tài:


* Khi chưa dịch chuyển, vật sáng AB qua thấu kính cho ảnh A 1B1 có độ phóng đại
k1
* Khi vật dịch chuyển một đoạn a đối với thấu kính thì ảnh dịch chuyển một đoạn
b so với thấu kính và cos độ phóng đại k2.
Ta có các bước giải sau:
Để giải dạng bài tập này, trước hết ta cần chứng minh 2 công thức rất quan trọng
sau từ những công thức cơ bản nhất của thấu kính

1
d = f (1 − )
k
d ' = f (1 − k )
Thật vậy: Từ hai công thức cơ bản: Công thức thấu kính và số phóng đại
Ta có:
d' f
( −kd ) f
1

d =
=
⇒d = f (1 − )

1
1
1
d '− f
−kd − f
k
=

Bước 1: Khi chưa dịch chuyển:

d = f (1 −

1
)
k1

d ' = (1 − k1 )

(1)
(2)

Bước 2: Khi dịch chuyển:

d + a = f (1 −

1
)
k2

d '+ b = (1 − k2 )

(3)
(4)

Bước 2: Giải hệ phương trình: Trừ vế các cặp phương trinh (1) và (3); (2) và (4).
Từ đó ta thu được kết quả cần thiết
Lưu ý:
như sau:

k2 − k1
 k1 k2 

Suy ra: a = f 

Áp dụng:
Bài 1[5;35]. Vật sáng AB đặt vuông góc với trục chính của thấu kính qua thấu kính
cho ảnh thật cao gấp hai lần vật. Khi vật di chuyển lại gần thấu kính thêm 10cm thì
cho ảnh thật cao gấp 3 lần vật. Tính tiêu cự f của thấu kính?.
Hướng dẫn:
Khi bài toán có số liệu cụ thể, điều quan trọng đầu tiên là phải xác định chính xác
dấu và độ lớn của các số phóng đại.
Như bài tập trên:
k1 = - 2; k2 = - 3; a = -10.
Do vậy ta có:

f =

( −2)(−3)
( −10) = 60cm
−3 + 2

Bài 2[2;67]: Vật sáng AB ở vị trí thứ nhất, thấu kính cho ảnh thất với số phóng đại
k1. Dịch thấu kính ra xa vật một đoạn a thì ảnh dịch đi một đoạn b so với thấu kính
( Biết a, b là các khoảng cách cho trước ) . Tính tiêu cự f của thấu kính?
Hướng dẫn:
Theo giả thuyết ta có: k1 < 0; a, b > 0
d = f (1 −

Nên ta có :


(2)




1
1
b
a = f −
+ ⇔a= f
k1 (b + k1 f )
 b + k k1 
1
Tõ (1) vµ (2) ta ®îc
 f

⇔ ak1b + ak12 f = bf
⇔ k1ab = f (b − ak12 )

f =

k1ab
b − ak12

(Lưu ý: Đối với dạng bài tập này coi a, b > 0)
Bài 3[1;120]: Vật sáng AB đặt vuông góc với trục chính của thấu kính, qua thấu
kính cho ảnh A’B’, Nếu dịch vật lại gần thấu kính một đoạn a thì ảnh dịch đi mmotj
đoạn b. Biết ảnh sau cao gấp 2,5 lần ảnh trước và hai ảnh có cùng tính chất. Tính
tiêu cự f của thấu kính?


d '+ b = f (1 − 2,5k1 )
 b = f [ k1 − 2,5k1 ]  b =
d − a = f (1 −

2
)
5k1

Ta tổng quát hóa bài toán này:

11

 3 
f −
10ab
÷
 5k1  ⇒ f =
9
f (− 1,5k1 )




f 1 
1  
a
=
d − a = f 1 −
 

Áp dụng[3;52]: Một vật qua thấu kính cho ảnh thật, di chuyển vật về gần thấu
kính thêm 10cm thì ảnh di chuyển được 20cm và cao gấp 2 lần ảnh lúc đầu khi
chưa dịch chuyển. Tính tiêu cự của thấu kính?
Hướng dẫn:
Ta có: k = 2; a = 10 cm; b = 20 cm
2.10.20
Thay số ta được: f =
= 20cm
1
Bài 4[4;72]: Một vật sáng AB qua thấu kính cho ảnh A’B’ và có số phóng đại là
k. Dịch thấu kính ra xa vật một đoạn a thì vẫn cho ảnh có số phóng đại là k, dịch
thấu kính xa thêm thấu kính một đoạn b thì ảnh có số phóng đại

1
. Tính tiêu cự
k

của thấu kính?
Hướng dẫn:
Khi dịch chuyển giũa vật và thấu kính mà độ lớn của ảnh không đổi thì ảnh phải
thay đổi tính chất.

d = f (1 −
Ta có:

1
)
k

d + a = (1 +

⇒ f = 4 + 4
a
2
f


f =

a 2b
+1
2 a

Bài tập vận dụng:
Bài 1[3;66]: Vật AB đặt cách thấu kính hội tụ một đoạn 30cm, cho ảnh A 1B1 là ảnh
thật. Di chuyển vật đến vị trí khác thì thì thu được ảnh A2B2 có cùng độ lớn và cách
thấu kính 20cm. Tiêu cự của thấu kính là?
A. 10 cm
B. 15 cm
C. 20 cm
D. 25 cm
Bầi 2[5;71]: Một vật sáng AB qua thấu kính hội tụ cho ảnh thật A 1B1 cao 2cm. Di
chuyển vật sáng AB lại gần thấu kính 45cm thì thu được ảnh cao gấp 10 lần ảnh
trước và cách ảnh trước 18cm. Tiêu cự của thấu kính là:
A. 5 cm
B. 10 cm
C. 15 cm
D. 20 cm
Bài 3[1;52]: Đặt vật sáng AB trước thấu kính phân kỳ ta thu được ảnh A 1B1. Đưa
vật ra xa thấu kính thêm 30cm thì ảnh tịnh tiến 1cm và trước cao gấp 1,2 lần ảnh
sau. Tiêu cự của thấu kính là


Điểm trên 5

Điểm trên 5

Điểm 9-10

SL

Tỷ lệ

SL

Tỷ lệ

SL

Tỷ lệ

SL

Tỷ lệ

Sĩ số

tăng

11C2

38


5%

11

30%

11C5

37

27

73%

5

13%

2

5%

11

30%

111

84



3.1. Kết luận
Với chương trình Vật Lý THPT, Cũng như kiến thức toán các em được học
thì việc trang bị cho các em, các phương pháp khái quát các dạng toán, nhất là các
dạng toán về thấu kính để phù hợp hơn , hiệu quả hơn đối với hình thức thi mới
của Bộ Giáo Dục – thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan.
Bởi với các phương pháp(quy tắc) đó sẽ gúp các em :
Nâng cao kỷ năng sáng tạo, kỷ năng khái quát hóa một vấn đề, tự tin khi giải toán
về thấu kính nói riêng và bài tập vật lý nói chung.
Với phương pháp khái quá các dạng toán trên, các em không những không còn
lúng túng khi giải, mà giải được hầu hết các bài toán, đặc biệt là toán nâng cao
trong chương trình THPT.
Khi áp dụng các kinh nghiện này giảng dạy cho các em . Hiệu quả thật bất ngờ, từ
việc các em rất ngại học và giải toán Vật Lý. Các em trở nên yêu môn Vật Lý và
ham thích giải toán Vật Lý hơn. Đặc biệt qua các kỳ thi học sinh gỏi kết quả thu
được rất tốt.
3.2. Kiến nghị
Hệ thống bài tập trong chương trình Vật lý là rất lớn, thời gian cho các tiết bài
tập là rất ít nên khả năng tích luỹ kiến thức của học sinh là rất khó khăn. Nhà
trường và cấp trên nên tạo điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất cho giáo viên có
một số giờ để giáo viên và học sinh có thể trao đổi, giải quyết những bài tập khó.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Quảng Xương, ngày 22 tháng 05 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status