Mục lục
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
Nội dung
Trang
Mục lục
1
1. Mở đầu
2
1.1. Lí do chọn đề tài.
2
2.3.2.2. Các hình thức sử dụng câu hỏi, bài tập trong
dạy học phần trao đổi khoáng và nitơ ở thực vật
13
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà
13
trường.
13
3. Kết luận, kiến nghị
14
3.1. Kết luận.
3.2. Kiến nghị.
1
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Xu thế phát triển chung của phương pháp dạy học ngày nay là biến chủ
thể nhận thức thành chủ thể hành động. Đặt người học vào vị trí trung tâm của
quá trình dạy học với quan điểm thầy thiết kế, trò thi công và quá trình dạy học
là dạy cách học chứ không phải dạy kiến thức.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm. Thực tế cho thấy đối với học sinh
phổ thông thì đây là một môn học khó và rất ít học sinh yêu thích. Trong điều
kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền
kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to
lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp
học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục,
vừa mang tính giáo dưỡng và cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học.
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm vì vậy để giúp học sinh lĩnh
2
Nhưng điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gì chúng ta
mong đợi. Vậy nguyên nhân của thực trạng trên là gì? Nó biểu hiện dưới
hình thức nào?
Có thể kể đến rất nhiều nguyên nhân, tuy nhiên theo tôi nguyên nhân đầu
tiên và quan trọng nhất phải là nguyên nhân xuất phát từ người thầy.
Nhiều giáo viên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng khi lên
lớp. Giáo án còn thiên về cung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy,
chưa coi trọng việc soạn và sử dụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh, điều này làm cho học sinh khá thụ động trong
việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức.
Đi đôi với cách giảng đó là cách kiểm tra, đánh giá hiện nay ở
nhiều trường phổ thông còn chủ yếu tập trung vào việc “tái hiện” kiến thức
mà chưa có những câu hỏi mang tính vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Vì vậy
việc lúng túng trước các câu hỏi, tình huống thực tiễn của học sinh là điều dễ
hiểu.
Nguyên nhân thứ hai là yếu tố học sinh: đa số các em chưa có định
hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các
em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì
thích học môn đó. Còn một số lượng nhỏ học sinh có định hướng nghề nghiệp
thì chủ yếu các em tập chung vào học các môn theo tổ hợp xét tuyển đại học mà
không dành sự đầu tư thời gian cho bộ môn sinh học.
Mặt khác thực tế hiện nay tôi nhận thấy học sinh đang có biểu hiện
mất đi động cơ học tập. Nguyên nhân là vì tình trạng thất nghiệp của rất nhiều
sinh viên Đại học, cao đẳng sau khi ra trường. Nhiều học sinh vẫn còn
những nhận thức lệch lạc về mục đích, mục tiêu của quá trình học tập, đa số các
em cho rằng “học là để thi, để lấy điểm”, nên các em không quan tâm đến việc
vận dụng kiến thức được học vào phục vụ cuộc sống.
thực tiễn. Chúng không chỉ có giá trị cho việc phát triển năng lực sáng tạo của
học sinh mà còn phục vụ tốt cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh.
- Các biện pháp sư phạm và các hình thức sử dụng câu hỏi gắn với thực tiễn
trong dạy học mà đề tài đề xuất giúp giáo viên có thể dễ dàng áp dụng câu hỏi
gắn với thực tiễn trong thực tiễn dạy học, từ đó mà tạo hứng thú, phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Tích hợp các kiến thức của bài học với thực tế cuộc sống, giúp các em áp
dụng được kiến thức lý thuyết vào phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày của
chính bản thân. Với cách này bài học sẽ trở nên gần gũi, dễ hiểu với học sinh và
tự nó sẽ trở nên hấp dẫn với học trò. Tuy nhiên không phải giáo viên nào cũng
thực hiện giải pháp này, bởi nó đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức chuyên
môn sâu và rộng, có sự hiểu biết về thế giới xung quanh phong phú. Mặt khác
không phải với phần kiến thức nào giáo viên cũng thể tích hợp và liên hệ vào
thực tiễn được ngay ở một tiết học. Trong chương trình sinh học 11 cơ bản
nhiều giáo viên chỉ tập trung khai thác kiến thức liên hệ thực tế ở phần cảm
ứng, sinh sản, còn các phần học khác như phần khác thì ít được giáo viên khai
thác tính ứng dụng thực tiễn của nó. Chính vì vậy phần kiến thức này đối với
nhiều học sinh nó thật khô khan, nhàm chán vì cấu trúc của các bài học đều
tương tự như nhau. Do đó tôi chọn sáng kiến này để góp phần cung cấp một số
kinh nghiệm cũng như tài liệu giúp cho giáo viên giảng dạy thành công các bài
học trong phần “trao đổi khoáng và ni tơ ở thực vật” (Bài 1, 4, 5, 6 – Sinh học
11 cơ bản).
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Thực ra đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Để gây hứng thú học
tập cho học sinh thì có thể kể đến rất nhiều giải pháp.
Đầu tiên có thể kể đến là phong cách của giáo viên. Tuy nhiên không
phải giáo viên nào cũng thực hiện được giải pháp này. Bởi lẽ không phải giáo
viên nào cũng có giọng nói nhẹ nhàng truyền cảm….. sự thật cho thấy còn
+ Do pH ảnh hưởng đến sự tích điện trên bề mặt rễ do vậy ảnh hưởng đến sự hấp
thụ khoáng: Khi độ pH giảm cây khó hấp thu các nguyên tố Na+; K+; Ca++ …
nhưng lại hấp thu quá nhiều các nguyên tố ion âm( NO3-; Cl-; SO4-- …) và vi
lượng (như Fe,Mn, Bo, Zn), dẫn đến cây còi cọc, kém phát triển, và nhiễm kim
loại nặng. Và ngược lại pH cao rễ hấp thu mạnh các ion dương ( Na+; K+; Ca++
…) khó hấp thu ion âm( NO3-; Cl-; SO4-- …)
+ pH quá thấp hay quá cao làm tổn thương mô rễ, do vậy ảnh hưởng đến quá
trình hấp thu các chất. pH còn ảnh hưởng đến khả năng tích trữ các ion khoáng
của đất: đất chua (pH thấp) H+ thay thế các ion dương của keo đất làm các ion
này ở dạng tự do dễ bị rửa trôi làm đất nghèo dinh dưỡng. pH còn ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng của vi sinh vật đất ( đa số VSV ưa pH trung tính), do vậy ảnh
hưởng đến quá trình chuyển hóa phân bón, cố định nito…
+ pH ảnh hưởng tới mức độ hòa tan của phân bón: nhìn chung pH hơi axit tăng
độ hòa tan, pH kiềm giảm độ hòa tan. Khi pH thấp, các ion kim loại ở dạng tan
(Fe2+, Al3+) tác dụng với photphat (lân) tạo thành các hợp chất không tan.
- Biện pháp: Bón phân hữu cơ: Phân hữu cơ có tính đệm, có thể tạo ra môi
trường pH ổn định thuận lợi cho quá trình hấp thụ khoán ở rễ.Bón vôi khi đất bị
chua để trung hòa và đưa pH về mức phù hợp với cây trồng.Trên đất phèn, khi
cải tạo thường sử dụng phân lân để bón cho đất.
Áp dụng : Dạy phần sự hấp thụ các ion khoáng
Câu 2: Giải thích tại sao cây trồng trên đất chua và đất kiềm đều có khó khăn
cho quá trình dinh dưỡng khoáng, còn đất thoáng lại tạo nhiều thuận lợi cho
cây hút khoáng.
Giải thích :
5
- Đất chua: Trong đất chua có nhiều H+, H+ dễ loại các ion khoáng ra khỏi bề mặt
các hạt keo đất, từ đó dễ bị rửa trôi hoặc lắng đọng xuống tầng đất sâu hơn, làm
cho đất bạc màu, nghèo dinh dưỡng khoáng.
Giải thích :
a. - Vai trò chính của cac nguyên tố vi lượng là tham gia cấu tạo, hoạt hoá các
enzim, các hoocmon, … mà các thành phần này trong cơ thể thực vật chiếm một
tỷ lệ rất nhỏ về khối lượng, vì vậy cơ thể thực vật chỉ cần một lượng rất nhỏ các
nguyên
tố
vi
lượng
nhưng
không
thể
thiếu.
- Hầu hết các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm tỷ lệ
tăng lượng monosacarit, ức chế sinh tổng hợp polisacarit, hoạt động của bộ máy
tổng hợp prôtein kém hiệu quả, Riboxoom bị phân giải. Sự hình thành lục lạp bị
hư hại.
b. – Khi thiếu N, màu vàng biểu hiện trước ở lá già, sau đó đến lá non. Khi thiếu
S, màu vàng biểu hiện trước ở lá non, sau đó đến lá già
- Giải thích: khi thiếu N, thực vật có thể huy động nguồn N từ các lá già phía
dưới để cung cấp cho các phần đang tăng trưởng, đối với S thì không có khả
năng di động này.
7
Áp dụng : Dạy phần vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng khoáng thiết
yếu trong cây
Câu 7: a. Nêu cơ sở khoa học của câu ca "Không lân, không vôi thì thôi trồng
lạc"
b) Nguyên tố khoáng nào thiết yếu cho sinh trưởng của cây họ đậu? Giải thích?
Giải thích :
a. - Lạc là cây họ đậu có khả năng đồng hóa N2 khí trời nhờ vi khuẩn ở nốt sần
nên thỏa mãn về nhu cầu nitơ, nhưng để cố định đạm và tổng hợp các chất nhu
cầu về photpho (lân) là rất cao → photpho là nguyên tố khoáng thiết yếu đối với
cây lạc.
- Canxi tuy không cần cho sinh trưởng của cây lạc, nhưng có tác dụng làm
giảm độ chua của đất giúp cây hấp thụ tốt nhiều loại khoáng, đặc biệt trong đó
có photpho, do đó trồng lạc đặc biệt phải quan tâm đến photpho và canxi mới có
thể có năng suất cao.
b. Cây họ đậu là cây có hàm lượng đạm cao nên nguyên tố khoáng thiết yếu cho
sinh trưởng của cây họ đậu:
-Nito là nguyên tố khoáng thiết yếu đa lượng trong thành phần cấu tạo tế bào, cơ
thể và tham gia điều hòa hoạt động trao đổi chất của cây
- Molipden (Mo) là nguyên tố khoáng thiết yếu vi lượng tham gia trong các quá
NH3
NO2
-
NO3-
Áp dụng : Dạy phần nguồn cung cấp nitơ tự nhiên cho cây.
8
Câu 9: Cây xanh chỉ hấp thu được chất vô cơ nhưng tại sao bón phân hữu cơ
cây vẫn phát triển tốt ? Cho một ví dụ để giải thích ?
Trồng trên đất kiềm gặp khó khăn cho quá trình dinh dưỡng khoáng. Giải thích.
Giải thích :
a. - Khi bón phân hữu cơ vào đất, dưới tác dụng của các vi sinh vật, chúng sẽ bị
phân huỷ thành chất khoáng dễ tiêu cho cây hấp thụ.
- Quá trình nitrat hoá : ....
- Ví dụ bón phân chuồng chứa chất thải của động vật đạm amôn muối nitrit
cây hấp thụ dễ dàng sinh trưởng tốt.
b. Nhận định đó là sai. Khi làm tăng độ thoáng của đất sẽ hạn chế tình trạng mất
nitơ trong đất vì:
+ Các vi sinh vật hiếu khí hoạt động thực hiện các phản ứng nitrat hóa, các gốc
nitrat được giữ lại trong đất.
+ Đất thoáng, giàu O2 có tác dụng ức chế quá trình phản nitrat hóa (phản ứng
xảy ra trong điều kiện yếm khí lúc đó tạo nitơ tự do bay mất).
- Trong đất kiềm có nhiều OH , chúng liên kết chặt với các ion khoáng làm cho
cây khó sử dụng được khoáng trong đất.
- Mặt khác đất kiềm gây ức chế vi sinh vật đất, làm chậm quá trình chuyển hóa
N2 + O2 → 2NO + O2 → 2NO2 + H2O → HNO3 → H+ + NO3- Cây dược cung cấp nguồn nitơ, mặc dù ít, cùng với nước nên thực hiện quá
trình quang hợp, trao đổi nước tốt hơn nên cây xanh tốt hơn
Áp dụng : Dạy phần nguồn cung cấp nitơ tự nhiên cho cây.
Câu 12: Bằng những hiểu biết của mình, em hãy giải thích câu:
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ.
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
Giải thích :
- Vụ lúa chiêm kéo dài khoảng từ tháng 1 đến tháng 5, lúc này cây lúa đang thời
kì con gái, sinh trưởng phát triển mạnh cần nhiều nước và phân (nitơ).
- Nhưng gặp thời điểm khô hạn cây lúa thiếu nước và phân nên chậm lớn, chỉ
“lấp ló” đầu bờ ngang bờ.
- “Hễ nghe tiếng sấm” báo hiệu cơn mưa đầu mùa.
- Mưa giông đầu mùa thường có hiện tượng phóng điện trong tự nhiên sấm
chớp đồng thời cũng làm cho N2 bị oxh thành nguồn đạm (NO3-) theo nước mưa
cung cấp cho cây. Cây lúa đang trong giai đoạn lớn cần nhiều nước và phân đang
bị khô hạn gặp mưa đầu mùa chỉ việc “phất cờ” mà lên.
Áp dụng : Dạy phần nguồn cung cấp nitơ tự nhiên cho cây.
Câu 13: a. Trình bày sự biến đổi đạm hữu cơ thành đạm vô cơ trong đất. Vai trò
của VSV trong quá trình biến đổi này như thế nào?
Tại sao khi trồng các cây họ đậu người ta không bón hoặc bón rất ít phân đạm?
Giải thích :
a. Dưới đất, đạm hữu cơ là xác động, thực vật, rác rưởi . . luôn được biến đổi
thành đạm vô cơ dưới tác dụng của vi khuẩn và nấm. gồm các giai đoạn :
+ Sự hóa mùn: xác động, thực vật, rác rưởi . . bị các vi khuẩn và nấm làm nát
rữa thành chất màu nâu gọi là mùn. Protein trong xác chết bị biến đổi thành axit
amin.
+ Sự hóa amoniac : biến đổi các axit amin trong mùn thành NH 3 dưới tác dụng
của vi khuẩn và nấm.
+ Sự Nitrit hóa : vi khuẩn Nitrosmonas oxy hóa NH3 thành axit nitric.
NH3 + 02
+ Các vi sinh vật hiếu khí hoạt động thực hiện các phản ứng nitrat hóa, các
gốc nitrat được giữ lại trong đất.
+ Đất thoáng, giầu O2 có tác dụng ức chế quá trình phản ứng nitrat hóa (phản
ứng xảy ra trong điều kiện yếm khí lúc đó tạo nitơ tự do bay mất).
Áp dụng : Dạy phần nguồn cung cấp nitơ tự nhiên cho cây.
Câu 15: Thế nào là bón phân hợp lý và biện pháp đó có tác dụng gì đối với
năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường? Vì sao cần phải bón phân với liều
lượng hợp lí tùy thuộc vào loại đất, loại phân bón, giống và các loại cây trồng?
Giải thích :
a. - Bón phân hợp lý:
+ bón đúng nhu cầu của cây theo đặc điểm của giống, loài cây,
+ Phù hợp với các pha sinh trưởng và phát triể của cây
+ Phù hợp với đặc điểm của đất, theo điều kiện thời tiết.
+ Phân bón phải đúng loại, đủ số lượng và tỉ lệ các thành phần dinh dưỡng
hợp lý.
- Tác dụng: Làm tăng năng suất cây trồng và không làm ô nhiễm môi trường, đe
dọa sức khỏe của con người.
b. Vì: + Nhằm đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng tốt, năng suất cao
+ Nhằm nâng cao hiệu quả của phân bón, giảm chi phí đầu vào
+ Không gây ô nhiễm môi trường và nông phẩm
Cần bón phân theo chỉ dẫn của cơ quan khuyến nông
Áp dụng : Dạy phần phân bón với năng suất cây trồng và môi trường
2.3.2. Tổ chức sử dụng câu hỏi gắn với thực tiễn trong dạy học để tăng hứng
thú học tập, phát huy và nâng cao năng lực sáng tạo cho học sinh.
2.3.2.1. Những biện pháp sư phạm cần thiết trong tiến trình sử dụng câu hỏi
vào dạy học.
a) Tạo ra môi trường học tập kích thích tính tự lực, sáng tạo của học sinh
trong học tập
Giáo viên phải linh hoạt, tổ chức giờ dạy với không khí lớp học thật sôi
nổi, thoải mái nhưng nghiêm túc để lớp học là nơi mỗi học sinh luôn muốn bộc
Rõ ràng khi làm việc theo nhóm với người lãnh đạo là trưởng nhóm, các
thành viên sẽ giảm cảm giác sợ sai hơn khi đứng trước lớp với người lãnh đạo
là giáo viên nên các em sẽ dễ phát ý tưởng. Mặt khác, khi có một bạn phát ý
tưởng, các học sinh khác sẽ sử dụng khả năng phân tích đánh giá của mình
để nhận định về ý tưởng của bạn, đồng thời nhờ trí nhớ, học sinh có thể liên hệ
kiến thức mà người phát ý tưởng trong nhóm vừa nêu để tự mình phát được ý
tưởng mới có giá trị. Có nhiều ý tưởng được đưa ra thì việc chọn lựa được một
ý tưởng phù hợp và khả thi sẽ dễ dàng hơn. Khi đó, con đường giải quyết vấn đề
sẽ rộng mở, đem lại niềm hy vọng kích thích học sinh tiếp tục tư duy sáng tạo để
tìm ra lời giải cho câu hỏi.
2.3.2.2. Các hình thức sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học phần trao
đổi khoáng và nitơ ở thực vật
Câu hỏi, bài tập có thể sử dụng một cách đa dạng trong tất cả các giai đoạn
khác nhau của quá trình dạy học.
Câu hỏi, bài tập sử dụng trong quá trình dạy kiến thức mới: trong đó câu
hỏi, bài tập có thể được đưa ra như một tình huống có vấn đề hay một câu hỏi,
bài tập để học sinh chuẩn bị trước ở nhà và trình bày trong tiết học. Giáo viên có
thể gợi ý thêm bằng các câu hỏi, bài tập định hướng để học sinh có thể sử dụng
các thủ thuật sáng tạo để học sinh giải quyết vấn đề.
Câu hỏi, bài tập được sử dụng làm bài tập về nhà để học sinh củng cố mở
rộng kiến thức, rèn luyện cách thức làm việc nhóm, tra cứu, tham khảo các tài
liệu, áp dụng các kiến thức vào thực tế.
Câu hỏi, bài tập được sử dụng trong khâu kiểm tra đánh giá giúp giáo viên
và các nhà quản lí giáo dục đánh giá được năng lực của học sinh. Việc kiểm tra,
12
đánh giá đang được đổi mới sang hướng kiểm tra, đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực, trong đó các câu hỏi kiểm tra đánh giá phải gắn với thực
tiễn và phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học. Hệ thống câu hỏi,
11A2
11A3
11A4
Mức độ
Thường
xuyên
áp dụng
Áp
dụng
không
thường
xuyên
Ít áp
dụng
Không
áp dụng
Số
HS
Kém
0
42
0
0,00%
0
0,00%
4
9,52%
26
61,90%
1
2
28,57%
41
0
0,00%
0
51,16%
1
2,33%
40
0
0,00%
0
0,00%
23
57,50%
17
42,50%
0
0,00%
13
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm
2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
LÊ MINH DŨNG
14