MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
1.2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………..1
1.3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài………………………….……2
1.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………...3
1.5. Những điểm mới của SKKN……………………………………………….4
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận…………………………………………………………………4
2.2. Thực trạng vấn đề……………………………………………………..……5
2.2.1. Thuận lợi………………………………………………………………….5
2.2.2. Khó khăn………………………………………………………………….6
2.3. Những sáng kiến, giải pháp để giải quyết vấn đề………………………....10
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……………………………………...10
3. Kết luận và kiến nghị……………………………………………………... 13
3.1. Kết luận……………. …..……………………… ………………...............16
3.2. Kiến nghị…………………………………………………………………..16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
1. Mở đầu
1. 1. Lí do chọn đề tài
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy
những khó khăn, bởi vì học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt khả
năng cảm thụ, khả năng tư duy và nhất là khả năng viết. Người giáo viên phải có
quá trình tích lũy kinh nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt
hiệu quả và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
Lâu nay, phương pháp dạy và học Văn đã được nói và bàn luận rất nhiều
trong nhiều cuộc hội thảo, nhiều bản tham luận và sáng kiến kinh nghiệm.
1. 4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài với khả năng có hạn, tôi sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp thống kê, miêu tả
- Phương pháp tổng hợp khái quát, hệ thống hoá kết hợp với phương pháp phân
tích ngôn ngữ văn học.
1. 5. Những điểm mới của SKKN
- Những năm trước đây, Tỉnh Thanh Hóa thường áp dụng đối tượng thi học sinh
giỏi khối 12. Song do thực tế không phù hợp nên đã thay đổi cho học sinh khối
11, Vì vậy sẽ có những lúng túng trong việc thay đổi cấu trúc đề, nội dung
chương trình.
- Với kinh nghiệm giảng dạy lâu năm trong nghề, được nhà trường tin tưởng
giao việc bồi dưỡng đội tuyển và đã có 1 số thành tích nhất định. Hy vọng
những kinh nghiệm của tôi sẽ giúp các đồng nghiệp hoàn thiện hơn trong quá
trình bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp.
2. Nội dung
2. 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
- Trong trường học ngoài môn Giáo dục công dân thì Ngữ Văn cũng là môn học
rất quan trọng vì là môn học góp phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng hoàn thiện
nhân cách học sinh. Mỗi bài thơ, bài văn, mỗi tác phẩm văn học trong chương
trình học phổ thông là một bài học đạo đức dành cho học sinh. Môn Ngữ văn,
không chỉ là bộ môn khoa học mà nó còn là bộ môn được xây dựng bằng nghệ
3
thuật ngôn từ. Đọc một tác phẩm văn chương là các em đang được tiếp cận với
những tinh túy được chắt lọc từ trong cuộc sống. Nếu không học môn Văn thì
làm sao thế hệ trẻ ngày nay hiểu được những tấm gương chiến đấu ngoan cường
- Nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân đặc biệt là Hội cha mẹ học
sinh. Đa số em học sinh ngoan, chăm học; Học sinh trong đội tuyển yêu thích
bộ môn.
2. 2. 2. Khó khăn
- Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải
hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường
độ làm việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị
hạn chế.
- Chất lượng đầu vào của trường bị chi phối bởi các trường lân cận trong thành
phố. Đặc biệt những học sinh có năng khiếu về môn văn ở cấp 2 thường đăng kí
dự thi vào trường THPT chuyên Lam Sơn
- Học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại phải học
thêm những môn khác, cộng thêm chương trình bồi dưỡng HSG nên rất hạn chế
về thời gian tự học nên các em đầu tư ít thời gian cho việc học bồi dưỡng HSG,
do đó kết quả không cao là điều tất yếu.
- Một số học sinh tham gia học bồi dưỡng chưa cố gắng nhiều nên kết quả thi
học sinh giỏi ở một số môn chưa cao.
- Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm
của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.
- Nguồn tài chính để chi trả cho giáo viên BDHSG còn hạn hẹp, chưa huy động
được các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân.
- Học sinh luôn đứng trước sự lựa chọn giữa học chuyên sâu để thi HSG và học
để thi ĐH, các em không yên tâm vì phải mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến
kết quả học tập ôn thi ĐH sau khi thi HSG.
- Một số ít phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con
em mình, khi nhà trường chọn vào đội tuyển lại chưa quan tâm cho đi bồi
dưỡng.
2. 3. Các sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
- Trước đây, vì chọn học sinh giỏi khối 12 nên giáo viên được phân công
bồi dưỡng đội tuyển đã có kinh nghiệm, định lượng được kiến thức. Tuy nhiên,
chọn :
+ Tìm hiểu quan điểm cũng như cách học, cách tiếp nhận bộ môn Văn
trong quá trình học tập. Từ đó chỉ thu nhận những em học sinh có niềm đam mê,
6
thích thú với bộ môn Văn. Kiên quyết không đưa vào đội tuyển những em học
sinh có cái nhìn lệch lạc về môn Văn hoặc chán học Văn, cho dù đôi khi cái
chán của học sinh bắt nguồn từ Giáo viên dạy ở lớp.
+ Tìm hiểu hướng đi tương lai của các em, nhất là việc chọn khối thi vào
trường Đại học sau này. Không chọn những học sinh chỉ thi vào khối A, B mà
chỉ chọn những học sinh có nguyện vọng thi vào khối C, D
+ Trao đổi với các em được chọn về việc thành lập đội tuyển học sinh giỏi
Văn để các em biết, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tham gia đội
tuyển để các em có cái nhìn trước. Chỉ những em tự nguyện tham gia mới được
đưa vào danh sách đội tuyển chính thức của trường.
- Chốt danh sách đội tuyển: Tùy đặc trưng từng môn học mà có những yêu cầu
khác nhau, tuy nhiên đối với môn học Ngữ văn một số yêu tố học sinh cần có là:
- Phải có là lòng yêu thích môn học.
- Chữ nghĩa rõ ràng, sạch đẹp
- Có tư duy tốt, chuyên cần trong học tập
- Tự giác trong học tập ( yếu tố này có thể ban đầu học sinh chưa có thì giáo
viên sẽ hình thành cho học sinh trong quá trình giảng dạy).
* Bước 2: Tổ chức kiểm tra năng lực, năng khiếu của học sinh:
Đây là công việc tiếp theo của giáo viên dạy bồi dưỡng. Mỗi giáo viên
cần phải nắm được năng lực của của học sinh trong đội tuyển: năng lực diễn đạt,
năng lực cảm nhận, năng lực sáng tạo…Công việc này được tiến hành bằng cách
giáo viên cho học sinh kiểm tra ngay tại lớp. Sau khi có bài giáo viên chấm,
chữa bài cho học sinh lấy kết quả, phân loại kết quả học sinh để có kế hoạc bồi
dưỡng.
- Giai đoạn III:
+ Dạy theo các chuyên đề. Sau mỗi chuyên đề kiểm tra, đánh giá học sinh để
biết được học sinh học ở mức độ nào, biết đến đâu.
+ Thực hành các bài làm văn tổng hợp, so sánh. Chú ý rèn luyện cách vận dụng
kiến thức lý luận văn học vào bài, tạo chiều sâu cho bài văn. Một số kĩ năng tạo
nên sự độc đáo cho bài văn.
+ Trong 2 tuần cuối trước khi thi, Giáo viên cho học sinh làm bài thi thử đúng
với cấu trúc đề thi học sinh giỏi và thời gian làm bài để học sinh làm quen với
áp lực của phòng thi.
8
MỘT SỐ ĐỀ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI CẤP TRƯỜNG
Đề số 1
I. PHẦN ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Có một phụ nữ vừa mất con trai, bà tìm đến một nhà hiền triết và nói:
“Có lời cầu nguyện nào mà ông biết có thể đem con trai tôi sống lại?”
Nhà hiền triết bảo:
“Hãy đem về đây cho ta một hạt giống cây mù tạt được trồng từ gia đình
nào chưa từng bao giờ biết đến đau khổ”.
Người phụ nữ ngay lập tức lên đường đi tìm hạt giống thần kỳ. Đầu tiên
bà đến gõ cửa một ngôi nhà lớn sang trọng và hỏi:
“Tôi đang tìm hạt giống cây mù tạt từ gia đình chưa bao giờ biết đến đau
khổ, có phải nơi này không?”
Họ trả lời bà đã đến nhầm chỗ và bắt đầu kể những tai họa đã xảy đến với
gia đình họ. Bà ngồi lại an ủi họ rối tiếp tục lên đường đi tìm hạt giống thần kỳ.
Nhưng bất cứ nơi nào bà ghé vào, dù ở những ngôi nhà tồi tàn hay sang trọng,
bà đều được nghe những chuyện đau buồn này đến chuyện bất hạnh khác. Bà trở
nên quan tâm và rất muốn chia sẻ nỗi buồn của người khác đến nỗi bà đã quên đi
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy,
Gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm,
Đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”
(Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu, Ngữ văn 10, tập 2).
10
Đề số 2
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
NGỤ NGÔN CỦA MỖI NGÀY
Ngồi cùng trang giấy nhỏ
Tôi đi học mỗi ngày
Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng, bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu
Tôi học lời ngọn gió
Chẳng bao giờ vu vơ
Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ
Tôi học lời con trẻ
không thể vượt ra ngoài
--- Hết --- Thí sinh không sử dụng tài liệu.
- Giám thị coi thi không giải thích gì thêm.
*Yêu cầu:
- Đối với giáo viên:
+ Thường xuyên sưu tập đề của đồng nghiệp, internet. Chuẩn bị nội dung chu
đáo trước khi lên lớp bồi dưỡng.
+ Hình thành cho HS tính tự giác trong học tập: theo quan điểm “Từ một người
chăm chỉ làm việc và biết nhìn vào ưu điểm của người khác, không săm soi điểm
yếu của họ sẽ tỏa ra một thứ năng lượng hấp dẫn những người xung quanh”
12
Vì thế người GV ngay từ những buổi đầu lên lớp phải thể hiện sự nghiêm túc,
nhiệt tình trong công việc, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho HS tạo thói quen
đúng giờ giấc, giáo dục động cơ học tập. Duy trì việc học tập thường xuyên
tránh học bập bõm, tuần nào theo lịch chung mất buổi dạy thì phải lên kế hoạch
dạy bù. Từ đó HS sẽ có thái độ nghiêm túc và tự giác trong học tập.
+ Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và phân loại đúng đối tượng HS để lựa chọn
chính xác HS đi thi.
+ Khi đến giai đến giai đoạn nước rút phải động viên HS chuẩn bị cả về tâm lý
và sức khỏe cho HS để đi thi tốt nhất.
+ Chế độ dinh dưỡng như thế nào để đảm bảo sức khỏe.
+ Dạy HS một vài kinh nghiệm lấy hơi, giữ bình tĩnh khi thi, tránh tình trạng HS
lo lắng, hồi hộp và run khi viết bài không tốt ảnh hưởng hiệu quả bài làm
- Về phía học sinh:
+ Rèn kỹ năng viết, trình bày khoa học, logic.
+ Tự lên mạng sưu tầm tài liệu, tham khảo
+ Lập sổ tay ghi chép cá nhân.
tham gia
đạt giaỉ
Giải HSG
Ghi chú
2 Ba
1
2013-2014
5
3
1 KK
2
2014-2015
4
2
2 KK
3
được chất lượng học sinh giỏi hàng năm. Điều này đã phản ánh được tác dụng
của phương pháp và hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi nói trên.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Sáng kiến được áp dụng trong nhà trường đã thu được những kết quả khả
quan. Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi có thể khẳng định sáng kiến: “Một số
kinh nghiệm và giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Ngữ văn THPT” có thể áp dụng hiệu quả trong trường cũng như trong các
trường THPT trên địa bàn toàn tỉnh.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Về phía nhà trường
- Phải vận dụng linh hoạt các chủ trương, đổi mới của Đảng, nhà nước,
của nghành GD& ĐT về việc bồi dưỡng học sinh giỏi duy trì thường xuyên liên
tục để bồi dưỡng nhân tài.
14
- Nhà trường phải rà soát, lên kế hoạch cụ thể , huy động nguồn lực và sử
dụng hiệu quả nguồn lực đấy cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
3.2.2. Về phía giáo viên
- Luôn có tâm huyết với nghề, trách nhiệm với công tác phát hiện, bồi
dưỡng nhân tài.
- Kết hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp có học
sinh được phát hiện, đặt mục tiêu cao cả cho nhà trường.
- Được phân công dạy đội tuyển, cần phải có sự đầu tư thời gian, công
sức, tích lũy kinh nghiệm và kiến thức để có những phương pháp, những lượng
kiến thức phù hợp.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật./.
5
6
Sách bài tập Ngữ văn 11 - Tập 1, 2
NXB Giáo dục
Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10,11 - Tập 1, 2 (TS NXB Hà Nội, 2006
7
Nguyễn Văn Đường chủ biên)
Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương NXB Giáo dục, 2006
8
9
trình SGK lớp 11 THPT môn Ngữ văn
Tài liệu Chủ đề tự chọn nâng cao
NXB Giáo dục, 2006
Hướng dẫn Thiết kế bài giảng trên máy tính (ThạcNXB Giáo dục, 2005
10
11
12
13
sĩ Trương Ngọc Châu)
Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT
Chuyên đề chuyên sâu Bồi dưỡng Ngữ văn 10
Chuyên đề chuyên sâu Bồi dưỡng Ngữ vă 11
Tham khảo tư liệu từ Internet