Giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT ĐẠT HIỆU QUẢ
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của vấn đề
Theo "chiến lược phát triển con người" của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ với
mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được cụ thể hoá
trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế
mục tiêu “Bồi dưỡng nhân tài” càng được Đảng và Nhà nước quan tâm lớn “Hiền tài
là nguyên khí quốc gia”. Đất nước muốn phồn thịnh đòi hỏi phải có những nhân tố
thích kế để có hướng đi, có những người tài để giúp nước. Hiện nay, chúng ta đang
trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO thì nhân tài là một trong
những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học công nghệ của
các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thực hiện mục tiêu đó, ngành giáo dục của chúng ta đang cố gắng hướng đến sự
phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh. Ở các trường Trung học
phổ thông (THPT) hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, nâng cao chất
lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang được nhiều cấp bộ chính
quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhưng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là
thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Thực tế hiện nay ở các trường THPT công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó
có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng song vẫn còn những
bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy còn yếu kém, chưa
tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ
những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý muốn.
Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời
sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi
đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không cần đầu tư phí
công vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản,
nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều

II. Phương pháp tiến hành
2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh hùng mà còn có
kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, về việc rút bài
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong hiện tại. Kiến thức lịch sử góp phần
xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, trở thành vũ khí sắc bén trong công cuộc
dựng nước và giữ nước. Ngày nay, (theo cố Tổng Bí thư Đỗ Mười) “cùng với quá
trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn cũng là một trong những xu thế
chung của các dân tộc trên thế giới. Với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện
ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao
quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và
tiến hành bước đi thích hợp, hướng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh”.
Chất lượng bộ môn Lịch sử được đánh giá không phải bằng việc ghi nhớ nhiều
sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết:
“Lịch sử đâu phải là một chuổi sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử
đọc lại, người học sử học thuộc lòng”. Điều quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấy
được cái gì qua các thời đại lịch sử, và từ đó chúng ta rút ra được kết luận gì, bài học
gì, Mác, một nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một
phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý
nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để những người quan tâm đến sử học
và những thầy cô giáo giảng dạy môn lịch sử cần nhận thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị
trí của bộ môn Lịch sử ở trường THPT và tìm ra những phương pháp để nâng cao chất
lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinh tham thích học lịch sử và học giỏi lịch sử.
Mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường THPT:
*Về kiến thức:

đội giỏi cấp trường, cấp tỉnh, cấp quốc gia và thi Đại học khối C.
* Khó khăn:
- Quan niệm xã hội về vị trí môn lịch sử đường đi hẹp, lợi ích kinh tế thấp.
- Quan niệm chưa đầy đủ của một số nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh
và cả giáo viên.
- Học sinh chưa đầu tư quĩ thời gian thường xuyên cho việc học môn lịch sử.
- Khối lượng kiến thức môn lịch sử ở một số bài còn dàn trải khá nặng, một số
giáo viên còn bị động trong khai thác kiến thức, chưa mạnh dạn để học sinh tự tìm
hiểu một phần kiến nào đó, trong bài dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Đề và đáp án môn lịch sử thi tốt nghiệp, đại học trong những năm vừa qua còn
câu nệ quá nhiều câu chữ, kiến thức SGK, hạn chế việc phát huy tư duy lịch sử cho
học sinh.
- Thông thường học sinh ít chịu đọc SGK và câu hỏi SGK trước, để có chủ định
xây dựng và tiếp thu bài mới –dẫn đến tính hợp tác của học sinh không cao. Kỹ năng
thảo luận nhóm ở một số học sinh chưa cao - nhất là tính hợp tác.
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
- Thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay như trên nên giáo
viên khó phát hiện và lựa chọn được đối tượng học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng.
Hơn nữa dạy môn sử hiện nay ở trường phổ thông thiếu nhiều trang thiết bị như: tranh
ảnh, bản đồ… Mặt khác, việc dạy môn Lịch sử đôi khi bị giới hạn về thời gian tiết
học/đơn vị bài nên khi chú trọng dạy cho học sinh hứng thú thì lại không hết chương
trình so với quy định. Chính vì vậy nhiều khi cũng phải dạy “chay” để đuổi kịp với
chương trình”. Giáo viên không có hứng thú để đầu tư bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Để học sinh yêu thích môn Lịch sử, hứng thú học lịch sử và tham gia học lớp
bồi dưỡng học sinh giỏi đi thi đạt hiệu quả, tôi không ngừng tìm tòi, nghiên cứu tư
liệu, phát huy tác dụng của đồ dùng học tập,…
- Chất lượng học tập bộ môn Lịch sử của học sinh ở các lớp tôi phụ trách giảng
dạy và kết quả học sinh giỏi môn lịch sử cấp tỉnh và cấp Quốc gia hàng năm ở trường
THPT Lý Tự Trọng – Bình Định ngày càng tăng là động lực để tôi cố công đầu tư cho

Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
B. NỘI DUNG
I.MỤC TIÊU
- Làm rõ lý luận và thực trạng trong công tác dạy - học và bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Lịch sử ở trường THPT.
- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đạt hiệu quả ở
trường THPT Lý Tự Trọng – Bình Định.
II. Mô tả giải pháp mới của đề tài
2.1. Yêu cầu chung
2.1.1. Yêu cầu một học sinh giỏi
- Nhiều người thường nghĩ Lịch sử là môn học thuộc lòng nhưng thật ra muốn
học giỏi thì phải đọc và hiểu sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử theo kiểu “mưa dầm
thấm lâu”. Nhưng quan trọng nhất, người học giỏi lịch sử phải biết hệ thống hóa các
nội dung lịch sử bằng những sơ đồ nhánh, biểu đồ thống kê tư duy theo từng sự kiện,
mốc thời gian. Từ đó, ta mới có thể dễ dàng ghi nhớ nội dung và dữ liệu của môn học.
Bởi, môn lịch sử là một môn khoa học biện chứng.
- Là học sinh giỏi Lịch sử không phải chỉ cần tính siêng học bài mà là phải có
khả năng lập luận, thông minh, trí nhớ tốt. Đặc biệt là phải có niềm đam mê, yêu thích
Sử học.
- Học sinh giỏi Lịch sử không những phải hoàn thành các bài tập của giáo viên
giao mà còn phải chuẩn bị bài trước ở nhà (theo những câu gợi mở của giáo viên). Sau
khi thảo luận nhóm và được giáo viên giảng giải thêm, học sinh mới hiểu sâu được
kiến thức.
- Ngoài việc học tập ở lớp, học sinh phải tham khảo thêm nhiều sách vở do giáo
viên gợi ý hoặc tự tìm tòi. Học sinh phải có sổ tay để ghi chép những nội dung quan
trọng. Đây là tư liệu cần thiết, giúp học sinh dễ dàng tra cứu, không mất nhiều thời
gian truy tìm, khi cần thiết.
- Học sinh không những nắm được những kiến thức của giáo viên mà còn phải
biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi, biết khái quát nội dung chương trình, hay thắc mắc
những gì mình còn nhận thức mơ hồ.

nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử. Trong bài viết, tôi đặc biệt chú ý những
bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững kiến thức, trình bày, lập luận
logic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết đẹp càng tốt.
- Trong những năm gần đây, việc lựa chọn học sinh giỏi môn Lịch sử vào đội
tuyển của trường, tôi không chờ đợi đến kết quả của các kì thi cấp trường vào cuối
mỗi năm học, mà ngay khi dạy ở đầu năm lớp 10, hoặc qua các bài kiểm tra trong học
kì I ở lớp 10, 11 phát hiện học sinh có năng khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực
tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
em tham gia vào đội tuyển để bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, hãnh diện
khi đỗ đạt. Đã là học sinh giỏi cấp tỉnh, đặc biệt cấp Quốc gia có giải thì đương nhiên
bất cứ môn học nào cũng được hưởng chế độ ưu tiên ngang nhau và vinh quang như
nhau.
- Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm hỏi
tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất thông
minh và làm siêng. Học sinh đó phải học khá các môn khác, nhất là môn Toán, Ngữ
văn, vì môn lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tư duy logic và kết hợp
những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sự khô khan
nhàm chán gây được thiện cảm cho người đọc.
- Trong tiến trình lựa chọn học sinh giỏi, có nhiều lúc tôi cảm thấy tiếc và buồn
vì có những học sinh có năng lực, có sự đam mê nhưng sợ gia đình không cho thi đại
học khối C. Nhưng hiện nay các em đạt giải Quốc gia được tuyển thẳng Đại học, Cao
đẳng, điều này phần nào khuyến khích các em tự nguyện tiếp tục tham gia học bồi
dưỡng để dự thi (em Nguyễn Công Ly từ lớp 10 thi cấp tỉnh lớp 11 đạt giải, lớp 11 thi
cấp tỉnh lớp 12 đạt giải và lớp 12 đạt giải Quốc gia - năm 2012).
- Với cách lựa chọn như trên, trong 4 năm gần đây trường tôi có số lượng HSG
môn Lịch sử đạt giải cấp tỉnh khá cao: Năm học 2008 – 2009 – 2 giải tỉnh – 2 giải
Quốc gia, 2009 – 2010 – 3 giải (trong đó có 2 em HS lớp 10 đạt giải lớp 11), 2010 –
2011 – 3 giải (có 1 em HS lớp 10 đạt giải lớp 11 và 1 em lớp 11 đạt giải lớp 12), 2011

1) PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
a) Lịch sử thế giới cổ đại.
b) Lịch sử thế giới trung đại.
c) Lịch sử thế giới cận đại.
d) Lịch sử thế giới hiện đại.
2) PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM
a) Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ X.
b) Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX.
c) Lịch sử Việt Nam từ1858-1918.
d) Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000.
* Giai đoạn Việt Nam từ (1919-1930).
* Giai đoạn Việt Nam từ (1930-1945).
* Giai đoạn Việt Nam từ (1945-1954).
* Giai đoạn Việt Nam từ (1954-1975).
* Giai đoạn Việt Nam từ (1975-2000).
* Soạn hệ thống câu hỏi và bài tập lịch sử (chú trọng bài tập nâng cao) để luyện
tập cho mỗi phần dạy. (xem thêm ở phần phụ lục 2)
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
Ngoài ra, tôi tập trung biên soạn các chuyên đề nâng cao trong chương trình để
bổ sung kiến thức cho học sinh khi bồi dưỡng như: Chuyên đề Cách mạng tư sản,
chuyên đề về phong trào công nhân; chuyên đề về Nguyễn Ái Quốc, chuyên đề Đảng
cộng sản Việt Nam,
2.3. Tiến hành bồi dưỡng
2.3.1. Cung cấp kiến thức
Phân phối chương trình và yêu cầu kiến thức trong chương trình lịch sử ở
trường THPT chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, nên bài giảng trong SGK đều nhằm
mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tiến trình lịch sử thế giới và Việt Nam theo
diện rộng, chưa đi vào chiều sâu. Đối với HSG yêu cầu phải hiểu biết sâu sắc và toàn
diện. Các em phải nắm chắc bản chất các sự kiện, hiện tượng lịch sử, các vấn đề lịch

+ Nguyễn Ái Quốc và vai trò của Người đối với cách mạng Việt Nam.
+ Cách mạng tháng Tám năm 1945.
+ Vai trò của Hậu phương trong cách mạng Việt Nam (1945 - 1975),…
+ Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng Việt Nam (từ năm 1945 đến nay)
Những kiến thức từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt các
loại đề thi. Tôi tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với khả năng và chương trình
của từng khối lớp cho học sinh bồi dưỡng.
Sau khi dạy xong một chuyên đề, một bài lịch sử, tôi yêu cầu học sinh phải dành
một khoảng thời gian để suy nghĩ, nhìn nhận vẫn đề đó, đặc biệt là ý nghĩa của sự kiện
đó với giai đoạn trước và sau nó. Ví dụ: như khi học về Cần Vương thì hãy đối chiếu
nó với phong trào chống Pháp trong những năm 1858 - 1884 hay phong trào dân chủ
tư sản đầu thế kỷ XX hay như khi học về cuộc vận động dân chủ 1936-1939 thì phải
tìm hiểu xem nó giống và khác gì so với phong trào 1930-1931 hay về sau là với cuộc
vận động giải phóng dân tộc 1939-1945 Làm như vậy sẽ giúp học sinh nhớ được
kiến thức và nếu gặp các dạng bài hệ thống, so sánh học sinh làm bài đạt hiệu quả
cao hơn.
Theo tôi, để một học sinh được tham gia dự thi HSG môn Lịch sử các cấp học
sinh đó phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử – Kiến thức cơ bản ở đây
không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống những hiểu biết cần thiết
về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các nguyên lý, quy luật, những kết luận
khái quát, phương pháp, kỹ năng. Vì vậy, khi nắm vững kiến thức học sinh mới có khả
năng ứng phó được với các loại câu hỏi, bài tập.
2.3.2. Rèn luyện kỹ năng
2.3.2.1. Kỹ năng tìm hiểu tài liệu
Nội dung chương trình lịch sử quá rộng, tôi không đủ thời gian để dạy từng bài
trong SGK, nên việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu trước bài trong SGK là rất quan
trọng. Sách giáo khoa lịch sử THPT được biên soạn – trình bày theo bài, theo tiến
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
trình thời gian. Tôi đã hướng dẫn học sinh nắm được mục đích – yêu cầu, những sự

kiện chủ yếu, tiêu biểu, được hệ thống hóa để làm toát lên một chủ đề nhất định. Ví
dụ: Lập bảng kê các các nước tham gia khối ASEAN theo nội dung sau:
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
STT Tên nước Thủ đô Ngày giành độc lập Nét nổi bật trong tình
hình hiện nay
Khi lập bảng hệ thống hóa kiến thức, học sinh phải đọc kỹ đề, hiểu rõ vấn đề
được đặt ra để lựa chọn những kiến thức phù hợp. Lập bảng hệ thống hóa kiến thức
cần phải chia ra các cột, nội dung mỗi cột là một đề mục các cột hợp thành hệ thống,
giải quyết chủ đề được đặt ra. Một số học sinh không được hướng dẫn kỹ thường viết
thành bài tự luận.
- Loại đề thi tự luận: Có nhiều dạng yêu cầu theo mẫu tự luận
Ví dụ 1: Vì sao Hội nghị BCH TW Đảng (11/1939) chủ trương chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược? Trình bày nội dung và ý nghĩa của Hội nghị này.
Ví dụ 2: Vì sao ta mở chiến dịch Biên giới thu - đông 1950? Chiến dịch này có
bước tiến gì so với chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947?
Ví dụ 3: Nêu ý nghĩa quốc tế của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Cách
mạng tháng Mười Nga thành công đã tác động đến cách mạng Việt Nam như thế nào?
Các loại đề thi như trên không chỉ yêu cầu học sinh phải nhận biết chính xác sự
kiện, nhận thức đúng bản chất lịch sử mà còn đòi hỏi học sinh thể hiện khả năng lập
luận, trình bày, diễn đạt tốt.
Ngoài ra còn có loại đề thi có câu hỏi đặt ra để lý giải một vấn đề đã được xác
định, hoặc bình luận, chứng minh câu nói nổi tiếng của một nhân vật lịch sử bằng
những quan điểm, bằng các sự kiện.
Ví dụ 1: Vì sao Lênin nói cách mạng tư sản Pháp (1789) là “Cuộc đại cách
mạng”?
Ví dụ 2: Chứng minh: Cách mạng tư sản Pháp (1789) phát triển theo hướng đi
lên.
Loại đề thi trên tương đối khó, tôi hướng dẫn, yêu cầu học sinh phải đọc kỹ và
hiểu đúng câu nói của nhân vật, một nhận định, đánh giá và sử dụng những sự kiện

lịch sử chính xác, giàu hình ảnh mà còn biết vận dụng những kiến thức đã học vào
cuộc sống, lao động và công tác xã hội. Vì vậy, nội dung bài thi thực hành lịch sử giúp
học sinh rèn luyện kỹ năng bộ môn. Những số liệu, câu hỏi đưa ra trong bài làm cần
ngắn gọn, rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu và giải quyết được vấn đề đặt ra. Đề thi thường gặp
vẽ bản đồ, lược đồ gồm sử dụng bản đồ câm đến vẽ và trình bày theo bản đồ.
Ví dụ 1: Dùng bản đồ câm các nước Đông Nam Á vào nửa sau thế kỉ XX, ghi
tên nước, ngày giành độc lập và tên thủ đô.
Ví dụ 2: Vẽ bản đồ và tường thuật (viết) diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945.
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
Để giải quyết được những dạng đề như trên khâu quan trọng là việc phân tích
đề, bởi vì phân tích đề tốt sẽ giúp học sinh xác định, lựa chọn đúng kiến thức, lập dàn
ý dễ dàng. Phân tích đề đúng sẽ tránh trường hợp lạc đề, lệch đề.
Cấu tạo đề thi học sinh giỏi hiện nay rất nhiều câu, nhiều dạng đề, đòi hỏi học
sinh phải tư duy và xử lý nhanh các kỹ năng phân tích đề, phân bố thời gian, xác định
thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi … sao cho phù hợp là
kỹ năng cần rèn luyện thường xuyên.
2.3.2.3. Kỹ năng làm bài
- Phân tích câu hỏi trong đề thi
Phải đọc hết và hiểu chính xác từng từ, từng chữ trong câu hỏi. Trong đề thi,
một câu hỏi chặt chẽ sẽ không có từ nào là “thừa”. Đọc kĩ câu hỏi để xác định thời
gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi (trình bày, so sánh, giải
thích, phân tích, đánh giá )
- Phân bố thời gian cho hợp lí. Hãy căn cứ vào điểm số của từng câu mà tính
thời gian, mỗi điểm khoảng 15 phút là phù hợp.
- Lập dàn ý chi tiết
Hãy coi mỗi câu hỏi như một bài viết ngắn, lập dàn ý, xác định những ý chính
và trình tự của các ý. Sau đó hãy “mở bài”, đừng mất nhiều thời gian suy nghĩ về “mở
bài”. Khi đã xác định đúng nội dung sẽ biết mở bài thế nào, và nên mở bài trực tiếp,

Đọc lại là khâu rất quan trọng để bài thi được điểm cao hơn.
2.3.2.4. Chấm và sửa bài
Một học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng mà còn
có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh tôi thường xuyên quan
tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần phải được sửa chữa, chỉ bảo
cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp thời những cái dở, để có sự nhìn nhận
đánh giá một cách công bằng, khách quan mỗi khi tuyển lựa đội tuyển chính thức đi
dự thi.
Sau khi dạy một chuyên đề, hay một giai đoạn lịch sử tôi thường tổ chức kiểm
tra để chấm và sửa bài cho học sinh. Kiểm tra có thể cho bài tập các em về nhà làm,
quy định thời gian nộp bài, nhưng theo tôi tốt nhất là cho học sinh làm bài kiểm tra
ngay trên lớp bồi dưỡng.
Ngoài ra tôi còn khuyến khích học sinh có thể tự tìm đề để viết rồi đưa cho thầy
cô sửa giúp, sau đó viết lại nhuần nhuyễn. Cách này giúp học sinh tăng khả năng trình
bày, diễn đạt của bạn và tạo thêm kỹ năng ứng phó tốt với mọi loại đề.
2.4. Khả năng áp dụng
Đề tài có tính khả thi, có thể áp dụng lâu dài và rộng rãi cho giáo viên dạy bồi
dưỡng học sinh giỏi bộ lịch sử ở trường THPT
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
Kết quả học sinh giỏi môn lịch sử của trường THPT Lý Tự Trọng đạt được liên
tục trong 8 năm qua (17 giải cấp tỉnh, 4 giải cấp quốc gia) là cơ sở để tôi nghiên cứu,
thực hiện đề tài này và sẽ áp dụng vào công tác giảng dạy, bồi dưỡng đội tuyển HSG
của trường trong những năm học tiếp theo.
2.5. Lợi ích kinh tế - xã hội
- Đề tài thực hiện không tốn kém về mặt kinh tế mà còn thực hiện tốt cho quá
trình dạy bồi dưỡng đội tuyển HSG cho các trường THPT. Đề tài cung cấp cho giáo
viên có tâm huyết với bộ môn lịch sử hướng đi và cách thức thực hiện việc bồi dưỡng
học sinh giỏi đạt hiệu quả.
- Đề tài còn giúp cho những học sinh yêu thích và có năng khiếu lịch sử, học

+ Bồi dưỡng kỹ năng làm bài thi lịch sử.
Đề tài triển khai nghiên cứu ở Trường THPT Lý Tự Trọng – tỉnh Bình Định
được tập thể giáo viên trong Tổ chuyên môn: Văn – Sử - GDCD tán thành. Đề tài chỉ
có tác dụng trả lời câu hỏi làm thế nào để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi
môn lịch sử ở trương THPT. Hy vọng các biện pháp đề ra sẽ có thể áp dụng tốt ở các
trường THPT.
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 19
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng

Kiến nghị:
- Đối với Ban giám hiệu nhà trường nên tổ chức thi chọn đội tuyển và bồi
dưỡng học sinh giỏi ngay từ đầu lớp 10 chú trọng hơn công tác khảo sát, lựa chọn học
sinh vào lớp bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Chuyên môn nhà trường nên tổ chức các buổi ngoại khoá lịch sử báo cáo kinh
nghiệm học tập bộ môn
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
PHỤ LỤC 1
DANH SÁCH HỌC SINH GIỎI ĐẠT GIẢI
CỦA TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG
A. HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
TT HỌ VÀ TÊN LỚP NĂM HỌC GHI CHÚ
1. BÙI THỊ MỸ THỌ 11A2 2004 - 2005
2. NGUYỄN THỊ HOÀI THANH 11A1 2005 - 2006
3. NGUYỄN THỊ VÂNG 11A1 2005 - 2006
4. NGUYỄN THỊ HOÀI THANH 12A1 2006 - 2007
5. NGUYỄN THỊ VÂNG 12A1 2006 - 2007
6. DƯƠNG THỊ HỒNG TIẾN 12A6 2008 - 2009
7. TRƯƠNG VĂN ĐÌNH 12A6 2008 - 2009
8. NGUYỄN THỊ BÌNH 11A8 2009 - 2010

Câu 4: Trình bày những thành tựu chủ yếu trong công cuộc xây dựng CNXH của Liên Xô từ
năm 1945 đến giữa những năm 70. Những thành tựu đó có ý nghĩa gì?.
Câu 5: Trình bày những thành tựu chính các nước Đông Âu đạt được trong công cuộc xây
dựng CNXH từ năm 1950 đến giữa những năm 70. Những thành tựu đó có ý nghĩa gì?.
Câu 6: Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của chế độ XHCN ở Liên Xô và các
nước Đông Âu.
Câu 7: Sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa và ý nghĩa của sự thành lập nhà
nước này? Hãy cho biết đường lối và thành tựu cải cách và mở cửa của Trung Quốc?.
Câu 8: Trình bày những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á sau
chiến tranh thế giới thứ hai?.
Câu 9: Trình bày những nét chính về cuộc đấu tranh chống đế quốc của nhân dân Lào từ năm
1945 đến năm 1975.
Câu 10: Qúa trình xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa của các nước Đông Nam Á từ sau
khi giành độc lập đến năm 2000 như thế nào?.
Câu 11: Qúa trình thành lập, mục tiêu, nguyên tắc và sự phát triển của Hiệp hội các nước
Đông Nam Á (ASEAN). Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này?.
Câu 12: Những biến đổi của các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai?
Câu 13: Trình bày khái quát phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ từ năm 1945 đến
năm 1950.
Câu 14: Trình bày các giai đoạn phát triển và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở
Châu Phi từ năm 1945 đến nay. Phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Phi có đặc điểm gì? Những
khó khăn thử thách mà Châu Phi đang gặp phải?.
Câu 15: Những nét chính về phong trào giải phóng dân tộc ở Mĩ Latinh từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai? Cuộc đấu tranh giành độc lập ở Cuba diễn ra như thế nào?.
Câu 16: Tình hình nước Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay:Sự phát triển nhảy
vọt về kinh tế và khoa học – kĩ thuật như thế nào? Những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển kinh tế
của Mỹ. Chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ như thế nào?.
Câu 17: Sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai
như thế nào? Những nguyên nhân của sự phát triển đó?.
Câu 18: Trình bày khái quát sự phát triển của các nước Tây Âu qua các giai đoạn từ 1945

Câu 28: Nguyên nhân, diễn biến chính và ý nghĩa lịch sử Phong trào cách mạng 1930 - 1931.
Nêu rõ sự ra đời và hoạt động của Xô viết Nghệ – Tĩnh. Vì sao nói phong trào cách mạng 1930 -
1931 là cuộc tập dượt đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chuẩn bị cho thắng lợi của
cách mạng tháng Tám 1945.
Câu 29: Cao trào vận động dân chủ 1936 - 1939: Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của Đảng ta,
diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử.
Câu 30: Trình bày nguyên nhân, diễn biến, ý nghĩa lịch sử của Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi
nghĩa Nam Kì và Binh biến Đô Lương.
Câu 31: Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của hội nghị TW Đảng lần thứ VI
(11/1939).
Câu 32: Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của hội nghị TW Đảng lần thứ VIII
(5/1941).
Câu 33: Tại sao trong 2 năm 1939, 1941 Ban chấp hành Trung ương Đảng đều triệu tập hội
nghị? Vấn đề quan trọng nhất được các hội nghị đề cập tới là gì?
Câu 34: Mặt Trận Việt Minh được thành lập như thế nào? Mặt Trận Việt Minh có những
đóng góp gì đối với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945?.
Câu 35: Khi Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, Đảng ta có chủ trương gì? Nội
dung của chủ trương đó như thế nào?(Nội dung của bản chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta). Trình bày diễn biến và ý nghĩa lịch sử của cao trào khánh Nhật cứu nước.
Câu 36: Cách mạng tháng Tám 1945: Nguyên nhân (hoàn cảnh lịch sử), diễn biến chính và ý
nghĩa lịch sử của cách mạng tháng Tám. Phân tích, nguyên nhân thành công và những bài học kinh
nghiệm của cách mạng tháng Tám 1945. Sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và ý nghĩa
lịch sử của nó.
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 23
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
Câu 37: Tình hình nước ta trong những năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám như thế nào?
Đảng và nhân dân ta đã từng bước thoạt khỏi những khó khăn đó như thế nào để bảo vệ thành quả
cách mạng tháng Tám? (những thuận lợi và khó khăn; cách giải quyết nạn đói, nạn dốt, tài chính,
xây dựng chính quyền; đấu tranh với Tưởng và tay sai; đấu tranh với Pháp – Nội dung và ý nghĩa
của Hiệp định sơ bộ 6/3).

tình hình cách mạng Việt Nam trong thời gian này.
Câu 2) So sánh những điểm giống và khác nhau giữa cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ và kiểu mới?
Giải thích vì sao có những điểm khác nhau đó?
Câu 3) Vai trò của Lênin đối với cách mạng tháng Mười Nga. Tại sao ở Nga lại có hai cuộc cách
mạng tư sản và vô sản?
Giáo viên: Huỳnh Tấn Châu Trang 24
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Lý Tự Trọng
Câu 4) Công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô từ 1922 đến 1941: các giai đoạn, thành tựu và hạn
chế.
Câu 5) Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945 đã thể hiện mối quan
hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới như thế nào?
Câu 6) Nêu những chuyển biến lớn của các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai đến
nay. Phân tích một chuyển biến quan trọng nhất?
Câu 7) Từ những đặc điểm của quan hệ quốc tế trong trật tự thế giới ở thế kỉ XX, em có suy nghĩ gì
về sự hình thành trật tự thế giới mới.
Câu 8) Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933:
- Nêu đặc điểm của cuộc khủng hoảng.
- Tác động của cuộc khủng hoảng đối với cách mạng Việt Nam trong thời kì này.
Câu 9) Đại hội lần thứ VII của Quốc tế cộng sản đã đề ra những chủ trương gì? Những chủ trương
đó có tác động đến tình hình Việt Nam trong thời kì cách mạng 1936 – 1939 như thế nào?
Câu 10) Mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia trong những năm 1945 – 1954,
1954 – 1975?
Câu 11) Những thành tựu và hạn chế của công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô trong những năm
1945 – 1970? Trong khi cuộc cuộc cải tổ ở Liên Xô từ năm 1985 – 1991 không thành, thì công cuộc
đổi mới đất nước ở Việt Nam từ 1986 – 2000, đạt những thành tựu như thế nào?
Câu 12) Cách mạng Trung Quốc từ 1946 đến nay:
-Cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946 - 1949)? Tác động của cách mạng Trung Quốc sau nội
chiến đến cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp (1946 – 1954)?
-Công cuộc cải cách Trung Quốc từ 1978 đến nay?
Câu 13) Quá trình thành lập và phát triển tổ chức ASEAN? Quan hệ Việt Nam – ASEAN: cơ hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status