SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Văn Mười
2. Ngày tháng năm sinh: 10/06/1976
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Khu 12, thị trấn Tân Phú, Tân Phú, Đồng Nai
5. Điện thọai: 0613856483 ( CQ); 0613697447 ( NR)
6. Fax:
7. Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
8. Đơn vị công tác: Trường PT Dân Tộc Nội Trú Liên huyện Tân Phú - Định
Quán, Đồng Nai
II.TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Môn Ngữ văn
- Số năm có kinh nghiệm: 14 năm
- Các chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm đã làm ( trong 5 năm gần đây):
+ Nâng cao hiệu quả một tiết dạy truyện ngắn Lão Hạc Ngữ văn 8
+ Nâng cao hiệu quả một tiết dạy bằng phương pháp “ đọc sáng tạo”
+ Nâng cao hiệu quả một tiết dạy truyện ngắn Chiếc Lược Ngà Ngữ văn 9
+ Nâng cao khả năng diễn đạt của học sinh khi nói, viết Tập làm văn
+ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh
+ Nâng cao hiệu quả phụ đạo học sinh yếu trong Trường dân tộc nội trú
+ Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường dân tộc nội trú
1
NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
đề tài “nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9” để nghiên
cứu, thực nghiệm. Qua sáng kiến kinh nghiệm này, để các đồng nghiệp trao đổi
kinh nghiệm, chia sẻ và học tập lẫn nhau; mong muốn góp một phần nhỏ vào công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn 9 đạt hiệu quả cao.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “… nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền
thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội … Quan tâm hơn tới sự phát
2
triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa…; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ
trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi ,học
sinh nghèo, học sinh khuyết tật; giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có
nhiều khó khăn”.
Thực hiện chủ trương trên, trong những năm qua giáo dục dân tộc đã và
đang được Đảng và nhà nước quan tâm. Học sinh dân tộc vốn là những hạt giống
đỏ từ các địa phương, các vùng kinh tế còn nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa, dân
tộc thiểu số. Chính vì vậy, trong quy chế hoạt động của các trường PT. Dân tộc nội
trú ban hành kèm theo quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 8 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều 21 đã chỉ rõ “một trong các
nhiệm vụ của giáo viên là bồi dưỡng học sinh giỏi”.
Theo Giáo trình "Phương pháp dạy học văn" của Đại học Quốc gia Hà Nội
thì "Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hiểu theo nghĩa thông thường tức là giáo viên người hướng dẫn biết khơi dậy khả năng, năng lực cảm thụ văn học của học sinh
trên cơ sở vốn hiểu biết học sinh đã có và cao hơn nữa là cung cấp cho các em
những điểm mới, sâu hơn về văn học mà học sinh chưa có. Để từ đó các em vận
dụng vào việc làm văn hiệu quả".
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có ý nghĩa thật to lớn. Nó góp phần đào
những học sinh được bồi dưỡng: Đa số các em có tố chất, có lòng say mê trong học
tập và có động cơ phấn đấu vươn lên để trở thành học sinh giỏi.
Bên cạnh những thuận lợi đã nêu thì công tác bồi dưỡng học sinh giỏi gặp
không ít khó khăn như: tài liệu sách báo tham khảo ở thư viện còn hạn chế. Chưa
có đủ tư liệu để học sinh và giáo viên tham khảo, nghiên cứu trong việc học tập và
bồi dưỡng. Hơn nữa các em là người dân tộc, nhiều em vốn ngôn ngữ phổ thông
còn hạn chế nên cách diễn đạt còn lủng củng, ngại tư duy, hay chán nản. Tinh thần
học tập và sự quan tâm của học sinh về môn văn chưa cao....
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn 9 đạt kết quả cao, cần thực hiện các
bước như sau:
Bước 1. Phát hiện học sinh giỏi văn
Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cần được tiến hành từ đầu lớp
6. Các bước tiến hành như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào kết quả học tập ở lớp 5, và kết quả thi khảo sát chất
lượng đầu năm môn Ngữ văn ở lớp 6.
Thứ hai, chọn những em có đủ điều kiện như: viết chữ đẹp, có tố chất viết
văn; học lực được xếp loại từ khá trở lên, hạnh kiểm xếp loại tốt. Sau đó, tiến
hành thi tuyển, tiếp tục sàng lọc một lần nữa để thành lập đội tuyển và phân
công giáo viên bồi dưỡng (từ lớp 6 đến lớp 7, lớp 8). Trong quá trình bồi dưỡng
giáo viên cần nắm bắt những mặt mạnh, mặt yếu của từng học sinh; kiểm tra cách
diễn đạt, chất văn, cách viết, cách nghĩ của học sinh. Khi chấm bài, thầy cô không
chỉ chú trọng những bài chu đáo, khuôn mẫu, đầy đủ...mà còn quan tâm đến những
bài có thể có chỗ chưa sâu, nhưng có chỗ độc đáo, sâu sắc... phải sửa kỹ, phê kĩ,
thật sự nghiêm khắc khi đánh giá và có nhật kí chấm bài.
Thứ ba, sang đầu năm học lớp 9, nhà trường tiếp tục sàng lọc một lần nữa,
chọn những em có đủ tiêu chuẩn, đủ điều kiện theo quy định chung và tiến hành
khảo sát (thi tuyển) để kiểm tra năng lực của từng em. Nếu em nào có đủ tiểu
chuẩn, đủ điều kiện và điểm khảo sát đạt khá giỏi thì đưa vào đội tuyển. Nhà
trường phân công giáo viên bồi dưỡng cho các em ngay từ đầu năm học.
- Khái quát chung về văn học trung đại Việt Nam:
thành phần cấu tạo, các nội dung chính, đặc điểm
nghệ thuật…
- Giới thiệu chi tiết về văn học trung đại Việt Nam
giai đoạn từ thế kỉ VI đến thế kỉ XVIII.
- Luyện một số đề, củng cố chuyên đề.
Chuyên đề 2: - Cung cấp một số kiến thức lí luận: văn học là gì,
Tìm hiểu về
các chức năng văn học, thể loại văn học, nhà văn và
một số vấn đề quá trình sáng tác, văn học và sự tiếp nhận văn
lí luận văn
học…
học.
- Hướng dẫn cách vận dụng lí luận văn học trong
làm văn nghị luận.
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện
Chuyên đề 3: Kiều”.
“Truyện Kiều” - Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và đọc thêm
Nguyễn Du
trong “Truyện Kiều”.
- Luyện một số đề văn nâng cao mang tính khái quát
so sánh.
Chuyên đề 4:
Tác giả
Nguyễn Đình
Chiểu và
“Truyện Lục
Vân Tiên”.
Chuyên đề 5:
- Tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu được
học trong chương trình.
- Tìm hiểu một số hình tượng chủ yếu của văn học
giai đoạn này: hình tượng người lính, người lao
động, người phụ nữ…
- Nghị luận xã hội: Nghị luận về một sự việc, hiện
tượng đời sống; một vấn đề tư tưởng đạo lí.
- Nghị luận văn học: Nghị luận về một tác phẩm
thơ, truyện hoặc một đoạn trích.
- Củng cố khắc sâu kiến thức và kĩ năng làm văn
nghị luận với các đề văn cụ thể gắn với các kiến
thức HS đã hoc ở các lớp dưới.
5
Ôn tập tổng
hợp và luyện
đề
Tháng
12&1
- Củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao trong
chương trình.
- Hệ thống những nét lớn từng thời kì văn học, từng
chủ đề, so sánh, đối chiếu các vấn đề có sự tương
đồng trong kiến thức chương trình.
- Luyện đề tổng hợp, kết hợp với việc tiếp tục rèn kĩ
năng làm văn của HS: làm văn nghị luận văn học và
nghị luận xã hội.
- Ngoài các bước tiến hành ôn tập như trên, GV tích
đề, chủ đề khác nhau. Trong phạm vi SKKN này tôi chỉ đơn cử đưa ra một chuyên
đề rất quan trọng đó là “cách rèn kỹ năng làm văn nghị luận” cho học sinh. Vì văn
nghị luận là kiểu văn bản rất khó đối với học sinh. Với kiểu văn bản này đòi hỏi
học sinh không chỉ có kiến thức sâu rộng mà còn phải nắm chắc các bước, kỹ năng
làm bài và sử dụng các kỹ năng một cách thành thạo.
6
Hơn nữa, văn nghị luận giúp học sinh nêu ra những suy nghĩ, quan điểm của
mình trước một hiện tượng, sự việc đời sống hay ý kiến về một tư tưởng đạo lý, về
một vấn đề văn học. Qua văn nghị luận, giáo viên bồi đắp thêm cho học sinh về
tinh thần yêu nước, yêu con người, đồng cảm, chia sẻ đối với những người bất
hạnh hoặc phê phán những quan điểm sai trái… trong cuộc sống.
Để rèn kỹ năng làm tốt văn nghị luận tôi thực hiện như sau:
1.1. Cách lựa chọn hướng ra đề
Thực tế giảng dạy giúp tôi ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là khâu
quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, kiểm tra, đánh giá và lựa chọn HSG.
Đề đúng và hay sẽ phân hoá được trình độ học sinh, giúp người thầy nắm đúng
điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh, từ đó có thể đánh giá khách quan, chính
xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học sinh; đồng thời tạo được
niềm tin và hứng thú học tập cho học sinh, khi hiểu được năng lực của mình.
Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không những không đánh giá được chính
xác về năng lực học sinh mà còn làm giảm thiểu hứng thú học văn, tính độc lập
sáng tạo của học sinh. Và hậu quả của nó là việc rèn kỹ năng sẽ trở nên vô nghĩa.
Theo dõi hướng ra đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm qua, chúng
ta nhận thấy, đề thường có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức về lý luận văn
học và cảm thụ văn chương. Phạm vi thường xoay quanh những vấn đề cốt lõi của
chương trình như: chức năng và đặc trưng của văn học nghệ thuật, phẩm chất của
người nghệ sĩ, phong cách của nhà văn... hoặc phân tích một tác phẩm văn học đặc
sắc, hoặc phân tích một số tác phẩm để nêu bật một vấn đề nào đó liên quan đến đề
văn học cơ bản.
c. Đề rèn luyện kỹ năng so sánh văn học
Đây là một trong những dạng đề khó, nhưng học sinh dễ có cơ hội để phát
huy năng khiếu và sở trường riêng của một HSG. Nó đòi hỏi học sinh vừa nắm
được những vấn đề cụ thể, chi tiết, vừa biết khái quát tổng hợp và lý giải vấn đề.
Có thể so sánh tác phẩm cùng đề tài, cảm hứng trong một giai đoạn văn học, của
một tác giả hoặc khác giai đoạn, khác tác giả...
Ví dụ:
+ Vẻ đẹp hình tượng người lính qua hai bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu
và "Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật.
1.2. Rèn luyện kỹ năng phân tích đề
Xét đến cùng, việc dạy HS làm bài, rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học là
một trong những khâu quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến kết quả thi HSG. Đây
là khâu yếu nhất của HS (kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết
đoạn, đưa dẫn chứng, phân tích dẫn chứng...).
Sau khi đã nhận diện đúng yêu cầu đề, việc xác định thao tác nghị luận chỉ
cần củng cố và hệ thống lại. Điều cần lưu ý với học sinh là dù đề thi HSG có yêu
cầu hay không, học sinh vẫn phải vận dụng nhiều thao tác nghị luận khác
nhau trong một bài làm (Phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh...).
Điều quan trọng là xác định thao tác nào là chính, thao tác nào là bổ trợ. Nắm chắc
yêu cầu này, học sinh sẽ có cơ sở để xây dựng hệ thống luận điểm hợp lý và khoa
học cho bài viết. Thông thường, luận điểm chính của bài viết thường nằm ở những
thao tác chính. Đây cũng là trọng tâm của bài viết. Những thao tác hỗ trợ thường
gắn với những ý phụ, ý bổ sung, giúp cho nội dung bài viết hoàn chỉnh, trọn vẹn.
1.3. Rèn kỹ năng lập dàn ý
Bước đầu tiên trong rèn kỹ năng lập dàn ý cần yêu cầu học sinh lập dàn ý sơ
lược theo yêu cầu:
+ Đề xuất được hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết;
+ Xác định mối quan hệ giữa các luận điểm, tầm quan trọng của mỗi luận
điểm trong việc thể hiện các yêu cầu của bài;
2. Giáo viên cung cấp cho học sinh một số sách tham khảo.
Để học sinh có kiến thức sâu rộng thì giáo viên cần cung cấp cho các em
một số sách tham khảo. Đối với một học sinh giỏi thì yêu cầu kiến thức phải thực
sự phong phú và sâu rộng thì các em mới chủ động, mạnh dạn thể hiện năng lực
của mình. Các sách này có thể là các tác phẩm văn học của các tác giả lớn mà các
em đã được học chính khóa nhưng cần phải đọc nhiều, biết rộng hơn rất nhiều so
với nội dung học ở sách giáo khoa. Hoặc có thể là những bài văn mẫu của những
bạn đạt giải cao trong kỳ thi các cấp. Khi đọc bài văn mẫu giáo viên lưu ý học sinh
là chỉ mang tính chất tham khảo chứ không học thuộc để đưa vào bài viết của
mình.
Đọc sách là một họat động cực kỳ quan trọng trong yêu cầu của công tác bồi
dưỡng. Giáo viên đặc biệt phải hết sức quan tâm đối với học sinh và phải đôn đốc
nhắc nhở, kiểm tra học sinh để các em có được những kiến thức cần thiết trong quá
trình làm bài. Và giáo viên phải thường xuyên kiểm tra để bắt buộc học sinh đọc
và thấy được ích lợi của việc đọc. Vì kiến thức văn học phong phú, vững vàng là
cơ sở và nền tảng đầu tiên để học sinh viết một bài văn tốt.
Giáo viên cần yêu cầu học sinh sưu tầm ghi chép vào một cuốn vở riêng
những lời nhận định, đánh giá sắc nét, độc đáo của các nhà văn, nhà thơ, nhà
nghiên cứu lý luận phê bình văn học và những câu thơ, đọan thơ hay của nhiều tác
giả văn học qua các giai đọan văn học gắn với các chuyên đề mà giáo viên bồi
dưỡng.
Ví dụ: Khi dạy chuyên đề về văn học, cụ thể là về vai trò của văn học đối
với cuộc sống, mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, vai trò của người nghệ sĩ
trong sáng tác văn chương, giáo viên bồi dưỡng yêu cầu học sinh sưu tầm và chọn
lọc những lời nhận định liên quan đến vấn đề này và tìm được những lời nhận định
có ý nghĩa và giá trị nhất. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số lời nhận
định sau:
- “ Thơ chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”
(Tố Hữu)
Nội dung
Nghệ thuật
Ngoài ra, giáo viên yêu cầu các em phải học thuộc các bài thơ và tóm tắt
được nội dung chính đối với những truyện ngắn.
Khi giáo viên yêu cầu học sinh tự ôn tập, làm việc ở nhà thì giáo viên phải
có sự kiểm tra một cách chặt chẽ, thường xuyên về việc tự học của các em.
3.2. Giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm đề thi
Giáo viên chọn lọc một số đề thi học sinh giỏi các cấp qua một số năm để
hướng dẫn học sinh cách tiếp cận đề, hiểu đề nắm yêu cầu đề ra.
Có những học sinh tuy có kiến thức môn văn rất phong phú nhưng khả năng
phân tích và hiểu đề chưa tốt cũng rất dễ dẫn đến việc lạc đề, viết tản mạn, lan man
không hướng vào yêu cầu của đề ra. Đây là vấn đề thường thấy trong bài làm của
học sinh nói chung và của học sinh giỏi nói riêng.
Thông thường một đề thi học sinh giỏi môn văn thường là 2 câu hoặc 3 câu;
câu ít điểm và câu nhiều điểm thì giáo viên nhắc nhở, căn dặn học sinh tùy theo
điểm của từng câu mà phân bổ thời gian làm bài sao cho hợp lý.
Ví dụ:
Nhà thơ Nguyễn Duy kết thúc bài thơ Ánh trăng bằng hình ảnh;
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
Theo em, cái giật mình ấy cho ta hiểu gì về nhân vật trữ tình trong bài thơ?
Điều em cảm nhận được từ hai câu thơ trên.
Đối với câu hỏi trên, học sinh cần hiểu được ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh
vầng trăng trong bài thơ. Khổ thơ cuối có tính chất triết lý nhẹ nhàng mà sâu lắng,
toát lên vẻ đẹp của hình ảnh vầng trăng và chủ đề của tác phẩm.
Học sinh cần nêu ra được:
- Tâm trạng của nhà thơ trước vầng trăng hiền dịu và trang nghiêm xuất hiện
* Khẳng định được ý nghĩa, giá trị của những tình cảm, thái độ đó đối với
cuộc đời; ý nghĩa của đời sống cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng:
- Cuộc sống của mỗi cá nhân chỉ có giá trị và thực sự hạnh phúc khi nó góp
được vào cuộc đời chung những gì tốt đẹp của mình.
- Tấm lòng đẹp và thái độ sống tích cực sẽ gợi những xúc cảm, suy tư, làm
bừng dậy những tình cảm lớn lao, cao đẹp ở người khác. Là sự thức tỉnh về cách
sống, thêm khao khát được làm việc, được cống hiến; biết sống đẹp, ý thức được
bổn phận và nghĩa vụ.
- Những tấm lòng, tâm hồn đẹp có khả năng khơi gợi cảm hứng nghệ thuật.
Hay đề khác về nghị luận xã hội:
Văn bản Lỗi lầm và sự biết ơn khép lại với thông điệp: “…Hãy học cách viết
những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá”.
(Ngữ văn 9, tập 1, trang 160, NXB Giáo dục, năm 2009)
Suy nghĩ của em về vấn đề trên?
Với đề văn trên, giáo viên yêu cầu học sinh:
- Biết viết một bài văn nghị luận xã hội kết hợp nhiều thao tác lập luận.
- Nêu được những suy nghĩ của cá nhân về vấn đề đặt ra trong đề bài.
- Nêu được các ý:
* Nội dung của bức thông điệp: Hãy sống bao dung, nhân ái, biết tha thứ và
ghi nhớ ân nghĩa, ân tình.
* Suy nghĩ của người viết:
+ Bức thông điệp là bài học về lẽ sống đẹp (học sinh dùng lý lẽ và dẫn
chứng để lí giải và chứng minh tính đúng đắn của vấn đề).
+ Ý nghĩa của bức thông điệp (định hướng, giáo dục... cho con người về
cách sống đẹp).
+ Bàn bạc, mở rộng vấn đề và liên hệ thực tế (hiểu, vận dụng bức thông điệp
một cách linh hoạt. Ví dụ: Nhân ái, bao dung đúng người, đúng lúc theo chuẩn
mực đạo đức của xã hội, thể hiện ân nghĩa, ân tình bằng những cách khác nhau).
Với sự định hướng của giáo viên sẽ kích thích các em động não, tư duy để
hiểu ý nghĩa nội dung yêu cầu đề, có cách trình bày ý và các thao tác lập luận sao
những mặt mạnh và khắc phục những điểm hạn chế trong bài viết của mình.
5. Tổ chức cho học sinh nhận xét văn người và sửa văn mình.
Song song với việc tổ chức cho học sinh luyện tập thực hành, giáo viên cho
học sinh tự đọc văn bạn để sửa văn mình. Thông qua cách làm này học sinh có thể
tìm ra được những nhược điểm của nhau và sửa cho nhau, ngoài ra còn có thể học
tập ở nhau những điểm tốt. Hoặc học sinh có thể sửa bài của mình sau khi thầy cô
đã chấm. Chú ý những thiếu sót mà thầy giáo đã phát hiện, viết lại theo chỉ dẫn.
Ngoài ra giáo viên dành ít thời gian để hướng dẫn học sinh đọc tài liệu tham
khảo, nhất là đọc các bài văn đạt giải để giúp học sinh học tập thêm ở văn người
hoặc có thể tham khảo những bài làm tốt của học sinh ở ngay trong đội tuyển.
Với những hình thức này đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu nhiều tài liệu,
năng sưu tầm mới có thể cung cấp được nhiều tài liệu cho học sinh. Đồng thời
cũng yêu cầu học sinh phải có sổ tích luỹ văn học mới học tập được ở bạn và có
thêm nhiều vốn văn học.
6. Thảo luận trao đổi, giải đáp thắc mắc
Sau khi đã sử dụng các hình thức trên, giáo viên dành một thời gian nhất
định một đến hai buổi học cho học sinh thảo luận những kiến thức đã được học
.Tập hợp những ý kiến thắc mắc, băn khoăn, vướng mắc để giải đáp bổ sung củng
cố lại giúp các em có một lượng kiến thức vững vàng trước kỳ thi.
13
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này thì học sinh tích cực, chủ động
học tập, sôi nổi hăng hái gia nhập vào đội tuyển có nhiều hứng thú trong học tập,
tin tưởng lạc quan vào kết quả khi làm bài. Số học sinh giỏi đạt cấp huyện là 3/3
em, cấp tỉnh là 1/3 em. Dưới đây là kết quả so sánh:
*Trước khi chưa áp dụng:
Năm học
Số HS tham gia Số học sinh thi đậu Tỷ lệ
- Cấp Tỉnh: 1 giải
ba
Năm học 2011- 2012 và năm học 2012 – 2013 tôi vinh dự được Phòng GD
Tân Phú phân công bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh. Kết quả, năm 2011- 2012: có
6 học sinh đạt giải khuyến khích môn Văn; năm 2012 – 2013: có 02 học sinh đạt
giải ba và 01giải khuyến khích (trong đó có 01 học sinh của trường đạt giải ba).
Có được kết quả như trên, bản thân tôi rút ra được rằng: Bồi dưỡng học
sinh giỏi là một công tác trọng tâm ở các nhà trường phổ thông. Nhiệm vụ của mỗi
giáo viên là phải nâng cao được chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, để
phát hiện và bồi dưỡng đạt kết quả tốt người giáo viên là yếu tố cơ bản. Giáo viên
thật sự phải có năng lực, năng khiếu sư phạm, đồng thời phải có tâm huyết với
nghề nghiệp,và đặc biệt là “không quản thời gian ngày đêm, số tiết bồi
dưỡng”…. vì chất lượng học sinh giỏi không chỉ thể hiện đánh giá năng lực, năng
khiếu văn chương của học sinh mà còn thể hiện năng lực bồi dưỡng của mỗi giáo
viên nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung.
Tôi hy vọng rằng những nội dung trong chuyên đề này sẽ là những thông tin
để được các đồng nghiệp trao đổi, thảo luận để mong rút ra được những kinh
nghiệm thực sự quý báu trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi - một công tác rất
đỗi nặng nề nhưng rất vinh dự của người giáo viên.
Do thời gian có hạn mà kiến thức và sự cảm nhận văn học thì vô cùng
phong phú nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, nhất là những thầy cô trong cùng
bộ môn.
14
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Với SKKN này đã áp dụng thực tế vào công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
trong nhà trường chúng tôi đạt hiệu quả cao (học sinh giỏi văn cấp huyện đạt 100%
1. Cơ sở lý luận
Trang 2
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Trang 4
III. Hiệu quả của đề tài
Trang 13
IV. Đề xuất, khuyến nghị khả năng áp dụng
Trang 15
16
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Trường PT. DTNT Liên
huyện Tân Phú- Định Quán
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Tân Phú, ngày 17 tháng 5 năm 2013
PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012-2013
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Tốt
Khá
Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
17
18