ÁP DỤNG một số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ bồi DƯỠNG học SINH GIỎI môn NGỮ văn tại TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 3 – CHUYÊN để NGHỊ LUẬN xã hội - Pdf 57

Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH III

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÁP DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN TẠI
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 3 – CHUYÊN ĐỂ NGHỊ
LUẬN XÃ HỘI

Người thực hiện: Hồ Thị Giang
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang

Mục lục

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”



PHẦN I: MỞ ĐẦU
“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
1. Lí do chọn đề tài
Tổ chức UNESCO từng đề xướng ý tưởng: “học để biết, học để làm,
học để chung sống, học để khẳng định mình”. Cho nên mọi hoạt động giáo
dục đều hướng đến một mục đích lớn là đào tạo con người thành công dân ưu
tú trong xã hội - khi mà người học thật sự nhập. Sự thành công của sự nghiệp
giáo dục, vì vậy, phần nào phụ thuộc vào tính tương thích của mô hình giáo
dục trong nhà trường và hiện thực cuộc sống vĩ đại nguyên khối mà giáo dục
hướng đến. Nếu giáo dục là để hình thành nên con người xã hội thì nghị luận
xã hội trong nhà trường là chuẩn bị nền tảng để con người trong tương lai
người học trở nên sắc sảo và cá tính, hiệu quả và hữu ích một cách tối đa nhất.
Nhưng việc dạy HSG chuyên đề nghị luận xã hội hiện nay ở THPT còn nhiều
hạn chế. Thứ nhất số tiết làm văn trong chương trình quá ít, thứ hai về phương
pháp dạy học rất nhiều GV chưa phân biệt được phương pháp dạy nghị luận
văn học với phương pháp dạy nghị luận xã hội. Sở dĩ có những hiện tượng
trên một phần là do hiện nay việc nghiên cứu về phương pháp dạy học chuyên
đề nghị luận xã hội cho HSG chưa được chú trọng, vì thế dạy chuyên đề nghị
luận xã hội trở thành mảnh đất quen mà lạ đối với GV và HS. Sáng kiến của
chúng tôi ra đời nhằm góp một phần nhỏ vào việc tháo gỡ sự bế tắc đó của
việc nghiên cứu giải pháp dạy chuyên đề nghị luận xã hội cho HSG trong nhà
trường THPT hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu về thực trạng bồi dưỡng HSG phần làm văn nghị luận xã hội
trong nhà trường từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

văn nghị luận xã hội từ trước đến nay. Cụ thể chúng tôi chủ yếu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây.
- Phương pháp thống kê- Phương pháp tổng hợp- phân tích
- Phương pháp so sánh- đối chiếu- Phương pháp liên ngành
5. Những điểm mới của sáng kiến
Nghị luận xã hội là một trong những câu chiếm tỉ lệ điểm khá cao trong
các kì thi học sinh giỏi. Qua tình hình thực tiễn, từ năm 2007 đến nay, dạng
câu hỏi này đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Sở Giáo dục và Đào
tạo tỉnh Thanh Hóa lựa chọn đưa vào đề thi tuyển chọn học sinh giỏi tỉnh và
học sinh giỏi Quốc gia. Câu nghị luận xã hội cũng xuất hiện trong kì thi
Olympic truyền thống 30/4 tổ chức tại các trường THPT hay kì thi chọn học
sinh giỏi khu vực Duyên hải Bắc Bộ.
- Trên thực tế, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 - lớp 12 chỉ cung cấp kiến
thức cơ bản về hai kiểu dạng: nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí và nghị
luận xã hội về một hiện tượng đời sống, trong khi đề thi học sinh giỏi lại rất
phong phú về kiểu dạng. Chính vì thế, sáng kiến sẽ cung cấp các kiểu dạng
nghị luận xã hội mới cũng như cách nhận diện và triển khai từng dạng bài.
Qua đó giúp giáo viên và học sinh có thêm nguồn tài liệu tham khảo, ứng
dụng vào quá trình ôn luyện để đạt kết quả cao hơn.
- Sáng kiến định hướng người dạy có thể đánh thức đam mê, khơi dậy tiềm
năng ở học sinh tham gia đội tuyển. Đồng thời định hướng cho các em thói
quen tích lũy kiến thức và vốn sống, tăng cường sự trải nghiệm, rèn luyện khả
năng lập luận, phản biện để tìm ra chân lí, sống tốt hơn.
- Sáng kiến đưa ra những giải pháp thiết thực, giúp giáo viên không bị
lúng túng khi dạy chuyên đề nghị luận xã hội. Sáng kiến là chìa khóa định
hướng cho giáo viên cần chuẩn bị những gì? làm như thế nào? Góp phần hình
thành kiến thức, rèn luyện kĩ năng, giúp học sinh giỏi học tốt hơn chuyên đề
này.
- Sáng kiến đề xuất những giải pháp mới để nâng cao hiệu quả trong việc
kiểm tra, đánh giá, đặc biệt là phối hợp với những thầy cô hiện đang giảng

nhân đã làm nên hồn văn ở HS. Thiết nghĩ việc phát hiện và bồi dưỡng HS
giỏi nếu được đầu tư một cách thích đáng và tiến hành bài bản kết quả sẽ khả
quan hơn. Kéo theo đó là hứng thú học văn sẽ phần nào được cải thiện. Việc
phát hiện bồi dưỡng năng khiếu văn chương là việc cần phải ý thức thường
xuyên đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy. Năng khiếu văn được phát hiện
và bồi dưỡng sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng phát hiện bồi dưỡng
thế nào có hiệu quả là cả một vấn đề cần được trao đổi kỹ lưỡng...
2.2Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài
2.2.1 Thực trạng
Như chúng ta đã biết trường THPT Thạch Thành III là một trong
tổng số 105 trường THPT trong tỉnh Thanh Hóa, huyện Thạch Thành
một trong 23 huyện Miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa. Đời
sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, dân trí còn thấp nên việc giáo dục
còn gặp nhiều khó khăn. Vấn đề vận động học sinh đi học đã khó, khó
hơn là làm sao cho học sinh say mê học, đặc biệt là học môn văn.
Trường THPT Thạch Thành III là trường mới, đối tượng học sinh chủ
yếu ở xã vùng 135 trong đó có 3 xã Thành Tân, Thành Công, Thành
Minh thuộc diện đặc biệt khó khăn. Đội ngũ giáo viên mới ra trường
tuổi đời còn non trẻ, kinh nghiệm giảng dạy chưa có nên vấn đề dạy và
học là một vấn đề còn nan giải, đặc biệt là dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
phần nghị luận xã hội là điều rất khó đối với giáo viên dạy văn vì lâu
nay trong tiềm thức của các em xem phần nghị luận xã hội là khó. Cho
nên đã dẫn đến trong những năm gần đây số học sinh yêu thích môn văn
không nhiều, đa số các em ngại học văn, thờ ơ với môn Ngữ văn cho
nên dẫn đến học sinh giỏi môn ngữ văn chưa đạt kết quả cao đặc biệt là
phần nghị luận xã hội.

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


văn, các đề thi khu vực và đề thi học sinh giỏi tỉnh trong khoảng 10 năm gần
đây, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức rõ các vấn đề cơ bản sau:
* Về cấu trúc
Đề thi chọn học sinh giỏi môn Ngữ văn gồm 02 câu: 01 câu nghị luận xã
hội và 01 câu nghị luận văn học. Trong đó, câu nghị luận xã hội chiếm số
điểm là 8/20 điểm và câu nghị luận văn học chiếm số điểm là 12/20 điểm.
Về cấu trúc đề thi không thay đổi nhưng mức độ đề thì tùy thuộc quy mô
của từng kì thi để có yêu cầu phù hợp. Qua cấu trúc đề thi này, giáo viên cần
phân tích kĩ để các em định hình rõ ràng trong quá trình ôn luyện.
* Về kiến thức, kĩ năng
- Kiến thức xã hội là kiến thức tổng hợp, liên môn. Nó bao gồm các kiến
thức về xã hội, thuộc mọi lĩnh vực, đặc biệt là những vấn đề mới, đang được
xã hội quan tâm. Hoặc cũng có thể là những vấn đề quen thuộc nhưng vẫn còn
nhiều giá trị trong cuộc sống hôm nay.
- Rèn kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội với bố cục ba phần, kết hợp các
thao tác, các kiểu đoạn văn, sử dụng dẫn chứng hợp lí.
“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
* Về thời lượng làm bài
- Nhìn chung, học sinh giỏi tỉnh hay Quốc gia, làm bài thi môn Ngữ văn
trong thời gian 180 phút. Đây là điểm giáo viên cần phân tích rõ để định
hướng ôn luyện cho HS một cách khoa học và hiệu quả. Giáo viên rèn cho HS
cách làm câu nghị luận xã hội trong thời gian phù hợp, tránh việc tốn quá
nhiều thời gian cho câu này mà làm hời hợt câu nghị luận văn học (12,0
điểm). Chúng tôi thường rèn cho HS viết câu nghị luận xã hội trong khoảng
60 - 70 phút/180 phút.

chú ý những điểm mạnh của học sinh để khuyến khích các em phát huy. Học
sinh nào có bài viết tốt, sáng tạo, đứng ở nhóm đầu sẽ được thưởng một món
quà, thông thường là những cuốn sách về “Hạt giống tâm hồn” [3] hoặc
những tác phẩm hay, đang được bạn đọc quan tâm. Có như vậy, các em mới

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
hăng say, hứng thú trong quá trình ôn luyện và làm bài kiểm tra đạt chất
lượng tốt hơn.
2.3.1.3 Hướng dẫn học sinh tích lũy và huy động kiến thức để làm tốt bài
văn nghị luận xã hội
* Hướng dẫn học sinh tích lũy kiến thức và vốn sống
Yêu cầu HS tích lũy kiến thức và vốn sống không phải là hoạt động dạy
học mới của giáo viên. Việc tích lũy kiến thức và vốn sống sẽ rất hữu ích cho
các em trong việc xây dựng các luận điểm, bao gồm lí lẽ và dẫn chứng. Vì
vậy, trong các năm trực tiếp ôn luyện đội tuyển, chúng tôi định hướng cho các
em tích lũy kiến thức và vốn sống từ các nguồn:
- Từ sách vở: chủ yếu từ báo chí, các loại sách tham khảo về các lĩnh vực
của cuộc sống như: văn học, lịch sử, khoa học, tôn giáo, sách về gương người
tốt, việc tốt. Đó có thể là “Hạt giống tâm hồn”, “Hạt giống hạnh phúc”, “Suy
nghĩ của những người trẻ”. Đó cũng có thể là những cuốn sách mới nhất được
dư luận quan tâm như: “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?” của Rosie Nguyễn,
“Nếu biết trăm năm là hữu hạn” của Phạm Lữ Ân, “Nhà giả kim” của Paulo
Coelho, hay “Chuyện nhà Dr Thanh” của Trần Uyên Phương – cuốn tự truyện
gây “sốt” trong làng xuất bản năm 2017…điều quan trọng là chúng tôi cùng
các em tìm và lựa chọn sách cần thiết để đọc, biết cách đọc, biết hệ thống hóa

những câu nói bổ ích, những cách viết ấn tượng, hoặc ghi lại những vấn đề xã
hội mà các em quan tâm, những vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của nhiều
người… Thói quen ghi chép vừa giúp các em khắc sâu kiến thức, vừa lưu giữ
lại những dẫn chứng cần thiết để có thể sử dụng khi cần. Khi ghi chép, học
sinh nên phân loại theo mảng, theo chủ đề. Mỗi một chủ đề, giáo viên cho học
sinh tích lũy theo nhiều mức độ, tránh áp lực để HS phải nhớ nhiều. Đối với
hiện tượng đời sống, giáo viên nên hướng dẫn HS tìm số liệu làm nguồn minh
chứng xác thực, để khi cần vận dụng sẽ huy động kiến thức nhanh hơn.
Hình thành sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy hình thức ghi
chép nhằm đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội
dung, hệ thống hóa chủ đề bằng cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét,
màu sắc, chữ viết. Chúng tôi sử dụng linh hoạt phương pháp này trong nhiều
trường hợp, chẳng hạn:
- HS tóm tắt nội dung chính của một bài nói chuyện, trao đổi trên mạng xã
hội. Tóm tắt những luận điểm chính khi các em đọc một bài văn hay, hoặc
một tài liệu dài. Tóm tắt dàn ý của một đề văn trong quá trình ôn luyện. Đặc
biệt, sau mỗi đề văn đã lập dàn ý chi tiết, giáo viên sửa chữa, học sinh đều
phải lập sơ đồ tư duy để khắc sâu kiến thức.
* Hướng dẫn học sinh cách tư duy
Qua trao đổi với đồng nghiệp ở các trường lân cận, chúng tôi nhận thấy đa
phần học sinh chưa viết văn bằng chính suy nghĩ của mình. Lối nói theo, viết
theo, rập khuôn đang là hiện tượng phổ biến trong các bài văn. Một số em có
suy nghĩ riêng thì lại non nớt, hời hợt, thậm chí sai lệch. Do đó, giáo viên cần
có các hoạt động dạy học giúp các em có thói quen suy nghĩ, bàn bạc về
những vấn đề tư tưởng, đạo lí, hay các sự việc, hiện tượng của đời sống; có ý
tưởng đúng đắn, phong phú, đồng thời biết thể hiện chính kiến của mình trước
vấn đề, hay sự việc, hiện tượng đó.
Trước khi hướng dẫn học sinh ôn luyện chuyên đề nghị luận xã hội, giáo
viên nên hướng dẫn học sinh có thói quen suy nghĩ về những vấn đề tư tưởng,

Không nên dùng những lời lẽ, thái độ chỉ trích quá nặng nề, xúc phạm
đến danh dự, nhân phẩm của người tạo ra công trình nghiên cứu nhiều
năm và mất nhiều chất xám.
Như vậy, việc đưa ra những câu hỏi có vấn đề và thường xuyên tiến hành
bài tập ngắn như trên, chắc chắn học sinh sẽ trưởng thành trong suy nghĩ, chín
chắn trong hành động. Mặt khác ý tưởng của người dạy sẽ gợi lên trong các
em bao điều mới mẻ và thú vị.
2.3.1.4. Giúp học sinh nhận diện ra các kiểu dạng nghị luận xã hội
Qua tìm hiểu, khảo sát các đề thi học sinh giỏi những năm gần đây, chúng
tôi thấy có các kiểu dạng nghị luận xã hội cơ bản sau:
* Nghị luận về một tư tưởng đạo lý
Ví dụ: Đề thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12 năm học 2016 – 2017 Suy nghĩ của
anh/chị về ý kiến sau: “Thành công không phải là cuối cùng, thất bại cũng
không phải là cái chết, lòng can đảm bước tiếp mới quan trọng” (Winston
Churchill).
Đề thi chọn học sinh giỏi Quốc gia THPT năm 2018
Suy nghĩ của anh/chị về quan niệm: Sống tức là thay đổi.
* Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Ví dụ: Đề thi học sinh giỏi trường THPT chuyên Bắc Giang năm 2016
Theo anh/chị, có phải lối sống thực dụng đang có nguy cơ gia tăng trong
xã hội?
* Dạng đề cho tài liệu (Câu chuyện, bài báo, bài thơ, đoạn thơ, bức tranh,
ảnh)
Ví dụ: Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 năm học 2013 – 2014
TẤT CẢ SỨC MẠNH
Có một cậu bé đang chơi ở đống cát trước sân. Khi đào một đường hầm
trong đống cát, cậu bé đụng phải một tảng đá lớn. Cậu bé liền tìm cách đẩy nó
ra khỏi đống cát. Cậu bé dùng đủ mọi cách, cố hết sức lực nhưng rốt cuộc vẫn
không thể đẩy được tảng đá ra khỏi đống cát. Đã vậy bàn tay cậu còn bị trầy
xước, rướm máu. Cậu bật khóc rấm rứt trong thất vọng.

2.3.1.5. Giúp HS nắm chắc kiến thức cơ bản và hướng triển khai các
dạng đề
* Khái niệm : Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các
lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái
đúng – sai, cái tốt – xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu
thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân
Những đề tài và nội dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực
trong cuộc sống, có tính giáo dục, có tính thời sự.
*Những yêu cầu cơ bản : Bài nghị luận xã hội dù ngắn hay dài đều phải đạt
những yêu cầu sau:
- Thể hiện sự hiểu biết chính xác, tường tận về vấn đề hay hiện tượng xã
hội được bàn bạc. Người viết phải chỉ ra được thực chất cũng như xu hướng
vận động của vấn đề hay hiện tượng đó.
“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
- Người viết phải có chính kiến, bộc lộ công khai lập trường quan điểm, tư
tưởng của mình.
- Bài nghị luận xã hội phải đòi hỏi có tính thời sự cao. Nó phải hướng đến
mục đích định hướng tư tưởng và hành động cho người đọc, thuyết phục họ
tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề xã hội đang được đặt ra.
- Bài nghị luận xã hội có tính chất tổng hợp cao, đòi hỏi người viết phải sử
dụng hầu như tất cả các thao tác nghị luận (như: giải thích, phân tích, chứng
minh, bình luận, bác bỏ…).
- Học sinh phải có những hiểu biết cụ thể, trình bày rõ ràng, thuyết phục.
Các em phải biết vận dụng những kiến thức trong thực tế đời sống hay trong
sử sách để luận giải các vấn đề xã hội; đồng thời phải có ngôn ngữ sắc bén,

thức (lí tưởng, mục đích sống); Về tâm hồn, tính cách, phẩm chất (lòng nhân
ái, vị tha, độ lượng, tính trung thực, dũng cảm chăm chỉ, cần cù, …); Về quan
“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
hệ gia đình, quan hệ xã hội (Tình mẫu tử, tình anh em, tình thầy trò, tình bạn,
tình đồng bào…); Về lối sống, quan niệm sống.
- Đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí khá đa dạng: Có thể nêu rõ yêu
cầu nghị luận, có thể chỉ đưa ra vấn đề nghị luận mà không đưa ra yêu cầu cụ
thể nào, có đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận, có đề gián tiếp đưa ra vấn đề
nghị luận qua một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện…Vì
vậy, học sinh cần nắm chắc kĩ năng làm bài.
Cách làm bài:
Mở bài: giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận. Và trích dẫn yêu
cầu đề.
Thân bài: có nhiều luận điểm
+ Luận điểm 1: giải thích rõ nội dung tư tưởng, đạo lý; giải thích các từ
ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút ra ý nghĩa
chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói (thường dành
cho đề bài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câu danh ngôn, tục
ngữ, ngạn ngữ...).
+ Luận điểm 2: phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo
lý (thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống, xã
hội để chứng minh. Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo
lý đối với đời sống xã hội).
+ Luận điểm 3: bình luận mở rộng vấn đề; bác bỏ những biểu hiện sai
lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lý.

hiện tượng đời sống đang nghị luận.
Dạng 3: Dạng đề cho tài liệu
Đề cung cấp một bức tranh hoặc ảnh, hoặc một câu chuyện, một bài báo,
yêu cầu học sinh tự chọn vấn đề, chủ đề để viết bài văn. Đây là dạng đề
thường gặp trong kỳ thi học sinh giỏi những năm gần đây. Cụ thể cách làm
từng dạng đề như sau:
Nghị luận về một vấn đề rút ra từ một câu chuyện, bài thơ (đoạn thơ)
hoặc bài báo:
Mở bài: dẫn dắt vấn đề, giới thiệu câu chuyện, bài thơ, đoạn thơ hoặc bài báo
Thân bài: - Phân tích, hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện, bài thơ, đoạn
thơ hoặc bài báo để rút ra ý nghĩa vấn đề.
- Thực hiện các thao tác nghị luận (tùy thuộc vào vấn đề nghị luận là một
tư tưởng, đạo lí hay một hiện tượng đời sống mà học sinh áp dụng phương
pháp làm bài cụ thể):
+ Nếu vấn đề nghị luận là một tư tưởng, đạo lý thì thực hiện các thao tác
nghị luận: Giải thích, phân tích – chứng minh, bàn bạc – mở rộng vấn đề và
rút ra bài học nhận thức và hành động.
+ Nếu vấn đề nghị luận là một hiện tượng đời sống thì thực hiện các thao
tác nghị luận: Nêu thực trạng (biểu hiện), chỉ ra nguyên nhân (khách quan và
chủ quan), nêu hậu quả hoặc kết quả, và đưa ra giải pháp thực hiện.
Kết bài: đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội từ câu chuyện hoặc mẩu tin.
Lưu ý: Với dạng đề này, giáo viên định hướng cho học sinh tóm tắt chứ
không sa vào phân tích văn bản, tránh nhầm lẫn sang nghị luận văn học.
Nghị luận về một bức tranh hoặc ảnh:
Đề bài gồm hai phần: phần chữ và phần hình. Trong đó phần chữ thông
thường cung cấp yêu cầu đề. Còn phần hình là phần trọng tâm, vừa cung cấp
thông tin, vừa tạo sự trực quan cho người viết. Đây là dạng đề cũng thường
gặp trong các đề thi học sinh giỏi nhưng về mặt lí thuyết lại chưa có một tài
liệu nào hướng dẫn cách làm. Vì vậy, chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm cách làm
bài như sau:

- Luận điểm 3: bàn bạc – mở rộng vấn đề liên quan đến chủ đề. Có nhiều
cách để mở rộng vấn đề:
+ Mở rộng bằng cách giải thích, chứng minh, đào sâu vấn đề, lật ngược
vấn đề
- Luận điểm 4: nêu bài học nhận thức và hành động hoặc đề xuất các giải
pháp, quan điểm riêng của người viết liên quan đến chủ đề.
Kết bài: khái quát lại vấn đề cần nghị luận
Dạng 5: Dạng đề mang tính chất đối thoại – bộc lộ suy nghĩ riêng về vấn
đề được đặt ra
Mở bài, kết bài: làm tương tự các dạng trên
Thân bài: gồm nhiều luận điểm
- Luận điểm 1: giải thích vấn đề
- Luận điểm 2: trao đổi, bàn luận, đối thoại (phần này thuộc vào nhận
thức và sự hiểu biết của bản thân; nhận thức đúng – sai, phải – trái)
- Luận điểm 3: trình bày quan điểm sống của bản thân (giống bài học
nhận thức và hành động) Rõ ràng, mỗi kiểu dạng nghị luận xã hội có những
yêu cầu riêng. Nó đòi hỏi học sinh phải vừa nhận diện đúng các dạng đề bài
cụ thể, vừa biết cách huy động kiến thức tích hợp cho phù hợp. Tùy theo yêu
cầu cụ thể của từng đề thi, học sinh có thể sử dụng hệ thống câu hỏi để chủ
động, sáng tạo trong việc triển khai hệ thống ý.
Ví dụ 1: Giáo viên cho học sinh làm thử Đề thi chọn học sinh giỏi Quốc gia
năm 2014 “Phải chăng sống là tỏa sáng”.
Đây là dạng đề mở, học sinh có thể triển khai hệ thống ý bằng cách đặt ra và
giải quyết những câu hỏi sau:
- Sống tỏa sáng có nghĩa là gì? Con người sống có cần tỏa sáng hay không?
Tỏa sáng như thế nào? Tỏa sáng rực rỡ hay tỏa sáng âm thầm, tỏa sáng bằng
mọi giá?

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”

- Ngôn từ phải diễn tả sát, trúng bản chất của đối tượng, điều mình muốn
nói. Câu văn cần phải bày tỏ được nhận xét, đánh giá chủ quan của người viết.
- Giọng văn phải hợp với vấn đề, nhiều khi nhẹ nhàng, chia sẻ, có khi phải
đanh thép, dứt khoát khi bày tỏ về những hiện tượng xấu.
- Đoạn văn: mỗi đoạn văn là một luận điểm, phải xuống dòng và lùi đầu
dòng, chữ đầu tiên phải viết hoa. Đoạn văn có thể được viết theo hình thức
diễn dịch, quy nạp, hoặc tổng phân hợp. HS nên chọn hình thức tổng phân
hợp để diễn đạt cho chặt chẽ.
- Liên kết đoạn văn: các đoạn văn trong bài cần có sự liên kết chặt chẽ với
nhau. Tất cả các đoạn văn trong bài văn bắt buộc phải hướng vào luận đề, làm
rõ luận đề (liên kết nội dung). Tạo liên kết nội dung các em cần chú ý đến
cách sử dụng từ ngữ. Để tạo liên kết hình thức các em cần chú ý đến việc sử
dụng các câu nối, các từ ngữ liên kết đoạn nằm ở đầu mỗi đoạn văn. Tùy theo
mối quan hệ giữa các đoạn mà ta sử dụng từ ngữ liên kết cho phù hợp như:
trước tiên, tiếp theo, không những thế, song, nhưng, tuy vậy, có thể nói, cũng
có khi, cũng cần nói thêm, trở lại vấn đề, nhìn chung, nói tóm lại…

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
- Đối với bài viết của học sinh giỏi, không dừng lại ở những bài nghị luận
xã hội đúng mà còn phải hay, vừa có tính lập luận chặt chẽ, logic, vừa tạo
những xúc cảm đa dạng cho người đọc. Chính vì vậy, muốn có một bài văn
hoàn chỉnh, mỗi phần trong đó đều phải thực hiện tốt nhiệm vụ. Không thể
chỉ chú trọng phần này mà “bỏ quên” phần kia, tạo sự hụt hẫng cho người
chấm.
- Mở bài trong bài văn nghị luận vẫn được xem là “lời chào nhã nhặn” của

+ GV nhấn mạnh phần dẫn dắt phải liên kết chặt chẽ với phần yêu cầu
nghị luận, tránh luẩn quẩn, rời rạc. Muốn viết mở bài tốt, dẫn dắt phù hợp, HS
phải hiểu sâu sắc về đề bài, HS phải trả lời câu hỏi: vấn đề cốt lõi trong đề bài
là gì? Khi hiểu thấu đáo, HS chọn phần dẫn dắt sát vấn đề hơn.
- Thân bài:

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
+ Phần thân bài là tổng hợp của nhiều thao tác: giải thích, phân tích, chứng
minh, bình luận đôi khi là bác bỏ. HS phải hiểu được những đặc trưng riêng
của từng thao tác. Giải thích phải ngắn gọn, súc tích, sáng vấn đề, tránh lan
man; phân tích, chứng minh thì lí lẽ phải sắc sảo, phù hợp; bình luận phải thể
hiện góc nhìn đa dạng, ở nhiều khía cạnh khác nhau, bày tỏ suy nghĩ riêng...
Để sử dụng tốt các thao tác này, GV phải cho HS luyện nhuần nhuyễn từng
phần, sau đó mới chuyển sang phần tiếp theo. Bởi vì, các thao tác này có quan
hệ chặt chẽ, giải thích sáng rõ thì khi phân tích, chứng minh và bàn luận sẽ
cặn kẽ, sâu sắc hơn.
+ Viết phần thân bài cần kết hợp nhiều loại kiến thức, đặc biệt là kiến thức
của bộ môn Giáo dục công dân. HS sẽ không chỉ bày tỏ góc nhìn của một cá
nhân mà còn là của một công dân. Viết phần thân bài phải bám sát vào khung
dàn ý. Khi viết luận điểm nào phải xoáy sâu vào luận điểm đó, sử dụng lí lẽ
cho sắc bén.
+ Cách sử dụng dẫn chứng: khi đưa dẫn chứng phải chọn những dẫn
chứng tiêu biểu, toàn diện, không nên kể quá chi tiết hay sơ sài, liệt kê, phải
dùng lời văn của mình để giới thiệu về dẫn chứng đó; chọn thông tin trong
dẫn chứng phải phù hợp với yên cầu là minh chứng cho đề. Lưu ý, một dẫn

Giang
triển tài năng của mình. Barack Obama có lẽ rất chân thành khi cho ta một
lời khuyên như thế. Vì vậy, không bây giờ thì không bao giờ, hãy bắt tay vào
hành động, hãy thay đổi mình và thay đổi cuộc sống. Biết đâu mai sau, cuốn
lịch vạn niên sẽ ghi dấu một phần tên tôi và tên bạn – những người làm nên
lịch sử loài người?
Ví dụ kết bài cho bài nghị luận về câu chuyện “Hai hạt mầm”, em Trương
Thị Thu Huyền viết: R. Ta – go, nhà thơ Ấn Độ cho rằng “Thà làm một bông
hoa sen nở khi thấy mặt trời rồi mất hết tinh nhụy, còn hơn giữ nguyên hình
nụ búp trong sương lạnh vĩnh cửu của mùa đông”. Lời chia sẻ của R. Ta – go
cũng chính là lời nhắn nhủ phía sau câu chuyện “Hai hạt mầm” – hãy sống
chủ động, mạnh mẽ để tỏa sáng, để sống trọn vẹn với hai chữ con người mà
tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta, để khi khép lại hành trình sống, trong từ
điển cuộc đời mình sẽ không có hai từ nếu như hoặc giá thì...[3]
- Viết bài: Trên cơ sở rèn luyện những kĩ năng viết mở bài, thân bài, kết
bài, giáo viên cho HS viết thành các bài hoàn chỉnh. GV cũng nên nhấn mạnh,
HSG không chỉ tập trung vào việc giải quyết một đề văn mà còn phải bày tỏ,
chia sẻ quan điểm của riêng mình trước vấn đề. Sau đó, HS phải kiểm tra lại
kết quả bài làm.
+ Ngoài các bài kiểm tra thì phần viết bài chủ yếu được HS thực hiện ở
nhà. GV sẽ đọc và nhận xét bài làm cho HS. Sau đó, HS trao đổi bài viết cho
nhau, học tập lẫn nhau để hoàn thiện bài viết và nhất thiết HS phải viết lại nếu
chưa đạt yêu cầu.
2.3.1.7 Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả ôn luyện của học sinh
- Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả ôn tập của HS cũng là một giải
pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả ôn luyện HSG môn Ngữ văn
ở trường THPT. Nó vừa giúp HS hiểu rõ mình đã nắm chắc được những kiến
thức và kĩ năng cơ bản ở mức độ nào theo yêu cầu của chuyên đề nghị luận xã
hội, vừa góp phần quan trọng giúp GV ôn luyện điều chỉnh phương pháp ôn
luyện hợp lý, kịp thời uốn nắn, bổ sung những chỗ hổng về kiến thức, những

Kiểm tra, đánh giá thực sự trở thành động lực thúc đẩy học sinh tích cực,
tự giác, học tập, nâng cao chất lượng và hiệu quả ôn luyện.
2.4 Hiệu quả thu được khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1 Hiệu quả thu được.
Sáng kiến đã được áp dụng thử và áp dụng chính thức tại trường THPT
Thạch Thành 3 từ năm học 2016 – 2017 đến nay đã mang lại nhiều lợi ích
thiết thực.
- Nếu trước khi chưa áp dụng SKKN ít giáo viên còn tỏ ra lúng túng, than
phiền, thậm chí nhiều giáo viên không hoàn thành được nhiệm vụ năm học
khi không có phương pháp dạy chuyên đề nghị luận xã hội, thì kể từ khi áp
dụng sáng kiến này, giáo viên đều cảm thấy chủ động hơn trong việc ôn
luyện. Điều này tạo cơ sở quan trọng để nâng cao thành tích, tiếng vang của
nhà trường, của tổ chuyên môn, và cá nhân trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Những học sinh có tố chất sẽ có điều kiện phát huy khả năng và niềm
đam mê của mình. Nhưng bên cạnh đó, những em chưa từng tham gia đội
tuyển trước đó cũng có cơ hội được học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ
năng và khẳng định được giá trị của bản thân mình. Học sinh hứng thú hơn
khi làm văn nghị luận xã hội, nắm vững các kĩ năng làm văn, tiếp cận được
nhiều dạng đề, từ đó rèn luyện được nhiều thao tác nghị luận.
2.4.2 Sử dụng những giải pháp trong sáng kiến xây dựng thành một tiết
dạy cụ thể trong chương trinh Ngữ Văn 10.
Với nội dung cho phép tôi xin đưa phần giáo án thực nghiệm này vào
phần phụ lục của sáng kiến. Kết quả cụ thể qua các kì thi học sinh giỏi như
sau:
Trước khi áp dụng sáng kiến: Kết quả thi học sinh giỏi tỉnh lớp 20142016
Số học sinh đạt giải
SL đạt
Năm học
giải/SL tham

Nhất
Nhì
Ba
tham gia
4/5

0

2

KK

1

1

2017 - 2018
5/5
0
1
3
1
Từ việc thống kê số lượng học sinh giỏi đạt được qua các năm, điều dễ
thấy là khi chưa áp dụng sáng kiến này kết quả thi học sinh giỏi chưa cao, cả
về số lượng và chất lượng giải. Còn sau khi áp dụng sáng kiến, kết quả thi học
sinh giỏi ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng.
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được khi áp dụng sáng kiến
+ Đề tài có tính mới, khoa học, có hệ thống, thiết thực, phù hợp với định

Phó Hiệu trưởng

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác

Đỗ Duy Thành

.

Hồ Thị Giang

TÀI LIỆU THAM KHẢO
“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”


Sáng kiến kinh nghiệm - Trường THPT ThạchThành 3 - Hồ Thị
Giang
1. [1] Ban tổ chức kì thi, Tổng tập đề thi olympic 30 tháng 4 Ngữ văn
10 NXB ĐHQGHN, 2010-02014
2. [2] Ban tổ chức kì thi, Tổng tập đề thi olympic 30 tháng 4 Ngữ văn
11 NXB ĐHQGHN, 2010-02014
3. Hướng dẫn chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ Văn lớp 10 NXB GD
Việt Nam
4. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn THPT SGD ĐT
Thanh Hóa, 2015
5. Nguyễn Viết Chữ, Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo
loại thể NXB ĐHQGHN, 2001.
6. Sách phương pháp dạy học tác phẩm văn chương của tiến sĩ Nguyễn

Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Thạch Thành 3
Cấp
đánh giá Kết
quả
Năm học
xếp
loại đánh
giá
TT
Tên đề tài SKKN
đánh giá xếp
(Phòng,
xếploại(A,B
loại
Sở,
, hoặc C)
Tỉnh...)
1.
Giờ trả bài kiểm tra là
2009
giờ sửa lỗi chính tả,
Sở
phát âm sai cho học sinh giáo dục
C
dân tộc thiểu số trường và Đào tạo
THPT Thạch Thành 4.
2.
Áp dụng những hình

câu hỏi cảm thụ vào dạy giáo dục
tác phẩm văn học lớp 11 và Đào tạo
nhằm kích thích hứng Thanh

“Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG môn
Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3- Chuyên đề nghị luận xã hội”



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status